Cứ mỗi dịp bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND), các phần tử chống phá đều ráo riết thực hiện chiêu trò tự ứng cử. Khi biết chắc không đạt được mục đích, chúng dùng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc công tác bầu cử nhằm làm giảm niềm tin của cử tri, phá hoại bầu cử. Để lật tẩy những chiêu trò đội lốt “tự ứng cử” của những phần tử phản động, mỗi người dân cần hiểu đúng về quyền ứng cử.
Quyền ứng cử là quy định của pháp luật
về việc công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử
ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND.
Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 cho đến tất cả những
bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở
lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND
(Điều 18, Hiến pháp năm 1946; Điều 23, Hiến pháp năm 1959; Điều 57, Hiến pháp
năm 1980; Điều 54, Hiến pháp năm 1992; Điều 27, Hiến pháp năm 2013).
Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định công dân Việt
Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Luật quy định rõ:
“Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư
trú hoặc công tác thường xuyên” (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và
đại biểu HĐND).
Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử
ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng nêu rõ:
“Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử,
bầu cử theo quy định của pháp luật”.
Những trường hợp không được ứng cử quy định tại Điều 37, Luật
Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết
định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù,
người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị
can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; người đã chấp
hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích;
người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị
trấn).
Theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng
cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội;
người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định
tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng
đủ tiêu chuẩn mới có tên trên danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử sau hội nghị
hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công
tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp
biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND.
Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để MTTQ Việt
Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu
chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ nhằm sàng lọc và loại bỏ
những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu
cử.
Mọi người dân hãy mang hết tinh thần trách nhiệm để bầu được những người có đức, có tài vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Trả lờiXóa