Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc


Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong tình hình mới đang đứng trước những cơ hội thuận lợi và không ít khó khăn, phức tạp, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc của Đảng; trong đó, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” là quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt.

     Tại sao khẳng định đây là quan điểm cơ bản, quan trọng của Đảng ta? Trước hết là bởi, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Sự nghiệp cao cả đó phải thường xuyên được coi trọng, không được lơi lỏng và phải gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Điều đó, xuất phát từ tình hình quốc tế và trong nước, nhất là những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ khó dự báo, sự chống phá quyết liệt, bằng nhiều hình thức của các thế lực thù địch đối với nước ta; đồng thời, từ bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ lịch sử và đã trở thành quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta, đó là: “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Những lý do trên nói lên tầm quan trọng của quan điểm này. Hơn thế, kết quả thực hiện quan điểm đó có quan hệ trực tiếp tới sự tồn vong của chế độ, đất nước, dân tộc. Vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, thuận lợi và khó khăn ra sao, chúng ta cũng phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của các thế hệ người Việt Nam cả trước đây, hiện nay và mai sau.

     Để quán triệt sâu và thực hiện tốt quan điểm, có nhiều việc cần làm, phải làm; trước hết và quan trọng nhất là phải nhận thức đúng, đầy đủ nội hàm quan điểm. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc là một thể hoàn chỉnh, thống nhất, gắn chặt với nhau, nên không được xem nhẹ bất cứ một nội dung nào. Trong đó, bảo vệ độc lập là nguyên tắc tối thượng. Để giành và giữ được độc lập, có được cuộc sống tự do, hạnh phúc và là chủ thể đất nước như hiện nay, nhân dân ta đã phải trả một cái giá không hề rẻ bằng cả máu, mồ hôi và nước mắt của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; và rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Đó là chân lý, lời hiệu triệu toàn dân của Người - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Và, trong thời điểm tình thế ngặt nghèo của đất nước năm 1946, trước khi lên đường dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Người đã căn dặn các đồng chí lãnh đạo của Đảng: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái “bất biến” ở đây chính là “độc lập”, dù tình hình khó khăn, phức tạp đến đâu cũng phải giữ cho được “độc lập”, đó là nguyên tắc chiến lược, vấn đề căn bản nhất để “ứng vạn biến”. Trong chừng mực nào đó, chúng ta có thể nhân nhượng, thậm chí thỏa hiệp, nhằm đạt được mục tiêu của cách mạng, nhưng sự nhân nhượng, thỏa hiệp đó tuyệt đối không được làm ảnh hưởng tới độc lập, tự do của dân tộc; hơn thế, còn phải góp phần vào giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ là vấn đề sống còn, nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Xét về bản chất, giữ vững “độc lập” hiện nay không khác trước đây, nhưng về tính chất và yêu cầu thì có những điểm mới cần chú ý để có biện pháp thực hiện phù hợp. Đặc biệt, trong mối quan hệ quốc tế đan xen, phức tạp hiện nay, phải hết sức tránh bị lệ thuộc vào nước ngoài, nhất là về chính trị và kinh tế. Bởi, bị lệ thuộc tức là mất quyền tự chủ và ở mức độ nào đó cũng có nghĩa là mất độc lập. Vì thế, phải rất tỉnh táo, tránh để bị lệ thuộc, nhưng đồng thời cũng không để rơi vào thế cô lập, hơn thế còn tích cực mở rộng quan hệ, nhằm góp phần đẩy mạnh phát triển đất nước đi đôi với bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

     Việt Nam là quốc gia có chủ quyền, được quốc tế công nhận, đó là cơ sở pháp lý mà không một ai, không một thế lực nào, dù mạnh đến đâu có thể phản bác hoặc xâm phạm. Chủ quyền thiêng liêng ấy của nước ta không tự nhiên có được, mà nhân dân ta đã phải giành lại cùng với giành độc lập, tự do từ tay kẻ thù xâm lược qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì thế, trách nhiệm cao cả của mỗi người Việt Nam hôm nay và mai sau là phải giữ cho được chủ quyền quốc gia, dân tộc, đó là quyền có tiếng nói, quyền được tôn trọng tại các tổ chức, diễn đàn, hội nghị quốc tế,... mà Việt Nam tham gia với tư cách thành viên. Chủ quyền quốc gia phải được giữ vững và thể hiện một cách đầy đủ theo đúng hàm nghĩa của nó, tức là trên tất cả các lĩnh vực, trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, nhất là chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

     Phải giữ vững sự thống nhất các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Đây vừa là mục tiêu, yêu cầu của cách mạng Việt Nam, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, vừa là truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần được tiếp tục gìn giữ, phát huy. Phải giữ vững và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất toàn dân và các tôn giáo, nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng các chính sách thỏa đáng, hợp lòng dân, có lợi cho dân, vì nhân dân. Đặc biệt, phải coi trọng giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, đảm bảo cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, phải chú trọng đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước đối với nước ta, nhất là quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp liên quan tại khu vực, thế giới. Thống nhất dựa trên cơ sở đoàn kết, có giữ vững được đoàn kết mới có sự thống nhất và có đoàn kết, thống nhất thì mới thành công, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Thực tiễn cho thấy, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất là giữ vững và tăng cường nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng, đưa nước ta tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường đổi mới, hội nhập, phát triển, hướng tới tương lai.

     Bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhiệm vụ này càng trở nên quan trọng khi tình hình Biển Đông đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường đe dọa đến chủ quyền, quyền chủ quyền, an ninh vùng biển nước ta. Đặc biệt, thời gian gần đây, nước ngoài đã bất chấp luật pháp, thông lệ quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Quy định về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), ngang nhiên có những hành động xâm phạm vùng biển Việt Nam. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh với mọi hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Dân tộc Việt Nam không bao giờ có ý định, chứ chưa nói tới hành động xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào, nhưng cũng không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của mình. Đó là nguyên tắc, là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.

     Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đang bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Trước hết là sự tác động nhiều chiều của tình hình thế giới, khu vực; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và các hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ đối với nước ta. Và trên thực tế, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ hiện hữu như Đảng ta đã cảnh báo. Thực tiễn đã chỉ ra, không phải cái gì “có” là không thể “mất”, ranh giới giữa “có” và “mất” rất mong manh, “có” mà không giữ được hoặc không biết giữ thì sẽ có thể “mất”, thậm chí “mất” hoàn toàn, đúng như luận điểm của V.I Lê-nin: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Vấn đề bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng vậy. Hơn thế, đó là mục tiêu, lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu và hành động chống phá nước ta của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội và chủ động đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, nhất là trên vùng biển của đất nước. Về nhận thức, tư tưởng, cần phải thấu suốt đây là cuộc đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng, diễn ra và kết thúc không thể “một sớm, một chiều”, mà là thường xuyên, lâu dài. Quá trình thực hiện phải quán triệt phương châm: kiên quyết, kiên trì đấu tranh; kiên quyết nhưng phải tỉnh táo, thận trọng, không nóng vội và kiên trì nhưng luôn chủ động, linh hoạt, giữ vững nguyên tắc. Đồng thời, cần nắm vững quan điểm của Đảng về hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”1. Đối với việc giải quyết các vấn đề phức tạp ở Biển Đông, lập trường kiên định, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết bảo vệ chủ quyền, kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thỏa thuận giữa các bên trong khu vực, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các tranh chấp về chủ quyền, lãnh thổ.

     Như vậy, cần khẳng định: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” là quan điểm đúng đắn của Đảng xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm trên định hướng tư tưởng và hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc -  lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời, còn thể hiện rõ thái độ, lập trường nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh,...” là một thể thống nhất, không tách rời nhau trong quá trình thực hiện. Kiên quyết đấu tranh, tức là đấu tranh không khoan nhượng, không do dự, thỏa hiệp, nhưng như thế chưa đủ, mà còn phải gắn với kiên trì, bền bỉ đấu tranh, không được nóng vội, bởi đây là cuộc đấu tranh lâu dài, không thể kết thúc trong “ngày một, ngày hai”. Đó là nội dung cốt lõi của quan điểm mà chúng ta cần quán triệt để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

CẦN XỬ LÝ NGHIÊM CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG TỰ GIÁC TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH.

    Hiện nay dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp; cả nước đang chung tay nỗ lực phòng chống nhưng vẫn có một số cá nhân ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân mà bỏ qua trách nhiệm đối với cộng đồng gây hậu quả nghiêm trọng. Với mức độ nghiêm trọng mà cá nhân này gây ra, chính quyền cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc. Cụ thể là rường hợp nghi mắc COVID-19, N.T.K.A, nữ, sinh năm 1993, ở tòa nhà Garden Hill, 99 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm. Trường hợp này có tiếp xúc với bệnh nhân 1722 (em vợ bệnh nhân 1694) vào ngày 26/1 tại cổng tòa nhà.
    Ngày 5/2, chị A. có biểu hiện sốt, ho, đau họng. Đến 16h45' ngày 6/2, trường hợp này gọi lên số 115 của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội để xin tư vấn, được báo về Nam Từ Liêm lấy mẫu xét nghiệm và có kết nghi nhiễm COVID-19.
Hà Nội: Yêu cầu xử phạt BN1722 và ca nghi nhiễm COVID-19 mới do khai báo thiếu trung thực - 1
Phó Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Chử Xuân Dũng đi thị sát tại chung cư Garden Hill, 99 Trần Bình, Mỹ Đình 2 (Nam Từ Liêm, Hà Nội)
    Ngày 8/2, ông Chử Xuân Dũng – Phó Chủ tịch UBND TP.Hà Nội đã làm việc với UBND quận Nam Từ Liêm về trường hợp nghi mắc COVID-19, N.T.K.A. Tại buổi làm việc, đại diện Sở Y tế Hà Nội và quận Nam Từ Liêm cho biết, ngay khi ghi nhận ca nghi nhiễm, các đơn vị đã truy vết, điều tra các trường hợp tiếp xúc gần để khoanh vùng, cách ly và xét nghiệm COVID-19. Đồng thời, cơ quan chức năng đã lập rào chắn cách ly y tế chung cư Garden Hill (2 tòa A và B) với khoảng 1.200 dân, phun khử khuẩn toàn bộ khu vực liên quan trên địa bàn phường. Hiện, cơ quan y tế đang lấy mẫu xét nghiệm cho các trường hợp liên quan và người dân trong chung cư Garden Hill.
    Chỉ đạo tại buổi làm việc, ông Dũng nhấn mạnh lịch trình của ca nghi nhiễm mới trên địa bàn quận Nam Từ Liêm khá phức tạp nhưng lại khai báo quanh co gây mất thời gian của cơ quan chức năng và ảnh hưởng đến công tác truy vết, khoanh vùng, dập dịch. Ông Dũng đề nghị cơ quan an ninh hoàn thiện hồ sơ, xử phạt hành chính 2 cá nhân là bệnh nhân 1722 (Nam Từ Liêm) và trường hợp nghi nhiễm COVID-19 ở toà nhà Garden Hill, 99 Trần Bình, Mỹ Đình 2, (Nam Từ Liêm) do thiếu trung thực trong quá trình khai báo lịch trình di chuyển. Đồng thời huy động cơ quan Công an quận vào cuộc, có biện pháp khai thác lịch trình cụ thể và xử lý hình sự nếu vi phạm.
    Ngoài ra, ông Dũng cũng yêu cầu các tổ giám sát cộng đồng cùng vào cuộc quyết liệt để truy vết các trường hợp F1, F2 và cả F3. Ông Dũng cho rằng, khu vực phong tỏa tại tòa nhà Garden Hill phức tạp hơn so với khu vực tòa chung cư 88 Láng Hạ trước đó. Vì vậy, phải thông tin tới toàn bộ cư dân (cả các trường hợp đã trở về quê ăn Tết) về nguy cơ lây lan dịch bệnh tại khu vực này để người dân chia sẻ và đồng hành cùng chính quyền.

CẦN NÊU CAO Ý THỨC TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH.

    Hiện nay, tình hình dịch bệnh diễn ra hết sức phức tạp, có nguy cơ bùng phát trên diện rộng rất lớn. hầu hết người dân Việt Nam đã chấp hành nghiêm những quy định về phòng chống dịch. Tuy nhiên, vẫn còn một số cá nhân chưa thực sự tự giác, còn trốn tránh có thể gây hậu quả nghiêm trọng. 
    Cụ thể: Lúc 20 giờ ngày 8-2, anh P.H.T (33 tuổi) không chấp hành cách ly ở Quảng Ninh mà bỏ về quê Nghệ An đón Tết đã được cơ quan chức năng đón từ trên xe ô tô về trạm y tế cách ly. Ông Hồ Phi Hòe, Chủ tịch UBND xã Công Thành (huyện Yên Thành, Nghệ An), cho biết khi xe chở anh T. về đến địa phương đã đưa thẳng anh đến Trạm Y tế xã Công Thành để cách ly y tế.
    Sáng cùng ngày, Công ty 790 (thuộc Tổng Công ty Đông Bắc) ra văn bản gửi UBND huyện Yên Thành và UBND xã Công Thành về việc người lao động không chấp hành các biện pháp phòng chống dịch COVID-19, tự ý bỏ đơn vị về địa phương.
    Công văn nêu: “Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 đang lây lan diễn biến phức tạp, khó lường trên địa bàn Quảng Ninh, Công ty 790 đã tổ chức cho toàn thể cán bộ, nhân viên, người lao động thực hiện làm việc, ăn ở sinh hoạt, nghỉ ngơi tập trung tại cơ quan, đơn vị để phòng chống dịch bệnh COVID-19.
    Hiện tại, trong đơn vị đã có trường hợp F1 đang cách ly tại Bệnh viện dã chiến số 3 (Hạ Long, Quảng Ninh), và một số trường hợp F2 - F4 cách ly tại đơn vị. Tuy nhiên, ngày 8-2, anh T (quê xã Công Thành) thuộc đơn vị quản lý đã không thực hiện yêu cầu về phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Anh T. đã bỏ trốn khỏi đơn vị về địa phương, có thể tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh COVID-19”.
    Nhận được công văn trên, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng gia đình liên lạc qua điện thoại, thuyết phục anh T. hợp tác về việc phòng, chống COVID-19.
Khi nắm được hành trình anh T. đang trên đường về quê, Trung tâm Y tế huyện Yên Thành đã phối hợp cơ quan chức năng đón và chuẩn bị nơi để anh T. cách ly y tế, theo dõi sức khỏe. Hiện ngành y tế Nghệ An đã lấy lẫu của anh T. để thực hiện xét nghiệm COVID-19.

NHẬN DIỆN RÕ , LOẠI BỎ NHỮNG KẺ MANG DANH “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”

 


            Gần đây, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục bám vào những đối tượng được đặt cho cái tên rất kêu là “tù nhân lương tâm” để chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, nhân quyền. Song, ngẫm lại thì thấy các chiêu bài chống phá ấy cuối cùng vẫn chỉ xoay quanh việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, cùng với đó là những đòi hỏi đi ngược với luật pháp và thực tế nhằm đánh lừa dư luận về tình hình bảo đảm quyền con người ở nước ta.

              Sự thật vẫn cố tình bị bóp méo

         Trong báo cáo công bố vào giữa tháng 1 vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) cho rằng, trong năm 2020, chính quyền Việt Nam đã gia tăng trấn áp những người cổ vũ cho các quyền dân sự và chính trị cơ bản, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội...

          Một quan chức của tổ chức này thậm chí còn khẳng định như đinh đóng cột rằng, năm 2020 “lại là một năm đen tối nữa” cho nhân quyền ở Việt Nam. Cũng theo báo cáo của HRW, năm qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ hoặc truy tố hàng chục người do vi phạm các tội về an ninh quốc gia mà theo họ được định nghĩa quá rộng và mơ hồ, chẳng hạn như “tuyên truyền chống Nhà nước” hoặc “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước”...

          Để chứng minh cho lập luận xuyên tạc ấy, HRW đã liệt kê một số bản án dành cho các đối tượng vi phạm pháp luật thời gian qua. Trong đó có những cái tên đã vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam như Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Phạm Đoan Trang... Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự.



 
           Càng nực cười hơn khi HRW vô tư phán rằng, công an Việt Nam bắt giam nhiều “nhà bất đồng chính kiến” chỉ vì họ "thực hiện quyền tự do ngôn luận cơ bản". Trong khi đó, thực tế cho thấy, các đối tượng như Phạm Đoan Trang hay Phạm Chí Dũng đều nhận sự tài trợ, cổ xúy, của các tổ chức nhân quyền cực đoan và các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam, sử dụng chiêu trò “phản biện xã hội” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất ổn định trật tự xã hội, bị dư luận trong nước lên án kịch liệt.


          Gần đây, một số người thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra luận điệu cho rằng, vì sợ sứt mẻ lợi ích kinh tế, vì sự thành bại của các hiệp định thương mại mà Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và một số quốc gia khác đang phớt lờ các vụ việc vi phạm nhân quyền đối với các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam. Trong khi đó, ai cũng thừa biết rằng, thông qua các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam đã cùng Mỹ hay EU trao đổi thẳng thắn, cởi mở và xây dựng về tình hình thực tế cũng như các thách thức của mỗi bên trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này cũng đã được cộng đồng quốc tế và các đối tác ghi nhận.

              Đòi hỏi phi lý

          Bằng cách rêu rao rằng, các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam hiện như “cá nằm trên thớt”, thời gian qua, các cá nhân, tổ chức có quan điểm thù địch với Việt Nam liên tục kêu gọi phải thả các tù nhân này ngay lập tức. Liệu đó có phải là đòi hỏi chính đáng?

          Năm qua, không ít lần trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin đại loại như: Các tù nhân lương tâm trong các trại giam ở Việt Nam thường xuyên bị ngược đãi, đe dọa, thậm chí bị đánh đập, thiếu đồ ăn thức uống... Dường như chưa đủ để bẻ lái dư luận, các thế lực thù địch giở thêm “bài cùn” bằng lập luận rằng đại dịch Covid-19 đang gây nhiều tác động mạnh tới sức khỏe cộng đồng, trong đó có cả tác động và nguy cơ lây lan tới các nhà tù, trại giam, trại tạm giam ở Việt Nam và do đó, "chính quyền Việt Nam phải đặc xá, thả tất cả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm".

           Họ cố tình quên rằng, đặc xá là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện và lao động để hoàn lương. Nếu như các bản án là minh chứng cho tội danh của các phạm nhân, thì việc đặc xá, tha tù trước thời hạn là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy trại giam của phạm nhân. Mỗi đợt đặc xá là dịp để các phạm nhân nhìn nhận, suy xét lại những lỗi lầm đã phạm phải, tự mỗi người đánh giá kết quả cải tạo của mình, kiên quyết dứt bỏ quá khứ và sẵn sàng phấn đấu để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội. 

            Sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đặc xá năm 2007, những năm qua, Chủ tịch nước đã quyết định nhiều đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho nhiều người bị kết án phạt tù có thời hạn. Thường thì các đợt đặc xá diễn ra nhân các sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Hiệu quả của công tác đặc xá cũng được chứng minh bằng tỉ lệ tái phạm thấp, đại đa số phạm nhân được đặc xá sau khi ra tù đều nhận thấy và đi theo con đường hướng thiện, thậm chí nhiều người còn trở thành những tấm gương người tốt, việc tốt. Qua đó càng chứng minh rằng, đặc xá là chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước ta và trên thực tế đã được cộng đồng trong nước, dư luận quốc tế và những người quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam thừa nhận, đồng tình.

              Tuy nhiên, đặc xá thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, song không phải với mọi đối tượng. Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại, các phạm nhân chỉ có thể được đặc xá, trả tự do sớm nếu họ thừa nhận những sai phạm của mình và chứng minh quyết tâm hướng thiện bằng cách cải tạo tốt, chấp hành nghiêm các nội quy của trại giam. Nói cách khác, việc đặc xá phụ thuộc vào quá trình tu dưỡng, rèn luyện bản thân của các phạm nhân, chứ không thể phụ thuộc vào những lời kêu gọi hay đòi hỏi phi lý từ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào.

          Từ đó cũng dễ dàng nhận thấy rằng, các thế lực phản động, cơ hội chính trị không hề sẵn lòng thừa nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, mà trái lại chỉ nhăm nhe xỉa xói, tận dụng mọi cơ hội và mánh khóe để phủ nhận các thành tựu ấy. Với riêng những người trót bị gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”, họ thực chất chỉ là một công cụ nhất thời trong tay những kẻ đang âm mưu chơi ván bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam.

Hành trình cùng mùa xuân dân tộc

 

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Dân là gốc”. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu... Đây là sự khẳng định mang tính chân lý, thể hiện bước phát triển mới về lý luận của Đảng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những đánh giá, đúc kết bài học kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong 35 năm đổi mới của Đảng, kế thừa tinh hoa từ lịch sử dân tộc, kinh nghiệm của tổ tiên, ông cha. Quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là trung tâm” cũng chính là sự thể hiện sinh động tính hài hòa, thống nhất của giá trị văn hóa Đảng và mùa xuân dân tộc ở đất nước ta. Đây cũng là cơ sở, niềm tự hào chính đáng để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đất nước và đông đảo kiều bào yêu nước đề cao tinh thần dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại các âm mưu của các thế lực thù địch, phản động.


Hành trình cùng mùa xuân dân tộc, chúng ta kiên định đường lối đổi mới của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước đều cần phải nghiêm trị./.

Ông Trump bị điều tra!

    Bang Georgia (Mỹ) đã mở một cuộc điều tra cựu Tổng thống Donald Trump về những nỗ lực lật ngược kết quả bầu cử của ông trước khi mãn nhiệm.
    Văn phòng thư ký bang Georgia Brad Raffensperger đã chính thức mở cuộc điều tra sau khi cuộc điện thoại ngày 2/1 của ông Trump bị ghi âm. Trong cuộc gọi này, ông Trump đã hối thúc Thư ký bang Raffensperger đảo ngược kết quả bầu cử với những cáo buộc gian lận bầu cử.
    "Văn phòng Thư ký bang sẽ điều tra các khiếu nại nhận được", ông Walter Jones, phát ngôn viên Văn phòng Thư ký bang, cho hay và nhấn mạnh cuộc điều tra sẽ tập trung vào xác minh sự thật. "Những nỗ lực pháp lý còn lại sẽ được giao cho tổng chưởng lý", ông nói thêm.
    Trước đó, Washington Post đưa tin, vài tuần trước khi mãn nhiệm, ông Trump đã gọi điện cho ông Raffensperger và liên tục yêu cầu "tìm" cho ông hơn 11.000 phiếu bầu trong nỗ lực đảo ngược kết quả bầu cử. "Những gì tôi muốn là tìm 11.780 phiếu bầu, nhiều hơn những gì chúng tôi đang có. Bởi vì chúng tôi đã thắng ở bang này rồi", ông Trump nói. Tuy nhiên, ông Raffensperger đã bác bỏ những tuyên bố của ông Trump.
    Đoạn ghi âm trên được xem là bằng chứng đầu tiên cho thấy nỗ lực của ông Trump nhằm trực tiếp gây sức ép lên một lãnh đạo cấp bang nhằm lật kèo bầu cử.
    Những nỗ lực của ông Trump và đồng minh nhằm đảo ngược kết quả bầu cử cuối cùng đều thất bại. Quốc hội Mỹ hôm 6/1 đã xác nhận chiến thắng của Tổng thống Joe Biden bất chấp biểu tình bạo loạn. Sau sự kiện này, ông Trump đã bị Hạ viện luận tội "kích động đám đông" vì bị cáo buộc có vai trò trong vụ biểu tình.
Ông Trump bị điều tra vì nỗ lực lật kèo bầu cử - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump (Ảnh: Reuters)

ĐẢNG TA LUÔN VÌ NƯỚC VÌ DÂN

 


         1. Những ngày qua, trong khi đồng bào, chiến sĩ cả nước phấn khởi chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và hàng trăm tổ chức đảng, lãnh đạo các đảng cộng sản, đảng công nhân và nhiều tổ chức phong trào cộng sản trên thế giới gửi thư chúc mừng sự kiện trọng đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì trên mạng xã hội và một số trang báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam, đã đưa ra những thông tin sai trái, những bình luận ác ý, những lời lẽ xuyên tạc nhằm hướng lái dư luận theo một cái nhìn tiêu cực về Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội XIII của Đảng.

          Vẫn là những chiêu trò “bổn cũ soạn lại”, các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, “Đại hội XIII: Dân chủ chỉ là cột mỡ”, “Đại hội XIII chả có gì mới”, “Vẫn là đại hội trấn áp tiếng nói bất đồng”... Thậm chí, có đối tượng còn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tập trung lo cho đại hội toàn quốc "để chia chác quyền lực", "chi tiêu cả nghìn tỷ đồng của dân, trong khi để cho hàng triệu bà con miền Trung sau lũ lụt vẫn chịu thảm cảnh đói rét". Táng tận lương tâm hơn, có kẻ còn rêu rao rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam "bưng bít thông tin về đại dịch Covid-19" xảy ra trước thời điểm Đại hội XIII, cho đến khi dịch bệnh bung ra khắp nơi thì không kiểm soát nổi khiến dân tình lâm vào cảnh mất vui, mất Tết(!).



Những thông tin nêu trên không chỉ làm lộ rõ thêm “chân tướng” của những kẻ vốn có tư tưởng thù hằn với chế độ, mà chắc chắn cũng không bao giờ được nhân dân Việt Nam chấp thuận. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần “lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.


          2. Từ lâu, trong tâm thức, tình cảm của đông đảo người dân Việt Nam, việc Đảng cũng là việc nước, việc dân. Vì thế, các dự thảo văn kiện Đại hội XIII đều được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng và lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Theo thông tin từ Ban Tổ chức Trung ương, tổng hợp góp ý của đại hội đảng các cấp và ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, các ý kiến đóng góp được tổng hợp lại thành hơn 1.400 trang. Đây là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của hơn 5 triệu đảng viên và hơn 90 triệu người dân Việt Nam. Điều này phủ nhận hoàn toàn ý kiến rêu rao rằng, Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ dành cho hơn 1.500 đại biểu thuộc “giới tinh hoa” tham dự đại hội.

          Theo dõi các sự kiện trong đời sống chính trị thời gian gần đây, chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều việc làm thiết thực hướng về nhân dân, làm cho người dân thấy càng quý trọng, tin yêu Đảng hơn. Từ Hội nghị Trung ương 14, Trung ương 15 đến Đại hội XIII, Đảng ta đều rút ngắn thời gian so với kế hoạch dự kiến ban đầu. Việc rút ngắn thời gian không chỉ thể hiện tác phong làm việc khẩn trương, nghiêm túc, coi trọng hiệu quả nội dung công việc của Đảng, mà còn góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước và ưu tiên thời gian để Đảng, Nhà nước có điều kiện chăm lo tốt hơn việc dân, việc nước.

          Điều đó thể hiện rất rõ trong những ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Ngay sau khi xuất hiện dịch Covid-19 tại TP Chí Linh (Hải Dương), sáng 28-1, Thủ tướng Chính phủ đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan để triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ đã kịp thời công bố công khai rộng rãi để người dân biết về sự tái bùng phát dịch Covid-19; đồng thời liên tục cập nhật tình hình dịch bệnh, triển khai các biện pháp thần tốc để truy vết, khoanh vùng, dập dịch triệt để ngay từ đầu, hạn chế tới mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh.

          Nhân dân đánh giá rất cao về tinh thần của một số cán bộ lãnh đạo địa phương xảy ra dịch Covid-19, dù đang tham dự Đại hội XIII nhưng đã tức tốc trở về địa phương trong đêm tối để trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống, dập dịch tại địa phương mình. Tối 31-1, Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã trực tiếp đến thị sát tại hai “điểm nóng” về dịch Covid-19 là TP Chí Linh (Hải Dương) và thị xã Đông Triều (Quảng Ninh). Hình ảnh Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mặc bộ đồ bảo hộ y tế đến kiểm tra, động viên các lực lượng tại chốt kiểm soát phòng, chống dịch giữa thị xã Đông Triều và TP Chí Linh trên Quốc lộ 18 trong đêm tối giá rét, nhân dân cảm thấy thêm ấm lòng về tình Đảng, tình dân trong thời điểm gian khó. Đó cũng là hình ảnh biết nói về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân luôn gắn bó bền chặt. Đó cũng là lời khẳng định đanh thép để bác bỏ những lời lẽ bịa đặt của những phần tử thù địch, cơ hội chính trị khi cho rằng “Đảng xa dân, bỏ mặc dân trong thiên tai, dịch bệnh”.

          Một trong những việc làm được nhân dân ghi nhận là trong dịp đại hội đảng các cấp, từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương, các nghi thức đã được giản tiện. Mấy năm gần đây, khi các lãnh đạo cấp cao đến thăm, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, người dân cũng chỉ thấy sự trang trí, khánh tiết đơn giản. Những thay đổi đó tuy nhỏ, nhưng là minh chứng cụ thể về đổi mới tác phong, phong cách lãnh đạo của Đảng theo hướng ngày càng thiết thực, giản dị, thể hiện sự gần gũi với quần chúng nhân dân.

          3. Không ngẫu nhiên mà một trong những nội dung được đề cập nhiều lần trong các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng là cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố hạnh phúc của nhân dân. Bởi trong đại dịch Covid-19, chúng ta càng hiểu thêm không phải cứ thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng nhanh là sung sướng, mà ý nghĩa hơn là cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Năm 2020, Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trên thế giới vì vừa kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Liên tục trong hai năm gần đây, Việt Nam đã tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc, từ 94/156 quốc gia (2019) lên 83/156 quốc gia (2020).

          Một trong 5 bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình đổi mới đất nước và trong thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XII được Đảng ta đúc rút đó là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. 

          Trong buổi gặp mặt báo chí sau Đại hội XIII của Đảng tổ chức vào cuối buổi sáng 1-2, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thêm một lần nhấn mạnh, thành công của đại hội không phải ở thông qua nghị quyết, ban chấp hành mới, mà quan trọng hơn là đưa nghị quyết vào cuộc sống, phải tạo ra được của cải vật chất để nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc.

          Lòng dân là quốc bảo, lòng dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó cũng là cội nguồn sâu xa để ý Đảng-lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.

Sự thật vẫn cố tình bị bóp méo

 

Trong báo cáo công bố vào giữa tháng 1 vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) cho rằng, trong năm 2020, chính quyền Việt Nam đã gia tăng trấn áp những người cổ vũ cho các quyền dân sự và chính trị cơ bản, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội...

Một quan chức của tổ chức này thậm chí còn khẳng định như đinh đóng cột rằng, năm 2020 “lại là một năm đen tối nữa” cho nhân quyền ở Việt Nam. Cũng theo báo cáo của HRW, năm qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt giữ hoặc truy tố hàng chục người do vi phạm các tội về an ninh quốc gia mà theo họ được định nghĩa quá rộng và mơ hồ, chẳng hạn như “tuyên truyền chống Nhà nước” hoặc “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước”...

Để chứng minh cho lập luận xuyên tạc ấy, HRW đã liệt kê một số bản án dành cho các đối tượng vi phạm pháp luật thời gian qua. Trong đó có những cái tên đã vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam như Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Phạm Đoan Trang... Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự.

 Càng nực cười hơn khi HRW vô tư phán rằng, công an Việt Nam bắt giam nhiều “nhà bất đồng chính kiến” chỉ vì họ "thực hiện quyền tự do ngôn luận cơ bản". Trong khi đó, thực tế cho thấy, các đối tượng như Phạm Đoan Trang hay Phạm Chí Dũng đều nhận sự tài trợ, cổ xúy, của các tổ chức nhân quyền cực đoan và các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam, sử dụng chiêu trò “phản biện xã hội” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất ổn định trật tự xã hội, bị dư luận trong nước lên án kịch liệt.

Gần đây, một số người thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra luận điệu cho rằng, vì sợ sứt mẻ lợi ích kinh tế, vì sự thành bại của các hiệp định thương mại mà Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và một số quốc gia khác đang phớt lờ các vụ việc vi phạm nhân quyền đối với các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam. Trong khi đó, ai cũng thừa biết rằng, thông qua các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam đã cùng Mỹ hay EU trao đổi thẳng thắn, cởi mở và xây dựng về tình hình thực tế cũng như các thách thức của mỗi bên trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này cũng đã được cộng đồng quốc tế và các đối tác ghi nhận./.

Nguồn: Báo QĐND

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới

 



Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra từ ngày 25-1 đến 1-2 ở Thủ đô Hà Nội. Trong bài viết mới đây có tựa đề “Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam-mốc son lịch sử trong đời sống Việt Nam” đăng trên Tạp chí chính trị “Thế giới đa cực” của Nga, nhà báo Pavel Vinogradov khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, người phát ngôn cho những mong muốn và lợi ích sống còn của toàn dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập là lực lượng lãnh đạo đất nước để bảo đảm thắng lợi cho công cuộc xây dựng xã hội công bằng, củng cố an ninh và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới
 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, bảo đảm cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho người dân. Trong ảnh: Không gian đô thị hiện đại tại quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Ảnh: TRỌNG HẢI

Trong bài viết của mình, nhà báo Pavel Vinogradov nêu rõ, trước những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và thiên tai, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực khôi phục kinh tế, cải thiện cuộc sống cho người dân. Trong cuộc chiến chống lại đại dịch, Việt Nam đã trở thành một tấm gương cho phần còn lại của thế giới. Thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch bệnh được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ngoài ra, Việt Nam còn là một trong những quốc gia hấp dẫn đầu tư nước ngoài nhất hiện nay. Nguồn vốn nước ngoài vẫn đổ vào Việt Nam trong bối cảnh Covid-19 tấn công toàn cầu. Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ bị thu hút bởi sự dồi dào của nguồn lao động giá rẻ có tay nghề cao mà còn vì điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi ở Việt Nam. Theo ông Vinogradov, truyền thông khắp nơi trên thế giới đều nêu bật vị thế ngày càng cao cũng như vai trò tích cực của Việt Nam trên trên trường quốc tế. Với số phiếu ủng hộ áp đảo (192/193 phiếu), Việt Nam đã được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2020-2021. Điều này là minh chứng thuyết phục về sự tôn trọng và tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Trong những năm qua, kể từ khi gia nhập LHQ vào năm 1977, Việt Nam đã thể hiện là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực. Việc Việt Nam tham gia vào hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi đã được bạn bè quốc tế dành nhiều lời khen ngợi. Chính sách đối ngoại “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng thế giới” cũng được thể hiện một cách sinh động trong năm vừa qua, khi Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN 2020.

Những kết quả đạt được trong thời gian qua đã chứng minh một cách thuyết phục tính đúng đắn của đường lối và chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà báo Vinogradov nhấn mạnh, trong hơn 90 năm qua, kể từ Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay, Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong đời sống xã hội Việt Nam. Đại hội XIII sắp tới của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn 2021-2026 cũng như giai đoạn đến năm 2030, thời điểm đất nước hình chữ S kỷ niệm ngày trọng đại (100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam). Theo ông Vinogradov, những quyết sách, Nghị quyết mà Đại hội XIII đề ra sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đất nước đang phát triển năng động với dân số gần 100 triệu người. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực, ông Vinogradov nhận xét.

Trên trang mạng infox.ru, Chủ tịch Hội đồng chuyên gia Quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học “Ý tưởng Á-Âu”, chuyên gia trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh Grigory Trofimchuk nhấn mạnh, trong những thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong tất cả các lĩnh vực bao gồm chính trị, phát triển kinh tế-xã hội... Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tạo ra “cú sốc” đối với toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng. Điều này cho thấy khả năng chống chịu của Việt Nam cũng như tính hiệu của những chủ trương do Đảng và Nhà nước đề ra. Ông Trofimchuk nhận định, Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng nhờ đường lối chiến thuật, chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi đưa ra đường lối, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tính đến mọi biến động trên thế giới, khu vực và trong nước để có những điều chỉnh cần thiết cho các chương trình, kế hoạch dài hạn. Ông Trofimchuk khẳng định, mục tiêu thiết thực và quan trọng nhất mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hướng tới là mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho toàn dân. Các kỳ đại hội 5 năm một lần là những cột mốc đáng chú ý trong quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiến tới Đại hội XIII, Việt Nam đặc biệt chú ý tổ chức đại hội đảng các cấp, nơi mọi vấn đề được thảo luận chi tiết. Và mục tiêu của Đại hội XIII sắp tới là đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Ông Trofimchuk khẳng định, không chỉ người dân Việt Nam mà còn cả các nước khác, đặc biệt là những đối tác chiến lược của Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, trong bài viết “Việt Nam trước thềm sự kiện quan trọng-Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí chính trị “Thế giới đa cực” nhận định, các phương tiện thông tin đại chúng trên thế giới đang đặc biệt quan tâm đến sự kiện chính trị này của Việt Nam. Bởi lẽ, hiện nay, Việt Nam có vị thế và vai trò ngày càng cao không chỉ riêng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà còn trên toàn thế giới.

NGƯỜI DÂN HẢI PHÒNG ĐÃ ĐƯỢC VỀ QUÊ ĐÓN TẾT BÌNH THƯỜNG

 Thông tin mới nhất, UBND TP Hải Phòng dỡ bỏ việc yêu cầu người ra, vào thành phố phải có giấy xác nhận của chính quyền địa phương cấp xã. Đây là quyết định đúng, lắng nghe và cầu thị…

Một quyết định đúng đắn, lắng nghe và cầu thị…! - 1

Nhấn để phóng to ảnh

    Trước đó, UBND TP Hải Phòng qui định từ 12h ngày 6/2, tất cả công dân ra vào địa phương này phải có giấy xác nhận của UBND cấp xã, thị trấn, phường tại nơi đi đến, trong đó phải nêu rõ lý do, lịch trình. Ngay sau đó, qui định này đã gặp sự phản ứng của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng cách làm này của Hải Phòng gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Một số ý kiến thì cho rằng qui định này không hiệu quả bởi liệu chính quyền hoặc công an một nơi nào đó chịu "chứng chỉ" cho công dân của mình những điều rất "viển vông" như vậy?
    Luật sư Quách Thành Lực - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội đã chỉ ra sự vô lý của qui định này và cho rằng nó không đảm bảo tính hợp lý, tính đơn giản, dễ hiểu, tính khả thi, tính thống nhất, đồng bộ với các quy định hành chính khác. "Công dân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú. Quyền hạn này chỉ bị hạn chế theo quy định pháp luật. Hiện nay Chính phủ không ban hành quy định, chỉ thị nào cho phép địa phương yêu cầu công dân phải có giấy xác nhận nơi đi, nơi đến. Do vậy quy định yêu cầu giấy xác nhận nơi đi đến là không phù hợp với quy định pháp luật, chỉ đạo của cấp trên. Thêm nữa điều 8 Luật cư trú cũng nghiêm cấm việc Tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật. Quy định này cũng không phù hợp với chỉ đạo chuyên môn, khuyến nghị y tế của Bộ y tế". 
    Có lẽ do tiếp thu ý kiến của dư luận, chỉ 01 ngày sau, TP Hải Phòng đã dỡ bỏ qui định này. Tuy nhiên, đây không chỉ là chuyện riêng của Hải Phòng mà còn của nhiều địa phương khác trong phương cách xử lý tình hình dịch covid - 19 hiện nay. Về tinh thần quyết liệt là rất cần thiết và đáng ghi nhận. Song, tinh thần là một việc, còn biện pháp lại là chuyện khác bởi mỗi hành động luôn đi kèm với nó là tính khả thi và những hành lang pháp lý cần phải tuyệt đối tôn trọng.
    Yêu cầu của việc phòng chống dịch hiện nay là phải thực hiện "mục tiêu kép", "biến nguy thành cơ" như tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Tức là vừa phải kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế chứ không phải động tý là cấm. Không nên vì sợ trách nhiệm mà có những quyết định theo kiểu "không quản được thì cấm" để "an toàn là bạn" với mình, đẩy khó khăn, hoạn nạn sang dân.
    Một lần nữa, xin ghi nhận sự quyết liệt cũng như tinh thần cầu thị, lắng nghe của lãnh đạo TP Hải Phòng và đây cũng là kinh nghiệm cho các địa phương khác. Trước mỗi biến động của đời sống xã hội, người dân chờ đợi sự bình tĩnh, thông minh, sáng tạo, chủ động, thực hiện "mục tiêu kép" mới khó chứ không nên vội vã "khúc ca sông cấm", "cầu rào"…!

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NIỀM TIN CỦA TÔI


 “Đảng là cuộc sống của tôi, mãi mãi đi theo người,

Từ thuở còn thơ đời tôi chưa quen sóng gió

Đảng đã cho tôi lẽ sống niềm tin, giữa biển khơi biết đâu là bờ,

Bầu trời xanh chưa thấy bao giờ

Đảng là một ngôi sao sáng,

Sáng nhất trong muôn vì sao giữa trời tối đêm mịt mùng

Vẫn một màu sáng trong,

Đảng làm nên bài ca chiến thắng cho đất nước và tình yêu,

Cho mỗi ước mơ trên đời vui

Đảng của tôi ơi mãi mãi ơn người”

          Những câu hát nhẹ nhàng, sâu lắng đi vào lòng mỗi một ai là công dân của đất nước Việt Nam. Hẳn rằng không ít người biết đến bài hát này và chắc chắn rằng khi nhắc tới Đảng Cộng sản Việt Nam, ai cũng cảm thấy thiêng liêng và tự hào, cũng như khi nhắc tới hai tiếng “Việt Nam”, hai tiếng “Bác Hồ”.

         Đảng như con thuyền lớn giữa biển khơi và chúng ta như những người lạc bến, bơ vơ. Tôi may mắn khi được thấy Đảng qua những bài giảng đầy xúc động của Thầy cô. Tôi như được hòa quyện vào luồng gió mới, vào chân lý của Đảng, của Bác. Bác Hồ kính yêu chính là người thuyền trưởng vĩ đại cho tất cả chúng ta noi theo trên con đường học tập, rèn luyện và cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; từ đấu tranh giành độc lập đến xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc.

          Đất nước ta được như ngày hôm nay, chúng ta được sống và làm việc trong hòa bình như ngày hôm nay là nhờ có Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã soi sáng con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, đã đưa đường chỉ lối cho dân tộc ta đến với tự do, độc lập. Chúng ta đã giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc chiến tranh chống xâm lược; dải đất hình chữ S cùng hai chữ “Việt Nam” đã in đậm trên bản đồ thế giới, sánh ngang cùng các cường quốc năm châu. Những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, trước hết được bắt nguồn từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn; sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam; sự hy sinh quên mình của biết bao đồng bào, đồng chí. Trong suốt chặng đường lịch sử cách mạng Việt Nam, Đảng đã phát huy vai trò lãnh đạo, từng bước trưởng thành trong vận dụng đường lối, chủ trương và phương pháp cách mạng; năng động sáng tạo, luôn đi sát quần chúng, biết rút kinh nghiệm và sửa chữa sai lầm một cách kịp thời.

          Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, yêu thương đồng chí, kỷ luật nghiêm minh. Trong mọi hoạt động của mình, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết; luôn quan tâm, chăm lo chu đáo đến đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của nhân dân lao động. Đồng thời, Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, sẵn sằng thừa nhận thiếu sót, hạn chế của mình, liên tục đề ra các chính sách xây dựng và chỉnh đốn Đảng vì sự phát triển bền vững, thịnh vượng. Đây là phẩm chất quý báu của Đảng ta mà không phải Đảng nào cũng có thể làm được. Chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra có thể coi là bước ngoặt trong tiến trình phát triển của Việt Nam, đã làm thay đổi một cách toàn diện diện mạo của Việt Nam.

           Những kết quả quan trọng đó có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và khẳng định rằng, chúng ta đang hành động đúng quy luật, đang đi đúng hướng; là những minh chứng sinh động, cụ thể cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta, khẳng định khả năng, vai trò, vị trí tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, thể hiện sâu sắc lòng tin của nhân dân ta đối với Đảng.

           Đất nước ta đang đứng trước những vận hội mới và cả thách thức mới. Những khó khăn tồn tại nhiều mặt đòi hỏi chúng ta phải ra sức giải quyết. Song, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang quyết tâm ra sức phấn đấu vì mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.

             Nhìn lại lịch sử vIỆT NAM từ ngày có Đảng và những thành tựu của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thấy tự hào về những cống hiến vinh quang, vĩ đại của Đảng ta cho dân tộc, cho đất nước. Những chủ trương, đường lối, định hướng đúng đắn của Đảng là nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bản lĩnh, sự sáng suốt, tính kiên định và trí tuệ của Đảng ta được thể hiện rõ nét ở những khúc quanh của lịch sử dân tộc. Khẳng định ưu điểm, thành tích của Đảng cũng chính là khẳng định quá khứ đấu tranh hào hùng, anh dũng và sáng tạo của dân tộc ta; khẳng định lòng tin của Đảng vào nhân dân, và của nhân dân vào Đảng; khẳng định một bài học, một chân lý: Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


TƯ TƯỞNG VĨ ĐẠI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

“Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, vai trò của nông dân là một lực lượng to lớn của dân tộc, là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân. Do đó sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc muốn thắng lợi thì phải dựa chắc vào nông dân, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng, đời sống của nông dân, khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần cách mạng, chủ nghĩa yêu nước và sức người, sức của của nông dân.

Tư tưởng của Người, không chỉ là nền tảng tư tưởng để Đảng ta có các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn đối với nông dân, củng cố niềm tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng, mà còn nhấn mạnh về đối tượng, yêu cầu, nhiệm vụ và cách thức tiến hành vận động nông dân mà các chủ thể công tác vận động quần chúng cần chú ý. Qua thực tiễn cách mạng, lời dạy của Người đã động viên, cổ vũ, khích lệ nông dân đẩy mạnh tăng gia, sản xuất tích cực đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.

Thực hiện lời dạy trên của Người! Trong giai đoạn hiện nay cũng như tới đây, muốn phát huy tốt vai trò của nhân dân nói chung, nông dân nói riêng cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, đòi hỏi mỗi quân nhân phải làm tốt vai trò của mình trong việc đoàn kết, giúp đỡ nhân dân, nhất là nông dân, thực hiện có hiệu quả chương trình “Quân đội chung tay xây dựng nông thôn mới”. Cùng với việc sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nhân dân, mà còn phải tuyên truyền vận động, củng cố tình đoàn kết quân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Mặt khác, phần lớn cán bộ, chiến sĩ trong quân đội xuất thân từ nông dân, do đó cần thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông dân, góp phần tạo tâm lý tích cực, sự hăng hái của mỗi quân nhân./.

Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. Thế nhưng, các thế lực thù địch tìm mọi cách ra sức phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, làm rõ bản chất khoa học, cách mạng để không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp thiết hiện nay.

Thực tiễn đã chứng tỏ, bất cứ một đảng chính trị nào cũng phải có hệ tư tưởng dẫn dắt, nếu không đảng đó chỉ là tổ chức ô hợp. Điều này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”1. Do vậy, từ Đường cách mệnh do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thông qua cho đến nay, Đảng ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình.

Chính vì bản chất khoa học và cách mạng, nên chủ nghĩa Mác – Lê-nin ngay từ khi ra đời cho đến nay luôn bị các thế lực thù địch điên cuồng chống phá. Bất chấp điều đó, những người có lương tri trên thế giới vẫn khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Thật vậy, tuần báo Giải phóng (tiếng nói của hàng vạn chiến sĩ cách mạng các nước Mỹ - Latinh, trụ sở tại Thụy Điển), ngày 07-7-1995 cho rằng, “chủ nghĩa Mác được phân tích một cách khoa học và cơ bản vẫn là lý luận xã hội có hiệu lực trước tình hình thế giới hiện nay” và rằng, “chủ nghĩa xã hội là câu trả lời duy nhất có giá trị để giải quyết những vấn đề của xã hội hiện tại trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản”2. Đại hội Mác quốc tế họp ở Pa-ri (Pháp) từ ngày 27 đến ngày 30-9-1995, nhân kỷ niệm 100 năm chủ nghĩa Mác3, với 500 đại biểu của gần 100 viện nghiên cứu, tạp chí mác-xít và 30 trường đại học từ 22 nước trên thế giới đến dự đã đánh giá: “tư tưởng của Mác vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của nó trong thế giới đương đại… gương mặt của Mác vẫn là biểu tượng phủ nhận trật tự đang thống trị”4. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”; hơn 56% cho rằng, “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”; giới trẻ còn tỏ sự đồng tình cao hơn nữa với C. Mác. Nhà tỷ phú đầu cơ chứng khoán G. Sô-rốt đã viết: “C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã cho một phân tích rất tốt về hệ thống tư bản từ cách đây 150 năm”. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C. Mác mà họ không biết”. Bởi theo Tạp chí Newsweek (Mỹ), C. Mác “đã mổ xẻ cái hệ thống trục lợi này tốt hơn ai hết... như thể C. Mác đã đội mồ đứng dậy!”5.

Thực tế đã chứng minh, chính chủ nghĩa tư bản dù ở phương Đông hay phương Tây cũng đã và đang vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhằm điều chỉnh, thích nghi để tồn tại, làm cho nó giảm bớt các khuyết tật, khiến cho một số người ngộ nhận rằng, chủ nghĩa tư bản là “hình mẫu” các nước cần “noi theo”. Nhưng không, những gì C. Mác phân tích về chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị. Điều đó được chứng tỏ qua kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Cambrit (Anh) công bố năm 1999. Theo đó, C. Mác đứng đầu, đứng thứ hai là A. Anhxtanh - các nhà khoa học lớn của nhân loại. Trường Đại học Tổng hợp Yale (một trường đại học danh tiếng của Mỹ), năm 2011 đã lựa chọn xuất bản cuốn sách Tại sao Mác đúng? của Tery Eagleton (giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste, Vương quốc Anh) đã gây nhiều chú ý của công luận. Tác giả cuốn sách không chấp nhận định kiến cho rằng: “chủ nghĩa Mác đã chết và không cần phải nhắc đến nữa”, nên đã lựa chọn 10 vấn đề phổ biến nhất mà người ta phê phán C. Mác để phân tích, lý giải, đưa ra những minh chứng phản bác. Ngay trong Lời nói đầu cuốn sách, tác giả đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa…”. Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò không thể phủ nhận của C. Mác đối với nhân loại.

Một số người cho rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, nên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể cứ kiên định với lý thuyết lạc hậu (!). Xin nhắc lại kết quả thăm dò của Tạp chí Spiegel (Đức) với hơn 56% số người được hỏi đã cho rằng “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”. Như vậy, người ta đã không phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà phê phán những người áp dụng lý luận ấy một cách máy móc, giáo điều. Vì thế, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Mặc dù vậy, nhưng không thể phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa cộng sản Xô-viết. A. Dinôviép (người tự nhận không phải môn đệ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin) từng chống nhà nước Xô-viết và phải ngồi tù thời còn Liên Xô, sau sống lưu vong ở Mỹ, trước sự sụp đổ của Liên Xô đã cho rằng: “Những thành tựu thời đại chủ nghĩa cộng sản Xô-viết do V.I. Lê-nin mở đầu đã thấm vào máu thịt của loài người… Nhờ có cuộc cách mạng vô sản và tất cả những gì gắn với cuộc cách mạng đó mà nhân loại đã được cứu thoát khỏi sự thụt lùi đáng sợ nhất, thoát khỏi sự suy tàn, thoái hóa”.

Ở nước ta, cho đến nay, chưa có ai đi nhiều, học hỏi, tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa nhân loại như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Với khả năng thiên bẩm và sự trải nghiệm của bản thân, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Vì thế, Hồ Chí Minh không   ngừng nghiên cứu, vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc. Vì vậy, từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta đã có sự bổ sung, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động,…”. Đại hội IX của Đảng làm rõ nội hàm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước và Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH.

Thực tiễn cho thấy, do kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và giành những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, đưa vị thế của Việt Nam ngày một nâng cao trên trường quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi đường lối, chính sách đều hướng tới phục vụ con người, bảo đảm quyền con người ngày một tốt hơn. Vì thế, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật trong bảo đảm quyền con người, trong đó có việc thông qua Hiến pháp năm 2013 (dành hẳn Chương 2 đề cập về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân). Nhiều năm liền, Việt Nam duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao (trên 6%), làm cho thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, năm 2018 đạt 2.590 USD, đứng đầu nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Trong đó, thu nhập của hộ nghèo tăng từ 15% đến 20% giai đoạn 2014 - 2018; cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước còn 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn 7,69% năm 2017. Về bình đẳng giới, tỷ lệ phụ nữ làm chủ cơ sở kinh doanh chiếm 31,6%, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội nhiệm kỳ 2016 - 2021 đạt 26,72%, cao hơn bình quân của thế giới (23,6%). Việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị cũng đạt nhiều thành tựu, trong đó có bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do internet; năm 2018, có 64/97 triệu người sử dụng internet (65,98%), 58/97 triệu tài khoản facebook (59,79%), v.v. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển phong phú với hơn 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và hàng trăm lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra hằng năm. Vì thế, báo chí thế giới có nhiều đánh giá tích cực về Việt Nam, như: “Điều kỳ diệu Việt Nam”, “Việt Nam - ngôi sao đang nổi trên bản đồ kinh tế thế giới”, “Việt Nam - điểm sáng kinh tế thế giới”,… được coi là “tấm gương với nhiều nước đang phát triển trên thế giới”. Đánh giá về nguyên nhân để Việt Nam đạt thành tựu to lớn đó, các chuyên gia, học giả quốc tế đều thống nhất khẳng định: sự ổn định về chính trị là nhân tố quan trọng để Việt Nam thu hút giới kinh doanh, đầu tư trên thế giới. Điều đó chỉ có được dưới sự lãnh đạo của Đảng được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành công trong phòng chống đại dịch COVID19 của Việt nam chúng ta đã được thế giới công nhận, khâm phục.

Từ luận giải trên cho thấy, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của hệ tư tưởng này đối với cách mạng Việt Nam. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển những nguyên lý lý luận ấy, làm cho nó mãi mãi xanh tươi và khẳng định tính đúng đắn trong thực tiễn.

Kiên quyết hơn nữa trong phòng chống “TDB” “TCH”

 


Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..

Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.

Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

 

 


Kiên quyết lên án,loại bỏ việc lợi dụng tôn giáo để làm trái đời, ngược đạo

 


Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những chức sắc, tín đồ chân chính tu hành đúng giáo lý, giáo luật; còn có một số người lợi dụng tôn giáo để thực hiện những hành vi đi ngược với giáo lý của tôn giáo và đạo lý của dân tộc Việt Nam, trái với quy định của pháp luật. Hành vi của số người này đã làm mất thanh danh của tôn giáo, gây bức xúc trong xã hộiNhững việc làm trái đời, ngược đạo

Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Điều 3), đồng thời khẳng định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm: “Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân” và “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi” (Điều 5). Tuy nhiên, thời gian qua, bất chấp pháp luật, đã có một số chức sắc, tín đồ lợi dụng chính tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm đạo đức, vi phạm giáo lý, giáo luật và đi ngược với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Vụ việc xảy ra tại chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh) mà báo chí phản ánh về việc tổ chức "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" thu hàng trăm tỷ đồng, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã kết luận: Việc tổ chức lễ "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" bằng tiền hoặc lao động không công tại chùa là không đúng với nghi lễ Phật giáo truyền thống, làm tổn thương đến thanh danh Giáo hội, đến Tăng đoàn.

Nói đến một số vụ việc phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xảy ra ở các tỉnh miền Trung thời gian vừa qua, dư luận nhắc nhiều đến vị giám mục Nguyễn Thái Hợp, nguyên giám mục giáo phận Vinh (hiện   nay là giám mục giáo phận Hà Tĩnh). Vị này được giao cai quản giáo phận Vinh từ năm 2010 đến 2018. Sau 8 năm thực thi nhiệm vụ, giáo phận Vinh do vị này quản lý từ vùng đất bình yên trở thành “điểm nóng” về an ninh trật tự, thường xuyên xảy ra các vụ vi phạm pháp luật. Giám mục này nhiều lần chẳng những không ngăn cản mà còn để một số chức sắc, giáo dân nơi đây trở thành những người “vô luật”, chống đối chính quyền. Các vị linh mục dưới quyền quản lý như Đặng Hữu Nam (Quản xứ Phú Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Lê Công Lượng (Quản xứ Xuân Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An)… đã kích động, lôi kéo một bộ phận tín đồ, chức sắc, nhân dân tham gia biểu tình gây rối, đập phá tài sản, cản trở giao thông, bắt giữ người trái pháp luật, tấn công người thi hành công vụ; thậm chí có linh mục còn nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Mới đây nhất, nhân vụ việc 39 người Việt tử vong trong container ở Vương quốc Anh, trên trang facebook cá nhân, linh mục Đặng Hữu Nam đã có nhiều bài viết, bài nói và việc làm xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng. Vị linh mục này đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước gây ra nghèo đói, khiến người dân phải bỏ đất nước ra đi kiếm sống… Vị này còn phát lên trang cá nhân những clip truyền giảng trong giáo đường với ngôn từ tục tĩu, kích động, thậm chí xuyên tạc cả tôn giáo khác. Những lời nói lộng ngôn, coi thường đạo lý và những hành động ngông cuồng của số chức sắc nêu trên không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn vi phạm nghiêm trọng giáo lý, giáo luật của Công giáo.    

Biến mình thành một lực lượng chính trị là sai giáo luật Công giáo

Nhắc đến giáo xứ Thái Hà (Hà Nội), người ta nghĩ ngay đến linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong. Năm 2016, thay vì rao giảng đạo đức, răn dạy những điều hay lẽ phải, khuyên bảo giáo dân “sống phúc âm trong lòng dân tộc” thì vị linh mục này lại lợi dụng các bài giảng thánh lễ để rao giảng những lời lẽ xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, kích động giáo dân chống đối Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Chính vị này đã nhiều lần kích động đòi chính quyền địa phương trả các khu đất cho cơ sở tôn giáo mà không có căn cứ pháp lý. 

Cần khẳng định rằng, bản chất của tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Jesus hay Đức Chúa Trời... không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.

Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Tuy nhiên, số chức sắc, tín đồ vì lợi ích cá nhân hay số linh mục, giáo dân cực đoan, quá khích, vì động cơ chính trị không trong sáng mà có hành vi làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của họ, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam, chống lại chính dân tộc mình, chống lại chính người thân của họ.

Hãy hổ thẹn và biết sửa mình

Một số người làm sai như trên thật sự là những "con sâu làm rầu nồi canh". Nhìn tổng thể thì nhiều năm vừa qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng nghìn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý, như: Sư thầy Thích Thanh Sơn (chùa Vạn Thọ, TP Hồ Chí Minh) đã khám, chữa bệnh miễn phí cho hàng nghìn người nghèo; sư thầy Thích Thiện Chiếu (chùa Kỳ Quang II, TP Hồ Chí Minh) nuôi dạy hàng trăm trẻ em mồ côi, chất độc da cam, cấp thuốc miễn phí cho hàng nghìn lượt bệnh nhân nghèo; ông Đoàn Văn Hổ (Trưởng ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh Biên, An Giang) quyên góp hàng tỷ đồng xây cầu, xóa đói, giảm nghèo; xây nhà cho người nghèo; bà Nguyễn Thị Lan (75 tuổi, giáo dân ở Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) đã quyên góp xây dựng hàng chục căn nhà tình nghĩa; trao hàng nghìn suất học bổng tặng các học sinh nghèo...

Các vị chức sắc, tín đồ làm điều sai trái cần cảm thấy hổ thẹn với những tấm gương chức sắc, tín đồ chân chính đang ngày đêm nỗ lực thực hành giáo lý, giáo luật, đóng góp công sức, tiền của nhằm xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp, phồn vinh hơn.

Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân nhưng cũng nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để lừa đảo, mua chuộc, dụ dỗ, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng đến TTATXH. Thực hành tôn giáo đúng nghĩa luôn được xây dựng trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người khác, của xã hội. Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Vì vậy, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam.