Dân
tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất:
Thứ
nhất, chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung
sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau
bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ
tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.
Thứ
hai, chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ
quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn
hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và
giữ nước.
Với
ý nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia. Ví dụ: dân tộc Tày,
Thái, Mường, Kinh của Việt Nam; dân tộc Choang, Hán của Trung Quốc. Với ý nghĩa
thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam,
dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ. Trong chuyên đề này dân tộc được hiểu theo
nghĩa thứ nhất.
Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc,
dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến
01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân
số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển
trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư
đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn
gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt -
Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc
Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán
chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia
có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác
như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ... sang làm
việc, sinh sống tại Việt Nam.
Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết.
Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để
xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân
tộc Việt nam.
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều
dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều
truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc;
truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người
Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng
người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân
lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha
xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc
thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.
Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có
nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song
dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong
tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh
gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên
nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.
Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận
lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên
hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước
nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại,
hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi,
đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và
giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân
tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.
Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên,
nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do
Việt Nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây
của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị
có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và
tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử
chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh
chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy
mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên
chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.
Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là
truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn
năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,
truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Những thành tựu đạt được trong quá trình
đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở
Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy
sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng
được tăng cường.
Bài viết rất hay
Trả lờiXóa