Thuật ngữ “ngụy” là gì?
Gọi các chính quyền, quân đội đánh thuê của giặc xâm lược trước 1975 là “ngụy” thì có đúng lịch sử hay không, có hợp tình hợp lý hay không, có làm cho người nghe, người đọc khó chịu, phản cảm hay không, có trở ngại gì cho vấn đề đoàn kết dân tộc hay không?
Theo kinh nghiệm của người viết, những người khó chịu, mẫn cảm, dị ứng từ “ngụy” này là những người thiếu thông tin về cuộc chiến Việt - Pháp, Việt - Mỹ, mù mờ, mơ hồ, chưa biết nhiều vấn đề trong lịch sử hiện đại Việt Nam, họ không hiểu bản chất của những cuộc chiến này, họ không hiểu rõ bản chất của các ngụy quân, ngụy quyền, và họ cũng không hiểu ý nghĩa của từ “ngụy” theo góc độ thuật ngữ chính trị. Họ tưởng rằng từ “ngụy” là một từ gì đó mang tính lăng mạ, miệt thị, mạt sát v.v.
Tại Việt Nam, xưa nay do ảnh hưởng văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa, nên trong dân gian có 2 từ “Ngụy” (魏, 偽). Nó là 2 chữ gốc Hán khác nhau, với 2 ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên, khi chữ Hán được Việt hóa thành Hán Việt (phát âm theo lối Việt) thì đều là "ngụy".
Một "Ngụy" (魏) là danh từ, để chỉ nước Ngụy, 1 trong 6 nước trong thời Chiến quốc (TQ), và nhà Ngụy của Tào Tháo trong thời Tam quốc (TQ), vì họ Tào cũng là dòng dõi nhiều đời của nước Ngụy. "Ngụy" này còn là một họ người thông dụng ở Trung Quốc (Ngụy Diên, Ngụy Nguyên v.v.).
Còn "ngụy" ( 偽 ) kia là một tính từ, để nói lên tính chất giả, ảo, không thật, không chính danh, bất hợp pháp, “hữu danh vô thực” của đối tượng nào đó. Nói về cái gì đó không phải thật, không có thực chất. Như "ngụy quân tử", "ngụy trang", "ngụy ngôn", “ngụy biện”, "ngụy tạo", "trá ngụy", "ngụy quyền", "ngụy triều" v.v. Trong hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam, thì dân gian Việt Nam, nhất là ở miền Nam dùng từ này quá lâu ngày thành quen miệng và nó dần trở thành một danh từ chung để chỉ ngụy quyền Sài Gòn 1954-1975. Khi nghe nói "bọn ngụy" thì hiểu ngay là người nói đang nói về ngụy quyền Sài Gòn này.
Trong lịch sử Việt Nam có 4 triều đại đã từng bị coi là ngụy triều, nhưng bản chất khác hẳn nhau. Đó là:
- Nhà Hồ và nhà Mạc, vì soán ngôi nên bị các sử gia Khổng-Nho phong kiến gọi là "ngụy triều".
- Nhà Tây Sơn, do cả 2 đối thủ của nhau đều là họ Nguyễn. Cho nên nhà Nguyễn cho rằng mình đã là một triều đại chính thống từ thời chúa Nguyễn Hoàng, cho nên Nguyễn Tây Sơn là “ngụy Nguyễn”, còn mình mới là “chân Nguyễn”, là chính thống hoàng tộc. Các sử gia sau này còn gọi nhà Nguyễn là "cựu Nguyễn", Tây Sơn là "tân Nguyễn" để phân biệt. Điểm khác biệt với các thời kỳ lịch sử khác là chỉ có duy nhất nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là "ngụy", trong phạm vi triều đình. Còn dân gian thì không gọi thế, mà họ coi Tây Sơn là anh hùng, họ xây đền thờ vua Quang Trung, bốn mùa khói nhang nghi ngút.
- Kể từ thời Tự Đức trở đi, các triều đại nhà Nguyễn sau này đều là bù nhìn của Pháp, cho nên đều bị các sĩ phu Bắc - Trung - Nam gọi đó là những ngụy triều bù nhìn. Bắt đầu từ cụ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, cho đến nhà thơ Tú Mỡ sau này. Cụ Phan Bội Châu gọi là “ngụy triều Hiệp Hòa”, “ngụy triều Đồng Khánh”, “ngụy triều Khải Định” v.v. khi luận về phong trào Cần vương, để phân biệt các triều đình bù nhìn này với triều đình Hàm Nghi chống Pháp do Tôn Thất Thuyết phò tá.
Sau này phát xít Nhật, thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ dựng lên các ngụy quyền bù nhìn ở miền Nam Việt Nam thì chúng ta cũng gọi đó là những ngụy quyền. Có lẽ khởi đầu từ vở kịch nổi tiếng "Phá Mưu Bù Nhìn" của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.
Thời đó bất kỳ lính tráng, quan chức người Việt nào dưới quyền Nhật, Pháp, Mỹ, thậm chí Tàu Tưởng, thì chúng ta gọi là ngụy. Cụ Phan Châu Trinh khi viết về sự hy sinh của tướng quân Cao Thắng trong nghĩa quân Phan Đình Phùng, cũng viết là: Cao tướng quân bị sĩ quan Pháp và vài trăm ngụy binh đón đánh. Tính từ "ngụy" này đã được dân ta sử dụng từ lâu rồi.
“Quốc gia Việt Nam”, “Việt Nam Cộng hòa” không phải là những chính quyền đúng nghĩa, đại bộ phận người dân miền Nam gọi họ là ngụy quyền, là bọn ngụy, ngụy quân ... Họ không hội đủ tiêu chuẩn, điều kiện, căn cước của một chính quyền. Họ không có thực quyền. Không những họ đã không chính danh, đã được khai sinh ra một cách bất hợp pháp lên trên lãnh thổ của người khác, mà trên thực tế họ cũng không có quyền, họ chỉ làm theo ý chủ, họ không thể làm gì đi ngược lại với ý của chủ, lợi ích của chủ. Do đó họ là ngụy quyền. Người ta gọi là "ngụy quyền" là để phân biệt với những chính quyền đúng nghĩa. Ngụy quyền = chính quyền giả, ảo, chỉ có hư danh, “hữu danh vô thực”, “có tiếng không có miếng” v.v.
Ngón võ truyền thống của bọn xâm lược là đi vào đất của người khác rồi dựng lên một đám bù nhìn, tay sai, rồi gọi đó là một "chính quyền" rồi bảo rằng mình không xâm lược mà mình đang giúp cái "chính quyền" đó. Theo đó Nam Hán “giúp” Kiều Công Tiễn chứ không phải xâm lược đất Việt. Nguyên Mông “giúp” Trần Kiện, Trần Ích Tắc lên ngôi vua chứ không phải xâm lược Đại Việt. Quân Minh “phù Trần diệt Hồ” chứ không phải xâm lược Đại Ngu. Giặc Thanh “phò Lê diệt Tây Sơn”, “giúp Lê Chiêu Thống” chứ không phải xâm lược Bắc Hà. Thực dân Pháp "bảo hộ" nhà Nguyễn chứ không phải xâm lược Đại Nam. Sau này thì Mỹ là "đồng minh" của "Nam Việt Nam", của "VNCH", chứ không phải là xâm lược miền Nam Việt Nam, giặc bành trướng Bắc Kinh chỉ muốn “chống bè lũ Lê Duẩn”, “giúp đỡ Hoàng Văn Hoan”, “ủng hộ nhân dân VN chống Lê Duẩn”, “giúp đồng chí Hoàng Văn Hoan, người bạn tốt của nhân dân TQ, lật đổ tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ”, “dạy cho Việt Nam bài học”, “Việt Nam là côn đồ nên phải đánh” v.v. chứ không phải là xâm lược miền Bắc Việt Nam.
Để vạch trần thủ đoạn chính trị đó, từ xưa dân ta, đặc biệt các sĩ phu, các nhà nho, thường sâu sắc và thâm thúy gọi những đối tượng này là "ngụy", "ngụy triều", "ngụy quyền" để phân biệt với các triều đình, chính quyền thật sự. Cũng như sau thời Tự Đức thì các sĩ phu Bắc Hà và ở kinh thành Huế vẫn thường gọi các triều đình bù nhìn nhà Nguyễn dưới sự “bảo hộ” của Tây là "ngụy triều Hiệp Hòa", "ngụy triều Đồng Khánh", "ngụy triều Khải Định", "ngụy quyền Bảo Đại" v.v. Dân tộc ta có kinh nghiệm lịch sử mấy ngàn năm đối phó với chính trị thâm nho Hán tộc Trung Hoa, đã nhìn thấy qua bao nhiêu chiêu bài của giặc, thì không lẽ bị hoa mắt bởi những chiêu bài chính trị, những mỹ từ chính trị bịp bợm của người Mỹ chỉ có vài trăm tuổi?
Chỉ có một bộ phận nào đó là ngộ nhận hoặc tham lam theo giặc rồi tự lừa dối bản thân, còn đại khối dân tộc ta thông minh, có nhận thức chính trị sâu sắc và sắc bén sau hàng ngàn năm giữ nước và tiền nhân đã truyền lại bao nhiêu bài học lịch sử.
Chưa nói đến các nhân sĩ, trí thức, sinh viên, những người có học vấn, ngay cả những người dân quê chân lấm tay bùn tuy họ có thể chưa đủ trình độ để diễn giải, phân tích ra được, thuyết phục ra bằng lời nói hoặc bằng chữ viết được, nhưng họ vẫn có cái nhìn “ngàn năm” đó, họ thấy, họ nghe, họ biết, họ nhận thức đúng, họ biết phải theo ai, ủng hộ ai, giúp đỡ ai, đào hầm che giấu ai, và phải chống lại ai.
Truyền thống chống xâm lược và đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam là vẫn thế, và không có chiêu bài chính trị nào có thể lừa gạt được dân tộc VN, phía xâm lược có thể lừa được, gây mơ hồ được cho một bộ phận nào đó, chứ không thể lừa dối được đại khối dân tộc, bất kể giặc xâm lược dùng cao chiêu, cách thức, phương pháp, thủ thuật chính trị nào, xâm lược dưới danh nghĩa gì, dưới bình phong nào, hay dưới hình thức nào, cũng không qua mắt được nhân dân.
Dân Việt Nam mình có thể còn kém dân trí về khoa học kỹ thuật, về văn minh đô thị, về kinh tế, về nhiều việc khác, nhưng về con mắt chính trị và quân sự (nhất là trong thời chiến, thời loạn) thì luôn rất tinh tường, do dân ta đã lăn lộn quanh nó suốt cả ngàn năm nay để vượt qua mà sống còn, sinh tồn.
Thực tế trước 1975 cũng cho thấy, ở miền Nam khi bắt liên lạc và tiếp cận với các gia đình, làng mạc để xây dựng căn cứ bí mật, nương nhờ vào sự giúp đỡ của người dân, thì chỉ cần một hoặc vài anh bộ đội, anh chị du kích đến xin phép ngắn gọn là đủ. Không phải ngồi tuyên truyền, giải thích, phân tích gì dông dài học thuật. Không cần chính trị viên hay cán bộ Tuyên huấn nào có mặt để mà giảng giải, phân tích học thuật, thuyết phục hàn lâm gì về cuộc chiến lúc đó.
Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, là Bộ trưởng Ngoại giao thời Obama) đã làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện Mỹ năm 1971 như sau:
“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn), bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này”.
Người dân ai cũng quá hiểu cuộc chiến là thế nào, đến khi gặp quân Giải phóng, du kích quân, là họ tình nguyện giúp đỡ, nuôi giấu ngay, như một phản ứng tự nhiên, như đó là chuyện nên làm, đáng làm, đương nhiên phải làm, không có gì phải ưu tư, đắn đo, lo nghĩ, chọn lựa, hay phải ngồi đó phân tích, nghĩ ngợi xem bản chất cuộc chiến là gì, họ đã quá rõ, quá hiểu từ trước.
Sau năm 1973 thì sao, có phải là “nội chiến” không?
Cũng như trước đó, khi Mỹ chưa đổ đại quân vào, thì lúc đó có phải là nội chiến hay không? Đương nhiên là không! Vì trong bất kỳ giai đoạn nào từ 1954-1975 thì Mỹ vẫn là người lãnh đạo cuộc chiến. Đó là một cuộc chiến liên tục, tiếp nối nhau từ kháng Pháp - Mỹ đến 1954, và chống toàn Mỹ đến 1975. Quân đội “VNCH” là do thực dân Pháp thành lập, dữ kiện này ghi rõ trong sách giáo khoa Sài Gòn trước 1975 và nhiều tài liệu của các sĩ quan ngụy. Như vậy quân đội này là của Pháp. Sau đó Mỹ vào dùng và vá lại bằng tổ chức kiểu Mỹ. Nhiều tài liệu của Mỹ cũng cho biết như vậy. Trong bài "Lesson of the Vietnam War" của cựu sĩ quan Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg ghi rõ các lý do mà Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, trong đó có lý do thứ hai: "Bởi vì việc tra tấn và giết chóc thiếu nhân tính đang được thực hiện bởi đội quân mà Hoa Kỳ trang bị, huấn luyện và trả lương."
Trong giai đoạn 1973-1975, về cơ bản là ngụy quân vẫn chiến đấu cho Mỹ, cho quyền lợi của Mỹ, theo sự chỉ đạo của Mỹ, theo ý Mỹ, phục vụ cho chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, và vẫn do Mỹ nuôi. Mỹ buông ra là chết. Như vậy trong giai đoạn này là một hệ thống thực dân mới (người bản xứ trực tiếp chiến đấu, làm việc, quản lý, còn người chủ đứng ngoài kiểm soát, thao túng, và tài trợ, đỡ đầu, chống lưng và hưởng lợi). Giai đoạn 1964 đến 1973 là giai đoạn gần như thực dân cũ, nghĩa là Mỹ trực tiếp vào làm, trực tiếp vào đánh.
Sở dĩ Mỹ đưa gần 60 vạn quân vào miền Nam Việt Nam là để giữ cho chính quyền bù nhìn của họ khỏi bị sụp đổ. Sau này tổng thống Nixon thú nhận nếu lúc đó Mỹ không đem đại quân vào Nam thì chính quyền phục vụ cho họ sẽ sụp đổ. Sau này quân Mỹ chết quá nhiều, nhất là sau trận Mậu Thân, cả thế giới, cả nước Mỹ và Lưỡng viện Mỹ kêu ca, trong nội bộ chính quyền Mỹ mâu thuẫn trầm trọng, nên đành rút về để quân bản xứ đánh thay tiếp tục.
Bản chất cuộc chiến là xuyên suốt, không nên ngộ nhận rằng có cuộc chiến nào khác chỉ vì Mỹ "đem quân vào, rút quân ra". Các tài liệu nước ngoài cũng không ai chia cuộc chiến này ra làm 3 giai đoạn cả. Đây là một cuộc chiến xuyên suốt đến 1975. Đối với Mỹ, chỉ có 1 Vietnam War chứ không có 3 cuộc chiến tranh khác nhau./.
Ảnh 1: Trong tiếng Anh người Mỹ gọi thẳng chế độ Sài Gòn- VNCH là puppet state (chính quyền bù nhìn), puppet government (chính phủ bù nhìn), puppet armed forces (quân đội bù nhìn)….
Ảnh 3: Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, là Bộ trưởng Ngoại giao thời Obama) đã
Ảnh 4: Một tốp lính của Việt Nam Cộng hòa - ngụy chặt đầu đối phương và giơ lên khoe (bên trái có một lính trẻ em cũng tham gia trong hình).
QV-ST!





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét