Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”,...
Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư (GTTD) của C. Mác có lỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của học thuyết GTTD.
Học thuyết
GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động mà trực tiếp là
việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát
hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt
lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.
Trước C.
Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như
A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản
trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được
những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị -
lao động đạt tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh
tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình
thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.
Các nhà
kinh tế trước C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được
lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có
lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất
hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu
khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng
tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư
bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức
lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị
bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá
trị (quá trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ
GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu
thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.
Tất cả
thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn
gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức,
địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản
bất biến và tư bản khả biến... xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về
tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế... Với học thuyết GTTD, C. Mác
đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của
cái gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.
Học thuyết
GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN
là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN
khác với kinh tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ
khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái
hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên
vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường
hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức
lao động. Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra,
vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước
TBCN. Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê
(hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi
tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản
làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa
thành kinh tế hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời
đại của tư bản công nghiệp.
Phương thức
sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức
là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình
thái GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu
hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao
động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị
nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn
tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột được
nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang hình
thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất
yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc lột bị vật
hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc lột trong chủ
nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.
Như vậy,
điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:
Thứ nhất,
chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo
ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động
đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự
tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;
Thứ hai,
GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản
xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của
xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai
cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu
CNTB bằng một xã hội cao hơn.
Thứ ba,
chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động,
chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để
nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh
hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác
vẫn còn nguyên giá trị.
Học thuyết
GTTD của C. Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã
vấp phải sự phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB.
Còn
nguyên giá trị trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
Ngày nay,
CNTB đương đại tuy đã có những bước phát triển mới, có sự điều chỉnh ở mức độ
nào đó về chế độ sở hữu, quản lý và phân phối, về kiến trúc thượng tầng, nhất
là về hệ thống pháp luật và sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản độc quyền,...
để tồn tại và thích nghi với bối cảnh mới. Nhưng học thuyết GTTD của C. Mác vẫn
còn nguyên giá trị, bởi bản chất bóc lột của CNTB vẫn hiện hữu, không hề thay đổi.
Từ nửa
sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển với tốc
độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng
này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân,
công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới,
công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin,... đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển
công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học.
Trong thời
đại “hậu công nghiệp” hay “xã hội thông tin” ngày nay, lý lẽ đưa ra để bác bỏ
lý luận GTTD có vẻ “thuyết phục” hơn. Ở các nước tư bản phát triển, mức sống của
đại đa số công nhân được nâng cao hơn trước rất nhiều, một số công nhân đã có cổ
phiếu trong các xí nghiệp, công ty tư bản, xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo.
Vì thế, nảy sinh luận điệu không còn có sự “phân biệt tư bản và lao động”,
“không ai bóc lột ai”, CNTB nếu còn bóc lột thì chỉ bóc lột “người máy”. Vì
trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không
cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra
tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân,...
Những luận
điểm “mới mẻ” ấy quả thật cũng có sự hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được sự
thật. Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới, biến đổi về lượng
và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi.
Ngày nay,
CNTB tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối
để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của CNTB tư
nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà
nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội,
nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm
và luận điểm phản ánh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế - xã hội mới nhất
bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không
phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao
động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra GTTD trong thời đại
kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng
vậy.
Tuy
nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát
triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao
động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột GTTD. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật
GTTD ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế
tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột
GTTD tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất
GTTD có những đặc điểm mới:
Một là,
do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng GTTD được
tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp
dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một
đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống
hơn. Hơn nữa, nhà tư bản thông qua sử dụng ồ ạt các thiết bị tự động hóa, đem
khoa học - kỹ thuật hiện đại ứng dụng với
quy mô lớn vào sản xuất, đã nâng cao rất nhiều lần năng suất lao động. Vì thế,
họ thuê ít công nhân hoặc không thuê công nhân điều khiển máy móc mà vẫn có thể
giành được GTTD nhiều hơn. Sự thực đó cũng không thể phủ định lý luận giá trị
lao động và nguyên lý cơ bản của lý luận GTTD, tức là giá trị và GTTD đều do
lao động sống của người lao động sáng tạo ra, lao động sống là nguồn gốc duy nhất
của giá trị và GTTD. Các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, kỹ thuật,
công nghệ,... kể cả người máy) đều không tạo ra giá trị và GTTD.
Trong nền
kinh tế công nghiệp trước đây đã như thế thì ngày nay, trong điều kiện kinh tế
tri thức cũng như vậy. Ai cũng biết, khoa học - kỹ thuật và thiết bị tự động
hóa, cùng yếu tố sản xuất khác đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc
về TLSX và điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất TBCN. C.
Mác chưa bao giờ phủ định “tác dụng quan trọng” của tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất. Khi trình bày sự hình thành giá trị và làm tăng thêm giá trị,
C. Mác khẳng định tiền đề của nó là TLSX (nguyên liệu và tư liệu lao động)
không thể thiếu của sản xuất GTTD.
Dù máy
móc tự động hóa đã thay thế lao động trực tiếp và một bộ phận lao động trí óc của
con người, nhưng không thay thế được địa vị lao động của con người, càng không
thể thay đổi địa vị chủ thể của con người trong quá trình sản xuất.
Do đó, bất
cứ lao động nào, dù là lao động giản đơn hay lao động trí tuệ mà không được trả
công tương xứng với giá trị mà lao động đó sáng tạo ra (sau khi trừ các khoản
chi phí cần thiết) trong TBCN đều bị bóc lột GTTD.
Hai là,
cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn.
Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập
trình, nhà khoa học phát minh, sáng chế, nhà quản trị và công nghệ hiện đại),
nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn,
lao động cơ bắp, dẫn đến lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao
ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra GTTD. Thu nhập chủ yếu của
nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ
phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ,
nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối
lượng GTTD đã tăng lên rất nhiều.
Sự điều
chỉnh của CNTB độc quyền nhà nước và của CNTB độc quyền nhà nước quốc tế đã làm
cho sự bóc lột GTTD mang tính hai mặt: vừa tăng cường, vừa hạn chế. Tăng cường
vì có môi trường đầu tư thuận lợi: cung cấp TLSX, chỉ dẫn và định hướng quá
trình sản xuất GTTD; điều chỉnh dòng chảy GTTD tư bản hóa,... Hạn chế vì sử dụng
các luật lệ, chính sách để điều chỉnh khi sự bóc lột của các công ty tư bản
“quá ngưỡng” có thể xảy ra nguy cơ xung đột về chính trị và xã hội. Ngày nay, sự
điều tiết phân phối GTTD của các nhà tư bản qua thuế, quỹ phúc lợi xã hội, bảo
hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... cũng tạo nên một số thu nhập nào đó cho
người lao động.
Sự xuất
hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại
bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động
đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội
hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX.
Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho
người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời
gian lao động trong tuần,... dường như là chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động.
Nhưng đó
là cách nhìn phiến diện, không thấy đằng sau, phía trước sự phát triển ấy là
gì. Trước hết phải thấy rằng, CNTB đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận
hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất
này. Tê-ry I-gơ-le-tơn - học giả người Anh đã nhận định: “Những nước tư bản hiện
đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách
ghê tởm”. Lật lại các trang lịch sử của nó là sẽ thấy những gì mà chế độ tư bản
đã đối xử với đồng loại của mình. Vì chế độ thực dân xâm lược mà cuối thế kỷ
XIX, hàng chục triệu người Ấn Độ, các nước châu Phi, Trung Quốc, Bra-xin, Triều
Tiên, Nga, Việt Nam và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán, dịch bệnh. Và
ngay trong lòng các nước tư bản giàu có hiện nay, ai dám chắc mọi người dân đều
có cuộc sống tốt đẹp? Nếu khẳng định được thì tại sao ngay tại nước Mỹ hùng mạnh,
phát triển, hiện đại, vẫn còn tồn tại các khu nhà ổ chuột của người da đen và
người nhập cư?
Ba là, điểm
cần lưu ý, xem xét quan hệ bóc lột của CNTB ngày nay không chỉ bó hẹp trong
quan hệ giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê ở các nước TBCN, mà phải xem
xét cả quan hệ thống trị, bóc lột của các nước phát triển với các nước kém và
đang phát triển, thể hiện ở sự phân hóa hai cực: giàu, nghèo của thế giới. Bởi
vì, sự bóc lột GTTD của CNTB đã mang “tính quốc tế”.
Ngày nay,
trong điều kiện toàn cầu hóa, CNTB độc quyền nhà nước quốc tế, thông qua các
hình thức, như xuất khẩu tư bản, di chuyển lao động từ nước này sang nước khác,
việc bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong
các quan hệ thương mại quốc tế, sự xuất hiện cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh
tế, sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước
nghèo,... khiến cho việc sản xuất GTTD mang tính quốc tế, được tư bản hóa, được
xuất khẩu để quốc tế hóa tư bản với sự đa dạng của các hình thức sản xuất ra
nó.
Bốn là,
những sự “điều chỉnh” để thích ứng của CNTB tuy có tác động tới sự phát triển,
song đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm
cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Tích
tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều
đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng
cường bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở
thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của
C. Mác khi nói rằng đi kèm sự phát triển của CNTB là hiện tượng tăng tư bản bất
biến (dùng để mua TLSX) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế
“đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của CNTB. Sự phân cực
trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội
ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực
tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm
vi thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức phi chính phủ Oxfam được công bố trong bối
cảnh các lãnh đạo chính trị và kinh tế thế giới tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới
diễn ra tại Đa-vốt, Thụy Sĩ từ ngày 21-1 đến ngày 25-1-2019, 26 tỷ phú giàu nhất
thế giới đang nắm lượng tài sản tương đương tổng tài sản của 3,8 tỷ người nghèo
nhất thế giới trong năm 2018. Báo cáo trên còn cho biết, ước tính 1% người giàu
nhất thế giới đang nắm giữ 42% tài sản của thế giới; trong khi đó, 99% dân số
còn lại chỉ nắm giữ 58% tài sản thế giới.
Hiện nay,
trong phạm vi quốc gia, CNTB hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật
đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá
trình “điều chỉnh” của CNTB tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa
các mâu thuẫn hiện tại của nó, CNTB tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này được tiến hành
trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản
xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,... Vì thế, việc
nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ
30% - 60% thu nhập quốc dân và sử dụng một
phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong
người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.
Những
phân tích trên đây chưa thể nói lên tất cả những mâu thuẫn, xung đột ngày càng
gay gắt trong lòng xã hội tư bản hiện nay, nhưng cũng đã phác họa được bức
tranh khái quát về những hình thức biểu hiện mới của vấn đề bóc lột của tư bản
đối với lao động trên toàn thế giới. Nhưng, dù những hình thức bóc lột có biến
tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với
lao động vẫn là bóc lột GTTD - tức là bóc lột lao động sống của người lao động
chứ không thể bóc lột lao động “chết” của máy móc được. Do vậy, nói một cách
khác, học thuyết GTTD vẫn còn nguyên giá trị, CNTB vẫn giữ nguyên bản chất bóc
lột của nó.
Luận điểm
của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chế độ người bóc lột người trong xã hội tư bản vẫn
giữ nguyên giá trị khoa học. Mặc dù đã có sự thay đổi và điều chỉnh, song có thể
khẳng định: bản chất bóc lột của CNTB không thay đổi; khi nào những mâu thuẫn
trong lòng xã hội tư bản còn tồn tại thì khi ấy, học thuyết GTTD vẫn sẽ mãi là
ánh sáng chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và loài người khỏi
mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột của CNTB./.

Bài viết rất hấp dẫn
Trả lờiXóa