Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021
Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân.
Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu.
Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Mọi người dân hãy mang hết tinh thần trách nhiệm để bầu được những người có đức, có tài vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Trả lờiXóa