Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh đoàn kết luôn là nhân tố quyết định để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập và xây dựng Tổ quốc. Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta càng nhất quán khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu. Thực tiễn đã chứng minh, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chăm lo cho đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ là lời cam kết trên giấy, mà đã trở thành hành động cụ thể, gắn liền với đời sống hằng ngày của nhân dân.
Trước hết, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Từ nguyên tắc này, hệ thống pháp luật đã được xây dựng đồng bộ, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 là minh chứng sinh động, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo chân chính. Hiện nay, Đến nay, cả nước có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng và sôi nổi với hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo. 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa, nâng cấp; hàng trăm lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo lớn nhỏ được tổ chức thường xuyên, đông đảo tín đồ tham gia trong không khí trang trọng, an toàn. Những con số đó bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc rằng Việt Nam “hạn chế” hay “đàn áp” tôn giáo.
Song song với chính sách tôn giáo, Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác dân tộc có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Đảng ta khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Điều này không chỉ thể hiện trong cương lĩnh, nghị quyết, mà còn được cụ thể hóa bằng hàng loạt chương trình, chính sách lớn như: Chương trình 135 hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững ở 62 huyện nghèo; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, với tổng vốn đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng. Nhờ đó, diện mạo nông thôn miền núi đổi thay rõ rệt, kết cấu hạ tầng được đầu tư, trường học, bệnh viện, đường giao thông, điện, nước sạch ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.
Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, trình độ dân trí được nâng lên, phong tục, tập quán tốt đẹp được bảo tồn và phát huy. Nhà nước quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền tham gia quản lý xã hội, thực hiện bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào. Những chính sách này không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn tăng cường niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền lợi hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số còn được thể hiện rõ qua sự tham gia tích cực của các tổ chức tôn giáo, cộng đồng dân tộc trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo. Nhiều chức sắc, tín đồ, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng đã trở thành cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí ở nước ngoài vẫn cố tình bóp méo sự thật, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số”. Đây chỉ là chiêu trò chính trị quen thuộc, nhằm gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Thực tiễn sinh động trong nước đã và đang bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Nhân dân các dân tộc, đồng bào có đạo và không có đạo đang ngày càng gắn bó, đoàn kết, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.
Có thể khẳng định rằng, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền lợi hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam không chỉ là quan điểm nhất quán mà còn là thực tiễn sinh động, đã và đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với truyền thống lịch sử, với yêu cầu phát triển bền vững, và cũng là minh chứng cho cam kết của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có sự hòa hợp giữa các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không có đạo chính là sức mạnh nội sinh to lớn nhất để Việt Nam vượt qua khó khăn, thách thức, kiên định con đường đổi mới, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
Yêu nước ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét