Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta giành thắng lợi”. Tư tưởng của Người thực tế đã và đang minh chứng rõ nét, đồng thời sẽ mãi mãi tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, góp phần hiện thực hóa mong ước của Người về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, phồn vinh và thịnh vượng. Nhưng quá trình đó, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng bảo vệ, không ngừng vận dụng và tiếp tục phát triển tư tưởng của Bác trong tình hình mới.
Giai đoạn
hiện nay, cục diện thế giới đang có những sự chuyển biến nhanh, phức tạp chưa
từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc và phân tuyến mạnh; cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực sẽ ngày càng gay
gắt cả về phạm vi, cường độ. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn,
song đang đứng trước nhiều thách thức mới, phức tạp hơn. Toàn cầu hóa và liên
kết kinh tế vẫn tiến triển dưới nhiều hình thức và nội dung mới, dù đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức lớn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là
công nghệ trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, rô-bốt, internet vạn vật, chuyển đổi
số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn,… tiếp tục phát
triển mạnh và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực.
Khu vực châu
Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động,
song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiềm
ẩn nguy cơ xung đột. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển
Đông diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột.
ASEAN tiếp tục tăng cường hợp tác, liên kết, song sẽ phải đối mặt với nhiều
thách thức mới cả bên trong và bên ngoài.
Đó là quá
trình không ngừng liên kết, tăng cường hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau của các quốc
gia, dân tộc trên thế giới, ở từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đây là xu
thế phát triển tất yếu của nhân loại, gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, thúc đẩy sự kết nối và mối quan hệ trên nhiều mặt giữa các nước, vừa
hợp tác, vừa cạnh tranh. Hội nhập quốc tế, vì vậy, cũng trở thành một điều tất
yếu, mà khó quốc gia nào có thể bỏ qua nhằm theo đuổi lợi ích của mình, thông
qua việc liên kết ngày càng sâu rộng với các quốc gia và tổ chức khác trên thế
giới. Bởi vậy, dù muốn hay không, các nước cũng khó có thể cưỡng lại được quá
trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quá trình đó cũng có mặt trái,
đặc biệt là sự chi phối bởi các cường quốc, nhất là các nước tư bản phát triển,
bởi vậy, khó tránh khỏi sự áp đặt chi phối không chỉ về kinh tế, chính trị mà
cả mặt văn hóa, tư tưởng… Điều đó đặt ra thách thức cho những nước nhỏ, yếu, đang
phát triển trong việc bảo vệ con đường phát triển riêng của mình, cũng như bản
sắc văn hóa và đặc thù về tư tưởng.
Sự phát triển
mạnh mẽ, có tính chất bùng nổ của khoa học công nghệ đã và đang có ảnh hưởng trực
tiếp, sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội. Nó tác động vô cùng lớn đến cơ
cấu và động thái, ảnh hưởng đến tận gốc rễ sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, tạo nên sự
gắn kết chặt chẽ chưa từng có từ trước đến nay giữa các lĩnh vực khoa học công
nghệ, vật lý, kỹ thuật, sinh học, sự kết nối giữa hệ thống thực và ảo, kết nối
vạn vật. Nó cũng là một yếu tố góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế, đưa loài người đứng trước sự phát triển và thay đổi chưa từng có.
Nó đang mang lại những lợi ích to lớn, hữu ích cho nhân loại trên tất cả các
mặt, nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra những thách thức cho các quốc gia dân tộc.
Những năm tới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng tình hình sẽ còn
nhiều diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó dự báo. Sự biến chuyển
của thế giới có thể đem đến những bất ngờ do sự va chạm lợi ích của các nước,
các bên trên thế giới, chính sách áp thuế đối với nước ngoài, không loại trừ
dẫn đến cuộc chiến về kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Các cường quốc
vẫn chi phối cục diện thế giới và cạnh tranh với nhau quyết liệt trên mọi mặt
làm ảnh hưởng không nhỏ tới những nước yếu thế hơn. Bên cạnh đó, những thách
thức của an ninh phi truyền thống ngày càng tác động mạnh mẽ đến các mối quan
hệ trên thế giới. Nhân loại đang phải đối mặt với những vấn đề toàn cầu và
không ít những “nghịch lý”. Việc mở rộng hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ của các
quốc gia sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam xây dựng, nâng cao tiềm lực khoa học công
nghệ phục vụ cho các mục đích kinh tế và quốc phòng. Tuy nhiên, bên cạnh đó,
tình hình thế giới, khu vực thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường, gây
nhiều khó khăn trong dự báo chính xác để thực sự chủ động giải quyết những hạn
chế, thách thức. Nguy cơ phân hóa nội bộ và suy giảm vai trò của ASEAN xuất
phát từ các yếu tố nội bộ và sự “giằng xéo” của các nước lớn đặt ra không ít
thách thức với Việt Nam khi xử lý các mối quan hệ. Các vấn đề an ninh phi
truyền thống, trong đó có vấn đề quản lý không gian mạng toàn cầu đặt ra thách
thức, nguy cơ mới đe dọa an ninh các quốc gia.
Trong nước, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngày càng phát triển, khẳng định sự đúng
đắn trong đường lối, quan điểm của Đảng ta. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, việc
hình thành, hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia
đình và chuẩn mực con người Việt Nam sẽ đóng vai trò định hướng, thống nhất ý
chí, tình cảm và định hướng phát triển bền vững đất nước. Độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc sẽ tiếp tục
được bảo vệ vững chắc. Mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện; hệ thống chính trị ngày
càng được củng cố vững mạnh; năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của
Đảng ngày càng được nâng cao.
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt
Nam cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên. Việt
Nam đã gia nhập nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao. Nền
kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao so với mức bình
quân của thế giới. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày
càng được hoàn thiện theo hướng đông bộ, hiện đại và hội nhập. Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân
dân được nâng cao; tiến bộ và công bằng xã hội ngày càng được đảm bảo tốt hơn.
Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đang đóng góp tích cực vào xây dựng,
phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo,
cầm quyền của Đảng ngày càng được đổi mới và nâng cao. Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, năng lực quản lý - quản trị phát triển
được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại.
Tuy nhiên, trong thời gian tới,
đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt,
nặng nề hơn so với giai đoạn trước: Phát triển kinh tế - xã hội chưa bền vững;
nhiều điểm nghẽn, nút thắt chưa được tháo gỡ. Xu hướng già hóa dân số tăng
nhanh; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gay gắt, phức tạp; bảo
vệ độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích khác ở Biển Đông… còn nhiều
thách thức. Bốn nguy cơ có mặt còn diễn biến phức tạp hơn. Các thế lực thù địch,
phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Quá
trình phát triển là quá trình không ngừng giải quyết các mâu thuẫn, quá trình
không ngừng nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức và không ngừng hoàn thiện hệ
lý luận, hệ quan điểm, hệ giá trị và đường lối định hướng chung. Muốn vậy phải đứng
vững trên nền tảng lý luận cách mạng, soi chiếu vào bối cảnh tình hình mới,
không ngừng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận đã có để tiến
cùng thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng, vẫn luôn
là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho Đảng trong tiến trình hoạch định đường lối
đổi mới. Tuy nhiên, để đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển, tư tưởng Hồ Chí
Minh cần phải được tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển hơn nữa.
Trong quá trình đổi mới,
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã góp
phần khôi phục, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ, đồng thời
tạo tiền đề quan trọng để ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
và “diễn biến hòa bình” ngay từ khi mới manh nha. Bên cạnh đó, bối cảnh mới
cũng đặt ra không ít thách thức gắn liền với những hạn chế trong phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tình trạng tiêu cực trong cán bộ,
đảng viên còn diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ
từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ
ta, trong đó có vấn đề tư tưởng lý luận. Chúng thực hiện điều đó ngày một tinh
vi hơn, xảo quyệt hơn, với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau và triệt để lợi
dụng thành tựu khoa học công nghệ để thực hiện. Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh
là một nội dung trọng điểm mà chúng tập trung chống phá. Nếu tình trạng này
không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng,
sự tồn vong của chế độ.
Sự vu
khống, xuyên tạc đối với tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề mới, nó đã
diễn ra ngay khi Người còn sống, khi Việt Nam còn bị chia cắt làm hai miền Nam,
Bắc với hai chế độ chính trị khác nhau. Nhưng trong thời gian gần đây, phương
pháp và thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi hơn. Nếu trước đây thường là sự phủ
định sạch trơn, thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn tính đúng đắn, sáng tạo,
nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì nay chúng lại vừa thừa nhận vừa phủ nhận,
trong vô vàn cái đúng đắn, hiển nhiên chúng lồng ghép một vài cái phi lý, sai
trái. Đó là cách thức thừa nhận cái này, phủ nhận cái khác; thừa nhận cái nhỏ,
phủ nhận cái lớn; thừa nhận những yếu tố không cơ bản để phủ nhận cái cơ bản.
Thừa nhận giá trị lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị hiện thực; thừa nhận sự
đúng đắn trong quá khứ trên một số phương diện nhưng lại cho rằng không còn phù
hợp với hiện tại. Các thế lực thù địch phản động đã chuyển chiến thuật từ tấn
công trực diện, ồ ạt, sang chiến thuật gián tiếp theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”,
với chiến lược lâu dài, tấn công vào nhiều thế hệ, nhiều giai tầng, ở nhiều
nơi, không chỉ trong nước mà chú trọng nhiều hơn đến người Việt Nam ở nước
ngoài và tập trung vào thế hệ trẻ. Bởi vậy, đi đôi với phát triển, cần phải
tích cực bảo vệ tư tưởng của Người với những cách thức mạnh mẽ, quyết liệt và
sáng tạo hơn, phát huy tối đa những thế mạnh sẵn có.
Trong thời gian tới, trong bối
cảnh mới, việc kiên định và vận dụng, bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
cần được tiến hành toàn diện ở tất cả các nội dung cấu thành, ở cả phương diện
bảo vệ, khẳng định và vận dụng, phát triển. Trong đó, tập trung vào một số nội dung
cơ bản sau:
Một là, phải tiếp tục làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định
đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự
nghiệp đấu tranh của Nhân dân để giành thắng lợi. Điều đó có nghĩa, cần phải tiếp
tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, và trên cơ sở những
thành tựu nghiên cứu đó, khái quát và xây dựng một diện mạo hoàn chỉnh về tư tưởng
Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần tiếp tục phân tích, đánh giá, khẳng định giá trị của
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như của từng nội dung tư tưởng cụ thể đối với
lịch sử, hiện tại và tương lai phát triển, đổi mới, đánh dấu thời điểm đất nước
ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu vận dụng, bổ sung, phát triển những
quan điểm của Hồ Chí Minh gắn với điều kiện lịch sử, cụ thể. Trong đó, cần phải
nhận thức rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh là đúng, nhưng đúng trong thời điểm
mà nó ra đời, những quan điểm của Hồ Chí Minh đã đúng và đang đúng nhưng cần bổ
sung thêm, những quan điểm của Hồ Chí Minh trước đây đúng, nay vẫn đúng và
tương lai cũng vậy. Đồng thời, cần đi sâu nghiên cứu làm sâu sắc thêm những luận
điểm mà Hồ Chí Minh chưa có điều kiện để đi sâu làm rõ.
Ba là, cần tăng cường đi sâu hơn nữa việc phân tích và làm rõ những
quan điểm cụ thể trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ trong giáo dục mà trong cả
việc thực hiện “Lời Bác dạy ngày này năm xưa”. Trong di sản tư tưởng đồ sộ của
Hồ Chí Minh, có rất nhiều quan điểm cụ thể. Trong đó, cần làm rõ quan điểm ấy
được ra đời trong điều kiện hoàn cảnh nào, với hàm ý gì và vai trò của quan điểm
đó với lịch sử, cũng như hiện nay và cần phải vận dụng như thế nào. Phải hiểu
rõ đâu là nội dung có tính lịch sử, đâu là nội dung có tính xuyên suốt trong tư
duy, tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh. Qua đó, làm cho quá trình học tập, vận
dụng tư tưởng của Người có ý nghĩa thiết thực. Đồng thời, là yếu tố cần thiết để
nắm vững giá trị trong tư tưởng của Người. Nó cũng đặt ra những vấn đề mới, nhiệm
vụ mới trong nghiên cứu, vận dụng, học tập, bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.
Bốn là,
cần phải dựa trên tinh thần của Hồ Chí Minh để phát triển tư tưởng của Người
cho phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội. Người luôn coi lý luận là
kim chỉ nam cho hành động chứ không phải là kinh thánh. Do đó, cần phải nắm vững
lập trường, bản chất, phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh để bổ sung, phát triển
những quan điểm của Người. Đất nước không ngừng phát triển, nhân loại vẫn không
ngừng tiến về phía trước, những nhân tố mới không ngừng xuất hiện, nên Chủ tịch
Hồ Chí Minh dù là thiên tài, chúng ta không có quyền là đòi hỏi ở Người mọi điều.
Vậy nên, trên cơ sở di sản lý luận của Bác, chúng ta cần tăng cường tổng kết thực
tiễn, bổ sung làm giàu thêm lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt
ra. Đó vừa là bảo vệ vừa là phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bản thân tôi
luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó phải nỗ lực học tập và rèn luyện tốt để
cống hiến sức lực và tri thức cho đất nước. Nêu cao tinh thần cảnh giác với các
thế lực thù địch, không để những cám dỗ về vật chất tác động đến bản thân, làm
suy giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Tin tưởng và trung thành tuyệt đối vào sự
lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Thường xuyên
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, kiên định với
đường lối xã hội chủ nghĩa, với lý tưởng của Đảng, với niềm tin của Nhân dân.
Thường xuyên nâng cao hiểu biết, nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm quy định pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân
đội và mọi quy định của địa phương. Đề cao ý thức, trách nhiệm phụng sự Tổ
quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự, sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật.
Vận động nhân
dân và người thân chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia vào các
tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, làm suy thoái tư tưởng chính
trị. Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch, kiên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong tư tưởng, lối sống. Vận động, tập hợp và thực hiện có hiệu
quả các chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo; nắm chắc tình hình, chủ
động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, báo cáo, tham mưu xử lý dứt điểm những
điểm nóng, vụ việc phức tạp. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, củng cố mối
quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân và dân, góp phần xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc. Đẩy
mạnh thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo” vì mục tiêu xây dựng, bảo
vệ và phát triển đất nước.
Không ngừng nêu
cao vai trò, trách nhiệm trong thực hiện công tác tham mưu cho cấp ủy, chi bộ,
quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của các cấp ủy Đảng; chỉ đạo
triển khai toàn diện, có hiệu quả các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu;
xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững
mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; trong
thực hiện công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân, trong các nhiệm vụ đột
xuất; xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân của đơn vị, cũng như trong đẩy mạnh học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với đấu tranh bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Kiên định,
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đường lối đổi mới của Đảng; kiên
định các nguyên tắc tổ chức và xây dựng Đảng.
Kết hợp chặt
chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp
thời các hành vi vi phạm; trong đó, phòng ngừa là chính, là cơ bản, lâu dài,
phát hiện, xử lý là quan trọng, đột phá. Chú trọng xây dựng và thực hiện nghiêm
chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử trong đơn vị. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao
hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực, chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn
mới, xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực trong cán bộ, đảng viên và trong quần chúng. Nhận diện, phân biệt rõ đối
tác, đối tượng, không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của
các thế lực thù địch; nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục tiêu, nhiệm vụ chính trị
trọng tâm, thường xuyên của đơn vị. Tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch, nhất là trên Internet, mạng xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi
những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thường xuyên
tham mưu, đề xuất với cấp ủy cấp trên cũng như theo dõi, chỉ đạo cấp dưới thuộc
quyền trong chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá tình hình, diễn biến tư tưởng
của cán bộ, đảng viên, đoàn viên; tham mưu, đề xuất giải quyết kịp thời, ổn
thỏa những vấn đề tư tưởng nảy sinh, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong cấp
ủy, tổ chức đảng, sự đồng thuận trong đơn vị. Tăng cường xây dựng, củng cố mối
quan hệ đoàn kết, thống nhất; nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức
đảng. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức cần được đặc biệt coi trọng. Việc giáo
dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành chặt chẽ với đẩy mạnh học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải
tích cực “tự soi”, “tự sửa”, nêu cao tính tiền phong gương mẫu, danh dự, lòng
tự trọng của người đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tích cực biểu dương điển
hình, tấm gương sáng, đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc, xử lý nghiêm hành
vi vi phạm. Cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị phải chỉ đạo, tổ chức thực hiện
nghiêm túc việc thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương, kiểm điểm tự
phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII,
Kết luận Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính
trị.
Như vậy, kiên định và vận dụng, bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề vừa cấp bách vừa lâu lài, là đòi hỏi tất yếu của cuộc sống, sự phát triển đổi mới của đất nước, cũng như sự nghiệp cách mạng của Đảng. Thường xuyên coi trọng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận giúp nhìn nhận rõ sự chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực tác động đến đất nước, giúp nhìn nhận rõ bản chất khoa học, tầm nhìn sáng suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, nhằm khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm khẳng định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần phải chuyển biến rõ rệt hơn, chủ động hơn, quyết liệt hơn. Đây là một quá trình cần phải được nghiên cứu công phu, kế hoạch bài bản và tiến hành nghiêm túc, có chất lượng, thiết thực với những cách thức đa dạng, linh hoạt, nhạy bén. Điều đó, đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị dưới sự lãnh đạo của Đảng phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao và tiếp tục vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét