Trước
khi hy sinh, đồng chí nhắn nhủ với những người bạn tù: “Nhờ các đồng chí nói
với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở
thắng lợi vẻ vang của cách mạng”.
Từ
ngày về Nam Bộ hoạt động, mật thám Pháp theo dõi sát sao và lùng bắt bằng được
đồng chí vì kẻ địch biết rõ đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản
và là một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta.
Ngày
22-6-1939, đồng chí bị sa vào tay giặc và bị Toà tiểu hình Sài Gòn kết án 6
tháng tù, 3 năm cấm cư trú. Ngày 29-8-1939, Toà thượng thẩm Sài Gòn xử y án.
Hết hạn tù, ngày 23-12-1939, đồng chí Lê Hồng Phong được thả nhưng bị trục xuất
khỏi Nam Kỳ, áp giải về quê.
Đầu
năm 1940, dù Lê Hồng Phong đang bị quản thúc tại quê nhà, nhưng để hạn chế hoạt
động và ảnh hưởng của đồng chí, Toà án Pháp kết tội đồng chí “hoạt động lật đổ”
và ra trát dẫn độ về Sài Gòn. Ngày 22-10-1940, Toà thượng thẩm Sài Gòn kết án
đồng chí 5 năm tù, mất quyền công dân và chính trị, 10 năm cấm cư trú vì “hoạt
động lật đổ”. Cuối năm 1940, sau một thời gian đồng chí bị giam giữ ở Sài Gòn,
địch đày đồng chí ra Nhà tù Côn Đảo. Đồng chí đã cùng các chiến sĩ cộng sản
trong tù tiếp tục đấu tranh, giữ vững khí tiết trước đòn roi tra tấn dã man của
kẻ thù. Đồng chí hy sinh ngày 6-9-1942 khi vừa tròn 40 tuổi. Trước khi hy sinh,
đồng chí nhắn nhủ với những người bạn tù: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng,
tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ
vang của cách mạng”.
Hai
vợ chồng, hai người đồng chí, hai nhà lãnh đạo của Đảng: Lê Hồng Phong, Nguyễn
Thị Minh Khai đã cùng các đồng chí khác viết nên trang sử vàng vẻ vang của Đảng
và cách mạng Việt Nam. St
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét