Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021

Những điểm mới về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

 

1. Làm rõ hơn vai trò, định hướng phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, nhưng mỗi thành phần kinh tế có vai trò khác nhau, có yêu cầu về định hướng phát triển khác nhau. Những quan điểm này đã được khẳng định trong các Văn kiện Đại hội Đảng nhiều nhiệm kỳ. Điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII là xác định rõ hơn vai trò và định hướng phát triển của các thành phần kinh tế, một nội dung rất quan trọng để hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa[1].

Kinh tế nhà nước được xác định là giữ vai trò chủ đạo, Văn kiện Đại hội XIII làm rõ hơn vai trò chỉ đạo này của kinh tế nhà nước: kinh tế nhà nước là công cụ , lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường. Kinh tế thị trường phải vận hành theo cơ chế thị trường, những cơ chế thị trường, bên cạnh những tác động tích cực, cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với đất nước, xã hội, do đó,  Nhà nước, cùng với công cụ luật pháp, chính sách, phải có lực lượng vật chất để khắc phục những tác động tiêu cực này, để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững cả về kinh tế - xã hội - môi trường. Hai lực lượng, hai bộ phận của kinh tế nhà nước được sử dụng để thực hiện vai trò này là các nguồn lực kinh tế của Nhà nước (đất đai, tài nguyên, nguồn vốn, tài sản thuộc sở hữu nhà nước) và doanh nghiệp nhà nước. Cả hai bộ phận này, hai lực lượng này, khi được sử dụng, đều vừa phải theo cơ chế vận hành chung của nền kinh tế là cơ chế thị trường, vừa phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của Nhà nước phải thực hiện qua đấu thầu công khai, minh bạch, có sự tham gia, cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhưng việc sử dụng các nguồn lực này cũng phải phù hợp, góp phần vào thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Doanh nghiệp nhà nước được đầu tư, phát triển tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh, cần thiết, quan trọng đối với đất nước, khi các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được làm, không muốn làm, không làm được; hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với những nội dung như vậy, không phải là chiếm tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành phần kinh tế khác.

Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là các hợp tác xã, trong các Văn kiện Đại hội XIII, được xác định là có phạm vi hoạt động rộng lớn ở các ngành, lĩnh vực, địa bàn, được hình thành trên cơ sở liên kết tự nguyện của những người sản xuất nhỏ, các hộ gia đình, người sản xuất kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Các hợp tác xã không làm mất tính tự chủ của các thành viên; vai trò của hợp tác xã là cung ứng các dịch vụ như cung ứng vật tư, các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh, cung ứng các dịch vụ sản xuất và thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho các thành viên; phối hợp, liên kết hoạt động của các thành viên, bảo vệ lợi ích của các thành viên khi tham gia thị trường, nhất là khi phải cạnh tranh với các chủ thể kinh tế lớn khác, tạo điều kiện cho các thành viên giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ phát triển các hợp tác xã để các hợp tác xã mở rộng, tăng thêm thành viên, mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng cho thành viên, tăng thêm tài sản, vốn quỹ thuộc sở hữu tập thể và liên kết với các hợp tác xã khác, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã. Đây là cách thức phù hợp để giúp đỡ, hỗ trợ những người sản xuất nhỏ trong nền kinh tế thị trường, là con đường phù hợp để đưa những người sản xuất nhỏ phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế và nói rõ hơn: cần xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, có tiềm lực mạnh, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp, đóng góp khoảng 55% GDP và đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, đóng góp vào GDP đất nước đạt 60 - 65%. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII chủ trương định hướng phát triển kinh tế tư nhân theo hình thức công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động và hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã, kinh tế hộ. Kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng đó sẽ không mâu thuẫn mà đóng góp tích cực vào phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.

- Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước, có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, Đại hội XIII chủ trương chuyển trọng tâm thu hút đầu tư từ lượng sang chất, có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc những dự án có công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, kết nối chặt chẽ, hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia vào mạng lưới sản xuất kinh doanh, chuỗi giá trị toàn cầu.

 

2. Xác định rõ hơn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong cơ chế vận hành của nền kinh tế hiện đại có vai trò của điều tiết thị trường, đồng thời có vai trò quản lý của Nhà nước và có vai trò của các tổ chức xã hội. Quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là những quan hệ cơ bản tạo nên cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường hiện đại. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế vừa vận hành đồng bộ, đầy đủ theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; do đó, yêu cầu trong lãnh đạo quản lý nền kinh tế phải xử lý tốt mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) đã bổ sung thêm yếu tố xã hội vào mối quan hệ này, yêu cầu phải quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ và tiếp tục yêu cầu phải nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý nền kinh tế; đồng thời, có nhiều nhận thức mới, quan điểm mới làm rõ hơn mối quan hệ này. Văn kiện Đại hộ XIII xác định[2]:

- Nhà nước ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức, xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo ra khung khổ pháp luật cho sự hình thành, hoạt động và định hướng cho hoạt động của các thị trường, các tổ chức xã hội. Đồng thời, Nhà nước sử dụng các lực lượng kinh tế của mình tham gia vào thị trường và bằng công tác tuyên truyền vận động, thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể kinh tế, các tổ chức xã hội để tác động, định hướng, điều chỉnh hoạt động của thị trường và các tổ chức xã hội. Song, mặt khác, ở chiều ngược lại, Nhà nước theo dõi tình hình thị trường, những biến động của giá cả, cung - cầu, đầu tư, hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường và lắng nghe ý kiến góp ý, phản ánh, phản biện của nhân dân, các tổ chức xã hội đối với luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước để nắm bắt đúng nhu cầu của xã hội, đúng thực trạng của nền kinh tế, nhất là những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Đây là những cơ sở để Nhà nước điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện thể chế luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đồng thời, việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của nhà nước (đất đai, tài nguyên, nguồn vốn, tài sản của Nhà nước) và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước phải được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự giám sát của nhân dân, các tổ chức xã hội, việc phân bổ nguồn lực kinh tế của Nhà nước phải thông qua đấu thầu cạnh tranh, công khai, minh bạch, các doanh nghiệp nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

- Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ. Chỉ trừ một số hàng hóa đặc biệt thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước, giá cả do Nhà nước quyết định, đối với tuyệt đại bộ phận hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất và tiêu dùng xã hội, giá cả là do các quan hệ cung - cầu, cạnh tranh, chi phí sản xuất, các quan hệ kinh tế trên thị trường quyết định hết sức linh hoạt. Thị trường tạo ra động lực huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Những biến động của quan hệ cung - cầu, giá cả trên thị trường là động lực để những người nắm giữ các nguồn lực quyết định đầu tư, đưa các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nào, sản phẩm nào, địa bàn nào hay rút các nguồn lực khỏi đầu tư, chuyển đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ sản phẩm này sang sản phẩm khác để có hiệu quả cao nhất. Thị trường là yếu tố trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp một cách linh hoạt. Hàng hóa, dịch vụ sẽ được chuyển từ nơi được bán với giá thấp (cung lớn hơn cầu) sang nơi bán được giá cao (cung nhỏ hơn cầu). Doanh nghiệp sẽ điều chỉnh sản xuất, thu hẹp hoặc đình chỉ sản xuất hàng hóa dịch vụ cung đã vượt cầu chuyển sang sản xuất những hàng hóa, dịch vụ cung nhỏ hơn cầu để có hiệu quả cao. Những doanh nghiệp, người sản xuất kinh doanh nào thích ứng được với những biến động của thị trường, tận dụng được cơ hội sẽ phát triển, ngược lại, doanh nghiệp, người sản xuất kinh doanh nào không theo kịp sự biến động, phát triển của thị trường sẽ thua lỗ, phá sản. Thị trường tạo cơ chế thanh lọc những doanh nghiệp, người sản xuất kinh doanh yếu kém, thúc đẩy kinh tế phát triển.

- Các tổ chức xã hội có vai trò liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên, hội viên; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động của các thành viên, hội viên, bảo vệ lợi ích của các thành viên, hội viên. Bằng những hoạt động này, các tổ chức xã hội có tác động tới sản xuất, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, tác động tới tình hình thị trường. Các tổ chức xã hội có thể phát hiện, đấu tranh với các hoạt động gian lận, tình trạng độc quyền, đầu cơ, thao túng thị trường, cạnh tranh không lành mạnh, làm méo mó thị trường... Đồng thời, các tổ chức xã hội đại diện cho các thành viên, hội viên phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, hội viên, của các doanh nghiệp, người tiêu dùng, các tầng lớp nhân dân với Nhà nước; tham gia đóng góp ý kiến, phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước để luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước được điều chỉnh, bổ sung kịp thời đòi hỏi của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của đất nước, lợi ích của nhân dân, không bị “lợi ích nhóm” chi phối; tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong thực thi chức năng nhiệm vụ, bảo đảm luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước được thực thi nghiêm túc, đúng đắn, có hiệu quả, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

 

 

3. Đề ra nhiều nhiệm vụ mới, nội dung mới để tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong những năm tới[3]

- Tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia. Sửa đổi những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, tháo gỡ những điểm nghẽn, cản trở sự phát triển. Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Nghiên cứu, sửa đổi luật Ngân sách nhà nước, đổi mới cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của Ngân sách Trung ương phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Sửa đổi hệ thống luật và chính sách thuế, phí, lệ phí theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đổi mới  các chính sách quản lý đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp, bãi bỏ các giới hạn về đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện. Đẩy nhanh xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với việc xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số...

- Hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường. Bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa, dịch vụ, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ, kể cả các dịch vụ công cơ bản, thu hẹp những loại hàng hóa, dịch vụ giá do Nhà nước quyết định. Phát triển đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt các thị trường theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế. Phát triển thị trường các yếu tố sản xuất để thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực phát triển và quản lý chặt chẽ thị trường đất đai, bất động sản. Phát triển đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính, tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm trên nền tảng ứng dụng công nghệ số. Phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học công nghệ để khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Phát triển thị trường lao động linh hoạt gắn với cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội. Phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ theo các phương thức tổ chức, giao dịch văn minh, hiện đại. Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý hỗ trợ cho hoạt động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp...

- Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tháo gỡ những vướng mắc về thể chế để đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tạo điều kiện thúc, đẩy doanh nghiệp nhà nước đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, quản trị doanh nghiệp hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động trong cơ chế thị trường; đồng thời, quản lý chặt chẽ không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Sửa đổi, bổ sung luật pháp, chính sách để hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, trang trại trong nông nghiệp, các ngành, lĩnh vực. Tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường, cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập của người lao động và tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng, hỗ trợ tiến trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số, phát triển ngân hàng số. Khuyến khích phát triển và nâng cao hiệu quả các dự án đối tác công - tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng. Ưu tiên thu hút những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, có liên kết, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

- Hoàn thiện thể chế nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung luật pháp, chính sách liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế đã ký; gắn chặt chủ động, hội nhập quốc tế với nâng cao nội lực, độc lập tự chủ của đất nước. Thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với nội dung và lộ trình linh hoạt phù hợp với đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh của từng ngành, lĩnh vực, với điều kiện và mục tiêu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Nâng cao mức độ và chất lượng hội nhập để mở rộng thị trường, tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kiến thức và kỹ năng quản lý phải gắn kết, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và làm chủ thị trường trong nước; phải góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và phải gắn kết với nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài, chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế.

Những điểm mới về đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

 

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển “từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, tính bền vững” là chủ trương đã được Đảng đề ra từ Đại hội XI[1]. Đại hội XII tiếp tục xác định “Mô hình tăng trưởng trong thời gian tới kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế, phát triển nhanh, bền vững”[2]. Qua hai nhiệm kỳ Đại hội XI và XII (10 năm), việc thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế tuy đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn chưa tạo được bước chuyển căn bản sang mô hình phát triển kinh tế mới. Hơn nữa, trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và đất nước, nhất là tác động của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề ra nhiệm vụ “đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng” với nhiều nội dung mới, yêu cầu mới[3].

 

 

1. Những điểm mới trong mục tiêu và định hướng chung

Điểm mới của Văn kiện Đại hội XIII là yêu cầu việc tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng cần phải được đẩy mạnh hơn, thực hiện mạnh mẽ hơn, với những giải pháp đầy đủ, đồng bộ hơn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đạt mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế ở mức cao hơn, cụ thể là:

- Văn kiện Đại hội XIII xác định cần phải “đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng”, “chuyển mạnh” nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng mới, “tạo bứt phá” trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đại hội XII đề ra các chỉ tiêu phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ (năm 2020): Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế khoảng 30-35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng 5%/năm. Đại hội XIII đề ra chỉ tiêu đến năm 2025: Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 45%; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân trên 6,5%/năm và đến năm 2030: đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt 50%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt trên 6,5%/năm.

- Văn kiện Đại hội XIII xác định rõ trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới, việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh phải dựa trên tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là việc ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nhân lực chất lượng cao; sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực, các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế, có công nghệ cao, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; cơ cấu lại các doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng các công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới quản lý theo hướng hiện đại... Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được đẩy mạnh bằng động bộ nhiều giải pháp, trong nhiều ngành, lĩnh vực.

 

2. Những chủ trương mới, quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế trong những năm tới

- Nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số. Đại hội XIII xác định phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của đổi mới mô hình tăng trưởng, cũng như của tăng trưởng kinh tế; từ đó, yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học - công nghệ; ưu tiên chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế; khuyến khích nhập khẩu, chuyển giao công nghệ tiên tiến của thế giới, nâng cao năng lực hấp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, công nghệ mới, ưu tiên công nghệ số, kết nối 5G và sau 5G, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, Internet kết nối vạn vật, an ninh mạng, năng lượng sạch, công nghệ môi trường để nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực kinh tế, các doanh nghiệp, cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa; chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, các tổ chức và hoạt động xã hội. Lấy việc nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của khoa học - công nghệ.

Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu, rộng. Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục đào tạo, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển con người toàn diện. Chú trọng xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên gia, đội ngũ nhân lực kỹ thuật và quản trị công nghệ, quản trị doanh nghiệp. Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, trong quản lý, quản trị Nhà nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nghề nghiệp, đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi ngành nghề do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ, hình thành đội ngũ lao động lành nghề, có kỹ năng làm việc, tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

 

 

- Cơ cấu lại, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số; tập trung phát triển những ngành công nghiệp nền tảng, nhất là công nghiệp cơ khí, chế tạo, luyện kim, hóa chất, phân bón, vật liệu công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao, công nghệ mới như công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học, sản xuất ôtô, robot, thiết bị, phương tiện vận hành tự động, điều khiển từ xa, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu. Dựa trên công nghệ mới, hiện đại để phát triển các ngành công nghiệp vẫn còn lợi thế (chế biến nông sản, dệt may, da giày...) tạo nhiều việc làm, hàng xuất khẩu, tập trung vào các khâu có giá trị gia tăng cao. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, thực sự trở thành mũi nhọn công nghiệp quốc gia. Phấn đấu đến năm 2025, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 25% GDP, kinh tế số đạt khoảng 20% GDP và đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 40% GDP, kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, năng lực thiết kế, thi công xây lắp, quản lý xây dựng theo hướng tiên tiến, hiện đại, đủ sức thực hiện những công trình xây dựng lớn, hiện đại, phức tạp trong nước và thế giới. Phát triển các loại vật liệu xây dựng mới, thông minh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường; trong đó, ưu tiên phát triển những công nghệ tiên tiến, hiện đại, mức độ tự động hóa cao, sử dụng tối đa công nghệ số, công nghệ nano, vật liệu không nung, sử dụng nhiên liệu tái chế, các loại chất thải để sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, phát triển kinh tế tuần hoàn.

Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát huy tiềm năng, lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuẩn mực quốc tế, có giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững. Trên cơ sở bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển các loại cây, con có lợi thế, có giá trị cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường, thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu, biến đổi khí hậu ở từng vùng. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ để đổi mới, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ trong mọi khâu, mọi lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp, nhất là công nghệ gien, công nghệ sinh học, công nghệ số trong sản xuất, quản lý sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, mạng sản xuất, nhân rộng mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp. Quan tâm tới xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, tuân thủ quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm định chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ, nhất là những dịch vụ có lợi thế, dịch vụ có giá trị gia tăng cao trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ số, các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung phát triển mạnh một số ngành dịch vụ như: du lịch, thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, vận tải, logistic, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn pháp lý... Hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, kiểm toán, các dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, dịch vụ văn hóa, thể thao... Nâng cao tính chuyên nghiệp, văn minh, hiện đại theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế, khả năng cạnh tranh quốc tế của các dịch vụ.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng với một số công trình hiện đại. Tập trung đầu tư các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, nhất là về giao thông, thủy lợi, năng lượng, hạ tầng kỹ thuật số để khắc phục cơ bản những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển, tăng cường kết nối với các vùng, các trung tâm kinh tế trong nước, kết nối với khu vực và quốc tế. Xây dựng cơ chế đẩy mạnh huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, đa dạng hóa hình thức đầu tư trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng.

Tập trung xây dựng phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc, đến năm 2025 hoàn thành đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, 1.700 km đường ven biển từ Quảng Ninh đến Cà Mau, ưu tiên đoạn ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long; đến năm 2030 cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc. Quan tâm đúng mức đến phát triển giao thông đường sắt, chuẩn bị triển khai xây dựng một số đoạn đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Đẩy nhanh tốc độ xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc, quốc lộ quan trọng; tuyến vành đai đô thị lớn, các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; hạ tầng giao thông cho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Triển khai xây dựng giai đoạn 1 của Cảng hàng không quốc tế Long Thành; mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; đầu tư nâng cao năng lực của hệ thống cảng biển.

Nâng cấp, phát triển hạ tầng thủy lợi, thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng, nâng cấp hệ thống các công trình thủy lợi theo hướng da mục tiêu, bảo đảm an ninh nguồn nước gắn với phòng chống thiên tai. Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, hồ chứa nước trọng yếu ở vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Tăng cường năng lực hệ thống hạ tầng (cống, đập, đê sông, đê biển ngăn mặn, giữ nước ngọt, chống sạt lở...) ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, chống ngập úng ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng năng lượng, đẩy nhanh tiến độ đầu tư và đưa vào vận hành các dự án nguồn điện và tuyến tải điện, khuyến khích phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, sinh hoạt của nhân dân ở mọi địa phương, vùng, miền; đồng thời, bảo đảm an toàn và chống thất thoát điện, phấn đấu tỷ lệ tiêu hao năng lượng tính trên GDP giảm bình quân 1-1,5% năm.

Xây dựng và phát triển đồng bộ, tạo bứt phá trong phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, hạ tầng cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, chính phủ số, xã hội số. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN, Internet băng thông rộng phủ 100% các xã, phát triển mạng 5G, xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu ngành, vùng, địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất; bảo đảm hạ tầng kỹ thuật an toàn, an ninh thông tin.

- Đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lực lượng chủ công, trực tiếp thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Hoàn tất việc sắp xếp lại, đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhất là việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, tài sản cố định, thương hiệu, giá trị truyền thống của doanh nghiệp cổ phần hóa. Đến năm 2025 hoàn tất việc sắp xếp lại khối doanh nghiệp nhà nước, cơ bản xử lý xong những yếu kém, thất thoát của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Củng cố, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực quan trọng với đất nước nhưng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư, nhất là 4 lĩnh vực mà Nhà nước cần đầu tư và nắm giữ vốn theo quy định Luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp[4]. Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là chuyển đổi số, các thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; hình thành đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước chuyên nghiệp, có trình độ cao, có phẩm chất đạo đức tốt; quản trị doanh nghiệp hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế để nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc thành lập, hoạt động, phát triển, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân. Cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn vốn, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị trường... Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng thị trường; hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Khuyến khích, hỗ trợ đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, các hợp tác xã, các tổ chức cung ứng dịch vụ công tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường:

- Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước. Tiếp tục kiện toàn, tinh gọn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước các cấp, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp; thực hiện đúng vai trò, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế, luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm chấp hành pháp luật nghiêm minh. Cải cách thủ tục hành chính một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh. Phấn đấu đến năm 2030, môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền điện tử hướng tới chính phủ số, chính quyền số. Tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước; xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, nhà ở, bảo hiểm, y tế, giáo dục, doanh nghiệp... Hoàn thiện các hệ thống thông tin một cửa điện tử, cổng dịch vụ công các cấp kết nối với cổng dịch vụ quốc gia. Thúc đẩy việc xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng, hướng tới cơ quan nhà nước “không giấy tờ”. Phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng chính phủ điện tử theo đánh giá của Liên hợp quốc; đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số, đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Phát triển các hoạt động các dịch vụ pháp lý và các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án. Nâng cao hiệu quả và thời gian giải quyết tranh chấp, thi hành án theo đúng quy định của pháp luật./.

Về mô hình giáo dục mở theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng

 

 

Trước các thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam sẽ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, bảo đảm để đất nước có thể cạnh tranh trong nền kinh tế của tương lai. Điều đó mở ra cơ hội để giáo dục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng phát triển giáo dục mở.

Với xu thế đổi mới công nghệ trong giáo dục cần phải đào tạo, hình thành và phát triển những con người của xã hội, cho xã hội và vì sự phát triển của xã hội. Một hệ thống nội dung thiếu sự gắn kết trực tiếp với đời sống xã hội, quá hàn lâm, bỏ qua những thứ đang hiện hữu trong cuộc sống là những rào cản trong quá trình đào tạo con người của xã hội hiện nay.

Chính vì vậy, đổi mới tư duy, lựa chọn mô hình phát triển phù hợp nhằm xây dựng nền giáo dục mở ra cơ hội học tập tốt hơn, có chất lượng hơn cho những người có nhu cầu, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục là những vấn đề ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quốc gia, nhất là những nhà khoa học, những người tham mưu hoạch định chính sách phát triển giáo dục.

Tại Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” nhấn mạnh để “nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế cần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; xác định các tiêu chí và từng bước xây dựng hệ thống giáo dục mở”. Đây cũng là một trong những đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản chất lượng giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”.

Bài viết tập trung đề xuất một số giải pháp tham mưu về chính sách nhằm triển khai có hiệu quả hơn nữa mô hình giáo dục mở theo chủ trương của Đảng, Nhà nước đã đề ra trong thời gian vừa qua.

Mục tiêu của nền giáo dục mở là tạo ra sự bình đẳng về tiếp cận giáo dục cho mọi người, ai cũng có thể học hành cũng như cơ hội để phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực cá nhân, đáp ứng yêu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế, khác với nền giáo dục “đóng” không còn phù hợp và được coi là “phong trào giáo dục tiến bộ”, “nền giáo dục tiên tiến” hay còn gọi là nền giáo dục mở.

Trong thời gian qua, trên thế giới, cũng như ở Việt Nan, khái niệm về “giáo dục mở” chưa có một cách hiểu thống nhất, chưa được các nhà khoa học, nhà quản lý các cấp, các ngành nhận thức rõ và quán triệt đầy đủ về nội hàm “giáo dục mở”. Giáo dục mở được hiểu là mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục cho mọi người so với giáo dục chính quy thông thường qua nhiều phương thức đào tạo, bằng nhiều nguồn tư liệu từ tài nguyên giáo dục mở và môi trường học tập khác nhau, các khóa học mở. Từ “mở” trong “giáo dục mở” ở đây có hàm ý diễn đạt là gạt bỏ bớt các rào cản, hạn chế cơ hội tham dự của người học cũng như công nhận kết quả học tập tại cơ sở giáo dục.

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, theo đuổi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI trở thành quốc gia phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Việt Nam tất yếu phải tiến theo xu hướng này.

 

  

 

1. Định hướng chung để xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục mở ở Việt Nam:

Thứ nhất, Đẩy mạnh việc huy động nguồn lực xã hội tạo điều kiện cho bất kỳ ai ở bất kỳ trình độ nào, điều kiện nào cũng đều được tiếp tục học tập theo nguyện vọng; tạo điều kiện xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời; đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu học tập của mỗi người dân.

Thứ hai, Tiếp tục đổi mới triết lý giáo dục làm nền tảng cho việc đổi mới cách tiếp cận dạy và học, bắt đầu từ mục tiêu, vai trò của các chủ thể giáo dục, nội dung và phương pháp dạy và học nhằm liên tục nâng cao chất lượng giáo dục.

Thứ ba, Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, từng bước tham gia vào chuỗi thực hành giáo dục mở toàn cầu gồm tài nguyên giáo dục mở, các khóa học mở trực tuyến và thực hành giáo dục mở.

Thứ tư, Kết hợp hài hòa giữa đổi mới tuần tự nhằm từng bước tạo sự chuyển biến theo hướng mở cho toàn hệ thống giáo dục và cần thiết để cạnh tranh trong thị trường giáo dục trong nước để phát triển, đồng thời bảo đảm tính ổn định, bền vững.

2. Một số giải pháp tham mưu chiến lược trong xây dựng chính sách phát triển giáo dục mở ở Việt Nam trong thời gian tới:

Thứ nhất, Tiếp tục cập nhật khái niệm giáo dục mở để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nền giáo dục theo hướng mở ở Việt Nam tạo sự thống nhất trong hành đồng triển khai thực hiện

Trong bối cảnh nhận thức về giáo dục mở tại Việt Nam còn chưa được đầy đủ, cả trong ngành giáo dục và đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nền giáo dục theo hướng mở ở Việt Nam để nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, vai trò, lợi ích của giáo dục mở cho phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Giáo dục mở hiện đại đã vượt xa việc học trực tuyến và học tập từ xa, là chìa khóa để hiện đại hóa giáo dục và có thể áp dụng cho cả học tập chính quy và không chính quy. Các tổ chức giáo dục truyền thống đã bắt đầu tham gia vào doanh nghiệp của giáo dục từ xa bằng cách cung cấp các khóa học được truy cập phần lớn hoặc độc quyền trực tuyến, hoặc bằng các khóa học mở trực tuyến và tài nguyên giáo dục mở, thực hành giáo dục mở. Chương trình giảng dạy được thiết kế theo cách linh hoạt hơn, cho phép người học linh hoạt hơn và tích hợp một số tiềm năng của giáo dục mở với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông... Do đó, tiếp tục nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giáo dục mở là cần thiết trong việc tham mưu về chủ trương, chính sách phát triển giáo dục nói chung và giáo dục mở nói riêng nhằm để triển khai có chất lượng, hiệu quả hơn nữa về chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

          Thứ hai, xây dựng chính sách trong chiến lược giáo dục quốc gia hoặc chính sách trong chiến lược công nghệ thông tin quốc gia để tạo hành lang pháp lý cho giáo dục mở ở Việt Nam

Việc xây dựng các chính sách giáo dục mở để thực hiện thành công, hiệu quả nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam không nên được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất, cũng không nên áp dụng chỉ một cách tiếp cận theo chiều dọc. Thay vào đó, một cách tiếp cận nhiều bên, nhiều chiều nên được khuyến khích. Các cơ quan liên quan từ Đảng - Quốc hội và Chính phủ - Chính quyền địa phương - Cơ sở giáo dục cần được coi trọng tham gia trong quá trình xây dựng chính sách để thúc đẩy các điều kiện, cung cấp cơ sở hạ tầng cho việc tạo ra một hệ sinh thái giáo dục mở ở Việt Nam: gồm các yếu tố:

 

 

1. Tiếp cận mở: Tính mở ở đây chính là xóa bỏ các rào cản về thể chế, kinh tế, công nghệ, địa lý đối với người học. Người học thuộc bất kỳ thành phần, độ tuổi, nền tảng văn hóa được tham gia vào nội dung, chương trình giáo dục, các khóa học, cộng đồng thực hành, các website và các loại môi trường chia sẻ kiến thức, phương tiện truyền thông, hoạt động trong giáo dục chính quy, không chính quy và được công nhận việc học và kết quả học tập.

2. Nội dung mở: là những nội dung liên quan đến các tài liệu dạy và học, cùng các kết quả nghiên cứu được mọi người tiếp cận và khai thác, sử dụng miễn phí. Các loại văn bản, sách giáo khoa, tài liệu khóa học, tài liệu nghiên cứu và công bố, hình ảnh, trò chơi, bài giảng video, phần mềm, dữ liệu và bất kỳ loại tài liệu giáo dục nào khác truyền tải thông tin có thể được sử dụng để dạy và học… được cấp phép mở trong phạm vi công cộng hoặc có bản quyền nhưng vẫn “miễn phí” và mọi người có thể truy cập mà không bị hạn chế.

3. Phương pháp sư phạm mở: là phương pháp nhấn mạnh vào người học tăng cường sự tham gia và hợp tác của người học sinh, cho phép người học thiết kế lộ trình học tập của riêng họ bằng cách cung cấp cho họ nhiều lựa chọn về tài nguyên học tập và kiểm tra đánh giá.

4. Công nhận mở: được thực hiện theo nguyên tắc của hệ tín chỉ. Người học có thể tích lũy tín chỉ theo nhiều cách chính thức hoặc không chính thức, các nhà trường công khai những điều kiện và nội dung những tín chỉ có thể được chọn công nhận trong hoàn cảnh cụ thể.

5. Hợp tác mở: là sự hợp tác giữa các bên liên quan. Người học được trao quyền để hợp tác với nhau và với tổ chức và cộng đồng để tạo ra kiến thức, xác định lộ trình học tập riêng của họ và đạt được mục tiêu của họ.

6. Nghiên cứu mở: nhằm tác động đến toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học trong nhà trường, thúc đẩy sáng tạo khoa học nhanh nhất và hiệu quả nhất bằng cách chia sẻ và hợp tác, thay vì cố gắng xuất bản trước để đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ và tính mới.

Để triển khai thực hành giáo dục mở trong Khung giáo dục mở quốc gia cần xác định các yếu tố cấu thành:

7. Chiến lược mở: xác định các giá trị, các cam kết, cơ hội, nguồn lực và khả năng của một tổ chức giáo dục đối với việc mở cửa giáo dục)

8. Công nghệ mở: cần lựa chọn công nghệ có tác động trực tiếp đến kiến trúc giáo dục mở, các giải pháp công nghệ cần giúp cho việc xác nhận danh tính của những người được đánh giá để công nhận việc học không chính quy…do đó, các nhà trường cần xem xét công nghệ khi hoạch định chiến lược của mình để sắp xếp và các ưu tiên đầu tư công nghệ thông tin)

9. Chất lượng mở: cần thống nhất nhận thức về chất lượng trong giáo dục mở là sự hội tụ của 5 khái niệm hiệu quả, tác động, sẵn có, chính xác và xuất sắc; cần huy động các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục tham gia xây dựng một bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục phù hợp với các mục tiêu chất lượng của giáo dục mở.

 

 

10. Lãnh đạo, quản lý  mở: nhằm thúc đẩy các hoạt động và sáng kiến giáo dục mở bền vững thông qua cách tiếp cận minh bạch cả từ trên xuống và từ dưới lên. Lãnh đạo trong giáo dục mở vượt ra ngoài việc tạo ra các chiến lược và hoạt động được quyết định ở cấp điều hành;  xác định các điểm tối ưu ở các cấp độ quản lý khác nhau, cả từ dưới lên (giáo viên và người học) và từ trên xuống (lãnh đạo, quản lý giáo dục mở tại các nhà trường) tổ chức theo các chuỗi hành động cho phép tiếp nhận giáo dục mở trong một nhà trường bởi toàn bộ các bên liên quan, bao gồm cả người học.

Để phát triển chính sách tạo ra một hệ sinh thái giáo dục mở chúng tôi đã đề xuất 8 lĩnh vực, gồm: (1) Nâng cao nhận thức giữa các bên liên quan để phát triển hơn nữa giáo dục mở; (2) Đa dạng về quy định, sáng kiến và tài trợ cho giáo dục mở để hỗ trợ các quy định và sáng kiến ở các cấp độ khác nhau; (3) Khuyến khích các quan hệ đối tác để thúc đẩy giáo dục mở; (4) Thúc đẩy phát triển năng lực chuyên môn cho giáo viên thực hành giáo dục để cho phép giáo viên khai thác tất cả tiềm năng mà giáo dục mở cung cấp ở tất cả các cấp trong quá trình dạy và học của nhiều đối tượng; (5) Thể chế hóa việc kiểm định và công nhận học tập mở nhằm tạo một cầu nối giữa học tập chính quy và không chính quy trong việc công nhận tín chỉ tương đương cho giáo dục mở; (6) Xây dựng chính sách phát triển tài nguyên giáo dục mở của chính phủ và các tổ chức nhằm mở rộng truy cập cho giáo dục, cải thiện chất lượng học tập và tạo các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người; (7) Xây dựng chính sách hỗ trợ và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ, kỹ thuật cho giáo dục mở hướng đến các chức năng, giao diện thân thiện, tương tác với người sử dụng, có sự đóng góp của tất cả mọi người để có thể truy cập và lưu trữ dữ liệu phù hợp với lợi ích của người học; (8) Nghiên cứu và đánh giá chính sách về giáo dục mở một cách khoa học và khách quan mở để đề ra những chính sách mới hiệu quả và phù hợp với thực tiễn giáo dục mở hơn.

          Thứ ba, xây dựng chính sách để thu hút các nguồn lực, tạo mọi điều kiện về tiếp cận giáo dục, đảm bảo công bằng xã hội cho mọi người học, xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập

Huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục đã được để cập trong nhiều nghiên cứu chính sách của Đảng, Nhà nước ta thời gian qua. Để phát triển nguồn lực, thực hiện có hiệu quả hơn nữa cho phát triển giáo dục mở tạo ra một khung hành động chính sách cụ thể thực hiện tốt các mục tiêu của giáo dục ở các cấp học, tạo những tiền đề thuận lợi cho việc xây dựng chính sách thu hút và phát triển nguồn lực phục vụ cho phát triển giáo dục mở của Việt Nam cần rà soát, bổ sung, xây dựng cơ chế, chính sách tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục thúc đẩy phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; chính sách tiền lương và chế độ làm việc; cơ chế đầu tư; cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong việc hỗ trợ, đồng hành cùng cơ sở giáo dục; chính sách nâng cao nhận thức; chính sách hỗ trợ và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục; chính sách quy định pháp lý, các sáng kiến, tài trợ… và áp dụng mô hình phát triển kiểm soát chất lượng trong tất cả các khâu để bắt kịp với những thay đổi của kinh tế - xã hội. Những chính sách thu hút nguồn lực cho phát triển giáo dục mở cần được duy trì và phát triển lâu dài, được triển khai kể cả ở cấp chính phủ và ở cấp địa phương, doanh nghiệp, tổ chức và cần trực tiếp hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội học tập.

Xây dựng nền giáo dục mở theo hướng mở, hoàn thiện hệ thống giáo dục mở ở Việt Nam có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của xã hội. Giáo dục mở sẽ giúp cho mọi người có thể khai thác các kinh nghiệm và tài nguyên giáo dục chất lượng cao, giúp mọi người vượt qua các rào cản (tài chính, học liệu, tư liệu, cơ chế, pháp lý…) để đạt được mục tiêu mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội, tạo cơ hội cho nhiều tầng lớp dân cư tiếp nhận nền học vấn giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng mà vẫn đảm bảo chất lượng đầu ra.

Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân

 

 

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 dự kiến sẽ được tiến hành vào ngày Chủ nhật, 23/5/2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cổ và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, đã tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc gây nhũng nhiêu thông tin, hoang mang dư luận nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc. Một trong những luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được chúng tuyên truyền lần này đó là: “Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”, “Ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử - đó là cơ chế  “Đảng cử - dân bầu”,  là “dân chủ trình diễn”…; “phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do… còn nếu với cách tổ chức bầu cử và cơ chế bầu cử theo quy định này thì đối với nhiều đại biểu có thể tự mình công bố mình trúng cử và có đủ tư cách đại biểu mà không cần phải tổ chức bầu cử tốn tiền thuế của dân”...

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản độnglà kiểu lập luận quy chụp, bóp méo sự thật lịch sử và tiến trình bầu cử ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh lừa và hướng dư luận ủng hộ cho những mưu toan chính trị thâm độc của chúng. Cả lý luận và thực tiễn sinh động tại Việt Nam đã và đang “bẻ gãy” những luận điệu đó, thể hiện trên một số khía cạnh sau:

 

1. Nước Việt Nam là nước dân chủ, mọi quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Điều này đã được chứng minh cả về mặt lý luận và thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định: “Với việc phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi công việc của nhà nước”. Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong phần mở đầu khi viết tác phẩm “Dân vận” (1949): “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Thấm nhuần những tư tưởng trên, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi lãnh đạo, nền dân chủ ở Việt Nam ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển, nhất là giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”.Hiến pháp năm 2013 (tại Khoản 1, Điều 4): “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì đương nhiên đối với cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, sự kiện chính trị quan trọng hàng đầu để xây dựng chính quyền nhân dân thì sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu. Chính sự lãnh đạo đó sẽ giúp cho quá trình bầu cử tốt hơn, đúng Hiến pháp và pháp luật, phát huy được vai trò của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Trải qua hơn 75 năm kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển, tự hoàn thiện, đồng hành cùng dân tộc, thực sự là nơi xây nên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ lầm than lên địa vị chủ nhân của đất nước đang vững bước trên con đường xây dựng theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thông qua thực hiện chức năng của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân luôn được bảo đảm và phát huy theo tinh thần quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, địa vị chủ thể của dân với tư cách là chủ thể gốc của mọi quyền lực; những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của người dân đều được phát hiện và xử lý nghiêm. Hiến pháp 2013 đã tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Trong lịch sử đất nước ta, kể từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để có một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt lên muôn vàn khó khăn của “thù trong, giặc ngoài” với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại... Trong thời điểm đấy, đại đa số cử tri lần đầu tiên mới được thực hiện quyền bầu cử của mình, đại đa số là những nông dân chưa đọc thông viết thạo, tuyệt đại đa số phụ nữ lần đầu được cầm trên tay lá phiếu… tất cả đều xúc động, tự hào đến rơi nước mắt vì đi bầu cử đối với họ chính là khẳng định quyền công dân của một đất nước tự do, quyền được bình đẳng trong xã hội.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Nam Bắc nước ta tạm thời chia cắt. Những người con miền Nam ra Bắc tập kết mang trong mình niềm hy vọng lớn lao sẽ được trở về quê hương, đoàn tụ gia đình sau ngày Tổng tuyển cử tự do dự kiến vào ngày 20/7/1956. Nhưng Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã không những đã cự tuyệt thi hành những điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ mà còn trắng trợn đàn áp, trả thù những người kháng chiến, yêu nước ở miền Nam, đẩy mạnh tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” gây chia rẽ, hận thù, chống lại lợi ích và khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày tổng tuyển cử đã bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình vi phạm, kéo dài cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh để 20 năm sau, đến năm 1976 mới lại có cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đồng bào cử tri ngày ấy cũng hân hoan biết bao khi cầm trên tay lá phiếu bầu tự do khi đất nước đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất.Công dân đủ điều kiện trở thành cử tri, thông qua bầu cử để trực tiếp lựa chọn những người xứng đáng có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (hội đồng nhân dâncác cấp) hoặc tự mình ứng cử để được lựa chọn (thông qua bầu cử) là người đại diện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Theo tiến trình phát triển của xã hội, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng. Dẫu còn mặt này mặt khác, có một vài đại biểu chưa đạt được như kỳ vọng của cử tri, nhưng thực tế chúng ta có thể thấy rằng chất lượng cácđại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dânngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng khi trên diễn đàn của Quốc hội, của hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. 

Các cử tri cũng có thể nhận thấy, dẫu còn không ít khó khăn nhưng đất nước ta đã phát triển về nhiều mặt, đời sống xã hội nhìn chung đã cải thiện đáng kể, ước mơ đủ “cơm ăn, áo mặc, được học hành” từ những ngày đầu lập nước giờ đây đã vươn cao hơn đến tầm thời đại với sự hội nhập sâu rộng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Như vậy đi bầu cử không chỉ là sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn là thể hiện niềm tin vào Đảng, nhà nước, đặt kỳ vọng vào tương lai tươi đẹp hơn của đất nước mình, địa phương mình. Mỗi lá phiếu của cử tri mang trong mình sứ mệnh cao cả là một viên gạch hồng góp phần dựng xây Tổ quốc. 

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp, các công dân cử tri đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực thamgia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào nhân dân cả nước.Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.  

 

2. Bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân Việt Nam

Đại biểu Quốc hội là đại biểu của nhân dân. Do vậy, nhân dân luôn có vai trò to lớn trong mọi khâu, mọi quy trình bầu cử.Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta đã diễn ra được 14 khóa, từ khóa đầu tiên (06/01/1946) đến nay đều được tiến hành một cách dân chủ, công khai bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, nguyên tắc và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả và thành công của các cuộc bầu cử, một lần nữa góp phần khẳng định bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và những giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là việc người dân luôn chủ động, trách nhiệm, thực hiện trọn vẹn trách nhiệm, bổn phận công dân đối với Tổ quốc. Mỗi cuộc bầu cử tuy diễn ra ở thời điểm cách mạng khác nhau, với những khó khăn, chông gai khác nhau, song toàn dân, toàn quân ta luôn một lòng hướng về Đảng và Quốc hội, đoàn kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận, để mỗi kỳ bầu cử, số cử tri đi bầu luôn đạt tỷ lệ cao, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử.

Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp - đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã ghi nhận quyền này tại Điều 18 như sau: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”, và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (tại Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (tại Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (tại Điều 54).Hiến pháp năm 2013của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 27) quy định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân”. Luật Bầu cử số 85/2015/QH13 ở Việt Nam (tại Điều 2) quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dâncác cấp theo quy định của Luật này”. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp năm 2015 (tại Khoản 5, Điều 4) quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp”. 

Như vậy, Việt Nam không hề có hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân nếu họ xét thấy mình đủ đức, đủ tài ra gánh vác công việc chung của đất nước và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Đồng thời, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm nặng nề của mỗi công dân nhằm mục đích lựa chọn cho mình những người đại diện và trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

Điển hình như trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2016-2021diễn ra vào ngày 22/5/2016, hơn 69 triệu cử tri tại 91.476 tổ bầu cử trong cả nước đã đồng loạt đi bỏ phiếu và cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí phấn khởi, tin tưởng, thành công tốt đẹp. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, từ thành thị đến nông thôn,đồng bào cử tri cả nước nô nức đi bỏ phiếu với tỷ lệ đi bầu cao, khẳng định trách nhiệm và quyền lợi công dân, ngay cả đối với những cử tri do điều kiện sức khỏe bị ốm đau, bệnh tật vẫn thực hiện trọn vẹn quyền và nghĩa vụ của mình khi hòm phiếu được đưa tới tận giường bệnh, các cơ sở y tế.Sau cuộc bầu cử, nhiều báo chí nước ngoài đều đã ghi nhận tính dân chủ, khoa học, cách mạng trong công tác bầu cử ở Việt Nam. Một số tờ báo nước ngoài phản ánh, phân tích, đánh giá rằng cuộc bầu cử ở Việt Nam, không phân biệt chức vụ, địa vị, cương vị công tác, từ người nông dân, công nhân, cán bộ, đảng viên, cho đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đều thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ trong việc ứng cử và bầu cử theo đúng nguyên tắc, quy định của pháp luật.Thực tế, quyền và nghĩa vụ đó không chỉ thể hiện trong ngày bầu cử, mà hơn thế, còn được minh chứng trong suốt quá trình tham gia đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, khẳng định bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa; khẳng định chân lý: Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước (ở Trung ương là Quốc hội; ở địa phương là hội đồng nhân dâncác cấp). Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

 

3. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là bảo đảm ý chí của nhân dân và phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội

Bầu cử là việc công dân của một quốc gia lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Mỗi quốc gia có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau, không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác được bởi vì hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, cho nên tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa của quốc gia - dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào. Về mô hình bầu cử cũng khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí) khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp - thông qua đại cử tri… Song về tổng quan luật bầu cử một số nước trên thế giới hiện nay là theo nguyên tắc: “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp theo bốnnguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Về nguyên tắc phổ thông: pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử.Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Đối với Việt Nam, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: (1) Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (2) Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; (3) Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); (4) Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; (5) Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (6) Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn.

Về nguyên tắc bình đẳng:Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân.Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu phù hợp.

Về nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.

Về nguyên tắc bỏ phiếu kín:thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín.Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử và là thước đo trình độ dân chủ của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát huy cao nhất quyền làm chủ của mỗi công dân; đồng thời, trao đổi để đi đến một cơ cấu đại biểu hợp lý đảm bảo cho các thành phần xã hội đều có đại diện trong Quốc hội mới.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đoàn kết hướng đến Đại hội lần thứ XIII của Đảngbầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sắp tới như ngày hội của toàn dân với tinh thần phấn khởi, tự hào để thông qua lá phiếu có trách nhiệm của mình lựa chọn những đại biểu thực sự có đức, có tài đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân xứng đáng là nơi gửi gắm niềm tin của cử tri cả nước vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”... là hoàn toàn xuyên tạc sai sự thật, nhằm tuyên truyền chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2021-2026, nhằm gây nhũng loạn thông tin, mâu thuẫn nội bộ mà thôi./.

 

Những yêu cầu đặt ra đối với việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

 

 

Đảng ta do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng. Có thể nói sinh mạng của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng của công tác lý luận của chúng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.

 

Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định, và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận, mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. Đại hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp và đây là dịp các thế lực thù địch tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá những đường lối, quan điểm của Đại hội đề ra.

 

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn đọng một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. Văn kiện Đại hội XIII xác định rõ “kinh tế - xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Công cuộc đổi mới tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải tập trung giải quyết để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là việc nhận thức, giải quyết đúng, hiệu quả các mối quan hệ lớn”[1].

Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý và những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội… cũng bị những thế lực đế quốc phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. Từ đó trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản nhất là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chính yếu sau:

 

Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ trì trệ dẫn tới sự đình đốn thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu – những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta bài học sâu cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng một cách hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động; từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ; sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng.

Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Nhưng ai cũng biết, mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.

 

 

Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng: Một mặt, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội và xã hội xã hội chủ nghĩa được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những qui luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về chủ nghĩa xã hội được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ những vấn đề, những yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. Lý thuyết nguyên bản cội nguồn đó khi được áp dụng vào những tình huống cụ thể, lẽ ra phải tính tới sự gắn kết những điều kiện bên ngoài với bên trong và phải được soi rọi từ thực tế thì sự vận dụng nhiều khi biệt lập, không cân nhắc đến khía cạnh đó nên dễ bị khiên cưỡng và thường gặp những vướng mắc khó có thể tháo gỡ.

Tính trừu tượng cao của chủ nghĩa xã hội khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể không tính đến, thậm chí phải hết sức tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

 

Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Vấn đề sở hữu cũng vậy, trước đây trong lý thuyết chúng ta chú trọng hết sức đến hai hình thức sở hữu trong xã hội chúng ta là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là điều tuyệt đối đúng, là hình thức cơ bản đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Cho đến hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện những nhận thức lửng lơ, phó mặc, ít chú trọng tới việc củng cố, hoàn thiện các thành phần kinh tế mang tính chủ đạo, nền tảng là kinh tế nhà nước và hợp tác xã.

Vấn đề công thức hóa cũng vậy. Khi nói về kết cấu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 

Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng chung sức.

 

Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là, triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cối lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, đối với mỗi chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mình khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.

Những vấn đề nêu trên là những yêu cầu đặt ra trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay và trực tiếp là cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng do Đại hội XIII vạch ra. Càng thực hiện tốt các yêu cầu đó, cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung và đấu tranh lý luận nói riêng sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi.