Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên hiện nay

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Chúng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là mũi nhọn. Đối tượng mà chúng hướng đến nhiều nhất khi thực hiện chiến lược này là thanh niên, sinh viên vì đây là lực lượng đông đảo, có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa chiều, thường xuyên sử dụng internet và mạng xã hội... Do vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay.

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên hiện nay

Ảnh: Ngày Sách Việt Nam giúp khơi dậy lòng yêu đọc sách, hình thành thói quen đọc sách trong học sinh, sinh viên

Từ khóa: diễn biến hòa bình, tư tưởng, văn hóa, sinh viên, thanh niên.

1. Nhận diện nội dung, cách thức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên Việt Nam hiện nay

 Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa như sau: “Diễn biến hòa bình là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”. Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”... Trong chiến lược này, hoạt động tư tưởng, văn hóa được coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa vào hệ tư tưởng tư sản, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(1).

Khi thực hiện “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa ở Việt Nam, một trong những đối tượng mà các thế lực thù địch hướng tới nhiều nhất là sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng. Sinh viên thuộc nhóm thanh niên có độ tuổi từ 18 đến 24 - 25. Như vậy, sinh viên vừa là một bộ phận của thanh niên, vừa là một bộ phận của đội ngũ trí thức trong tương lai. “Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức để trở thành chuyên gia, hoạt động lao động trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc sinh viên là những người đang học tập ở các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài nước”(2).

Sinh viên Việt Nam xuất thân từ các giai tầng khác nhau của mọi miền đất nước, tập trung về các trung tâm kinh tế, chính trị, các thành phố, thị xã để học tập. Đại đa số họ mới tốt nghiệp trung học phổ thông, vừa ra khỏi sự quản lý trực tiếp của gia đình để sống tự lập. Do hơn 80% sinh viên Việt Nam xuất thân từ nông thôn nên khi vào học tại các trường đại học, cao đẳng, đa số sinh viên sống tập thể trong ký túc xá, hoặc ở trọ xung quanh các trường đại học, cao đẳng. Sinh viên là lớp người rất năng động, luôn chủ động, tích cực trong việc chuẩn bị hành trang cho tương lai của mình. Bên cạnh những gì sinh viên chịu ảnh hưởng do tiếp nhận sự trao truyền, giáo dục của thế hệ trước, họ luôn có lựa chọn của riêng mình và thế hệ mình. Ngoài ảnh hưởng từ cộng đồng, gia đình hay quốc gia - dân tộc, trong thời đại toàn cầu hóa, họ còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, tri thức, kinh nghiệm, giá trị và lựa chọn của các cộng đồng và cá nhân khác trên thế giới. Với những điều kiện đó, sinh viên thường có xu hướng thử nghiệm nhiều khả năng, nhiều lựa chọn, ngay cả khi họ còn chưa chuẩn bị đủ tốt cho những thử nghiệm đó, vì đối với họ, dù có phạm sai lầm vẫn có cơ hội làm lại, thử nghiệm lại. Vì vậy, phần đông sinh viên thường có xu hướng mạnh dạn, chủ động đưa ra sự lựa chọn của bản thân, mạnh dạn đương đầu với những khó khăn, dám thử nghiệm, làm khác lối mòn của thế hệ trước, coi đó như một phương thức để khẳng định tư cách “người lớn” của mình.

Đó là nguyên nhân thường dẫn đến những “lệch chuẩn” trong ứng xử văn hóa của sinh viên. Khi những thử nghiệm bị thất bại, những “lệch chuẩn” bị lên án thì sinh viên dễ rơi vào tình trạng bi quan, chán nản, mất phương hướng nhưng vì bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ cũng dễ dàng vượt qua. Đây là đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng mà không phải lứa tuổi nào cũng có.

Hơn nữa, sinh viên thường khá nhanh nhạy trong việc tiếp thu các thông tin mới, cũng như những luồng tư tưởng mới trong xã hội. Song, do còn có giới hạn về trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống nên khả năng phân tích và chọn lọc thông tin có những hạn chế. Trong thực tế, nhiều sinh viên ít quan tâm đến những vấn đề chính trị - xã hội, lập trường tư tưởng chưa vững vàng nên dễ dao động, dễ bị lôi kéo...

Thời gian qua, “do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường”(3).

Với một số đặc điểm đó nên sinh viên là đối tượng mà các thế lực thù địch hướng tới khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm mục tiêu chống phá cách mạng nước ta.

Những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa đối với sinh viên thời gian vừa qua là tập trung vào một số vấn đề như: thâm nhập vào tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên nhằm phá vỡ các tổ chức này; đưa các xuất bản phẩm đồi trụy, phản động vào đời sống tinh thần của sinh viên; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa. Nhiều đối tượng đã len lỏi vào các ký túc xá sinh viên, giảng đường, đến các hội thảo khoa học, thông qua internet... lôi kéo, kích động, nhằm tạo sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối trật tự an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội thời gian qua. Hơn nữa, nếu như trước kia, các thế lực thù địch lợi dụng các hình thức chống phá truyền thống như tuyên truyền “rỉ tai” với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh... thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để tấn công vào thanh niên. Chúng ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip... trên mạng xã hội để đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống. Những nội dung mà các thế lực thù địch thường xuyên hướng đến sinh viên là:

Thứ nhất, lấy sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí, khiến cho thanh niên, sinh viên hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ đó phai nhạt lý tưởng, mất mục tiêu phấn đấu.

Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có những thành công trong lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc song hiện tại đã mất đi vai trò lãnh đạo của mình bởi lẽ việc lựa chọn phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”; “tránh chỗ sáng tìm chỗ tối”, “không tuân theo quy luật khách quan”... Sự phủ nhận trắng trợn đó nhằm làm phai nhạt lý tưởng của thanh niên, phai nhạt lòng trung thành với Đảng và không còn mục tiêu phấn đấu đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Thứ ba, “bôi nhọ”, “hạ bệ” các đồng chí lãnh đạo của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Các thế lực thù địch đã lợi dụng những hạn chế, thiếu sót, tha hóa của một số cán bộ lãnh đạo để quy chụp công tác cán bộ của Đảng. Chúng còn cho rằng việc Đảng ta đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua chỉ là “che mắt thế gian”... Điều đó nhằm khiến cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, vào các cán bộ lãnh đạo của Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ tư, thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ... lôi kéo, mua chuộc nhằm làm cho sinh viên quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện sính ngoại, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân trước mắt mà đánh đổi lợi ích, sự nghiệp lâu dài.

Với những chiêu bài tinh vi đó của các thế lực thù địch, có sinh viên do còn mơ hồ về chính trị, thiếu kinh nghiệm sống nên bị mắc mưu. Ở một số địa phương, một số sinh viên đã bị các phần tử phản động lôi kéo, tham gia biểu tình chống chính quyền. Trong những ngày chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, một số sinh viên bị kích động đã lập các blog cá nhân đăng tải nội dung cổ xúy cho các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, từ đó có các bình luận xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội... Cũng có sinh viên bị các phần tử phản động lôi kéo trên mạng xã hội bằng cách tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết nói xấu, xuyên tạc, bóp méo sự thật về Đảng, Nhà nước và nhân dân ta... Điều đó khiến cho tình hình chính trị, tư tưởng của sinh viên trở nên rất phức tạp, khó kiểm soát, khó nắm bắt. Đây là một thách thức không nhỏ đối với công tác tư tưởng, văn hóa, rèn luyện, giáo dục.

2. Một số giải pháp góp phần phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên ở Việt Nam hiện nay

Từ tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với sinh viên thời gian qua, để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa trong sinh viên ở các  trường đại học, cao đẳng, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên

Hiện nay, ở các trường đại học, cao đẳng của nước ta, các môn lý luận chính trị như: triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là những môn học bắt buộc. Tuy nhiên, thời lượng các môn học này bị cắt giảm, trong khi đó phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới. Do đó, để tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay, trước hết cần đổi mới đồng bộ cả nội dung và chương trình đào tạo. Đổi mới nội dung chương trình cần được tiến hành theo hướng giảm dần những kiến thức kinh viện, hàn lâm; tăng dần những kiến thức thực tiễn. Phương pháp giảng dạy cần đổi mới theo hướng kết hợp hài hòa các phương pháp giảng dạy thuyết trình truyền thống với phương pháp giảng dạy tích cực, hiện đại; mạnh dạn chuyển hướng theo mô hình “lớp học đảo ngược” bằng cách tăng dần vị thế làm chủ lớp học của sinh viên để phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực của sinh viên. Mô hình này đã được áp dụng có hiệu quả ở nhiều trường đại học nên cần tiếp tục được nhân rộng để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập lý luận chính trị.

Các môn lý luận chính trị vốn rất khô khan nên để kích thích sự hào hứng, tích cực của sinh viên cần mạnh dạn đổi mới cả cách thức quản lý lớp học, cách thức kiểm tra, thi cử. Thay dần hình thức thi viết truyền thống bằng thi vấn đáp, hùng biện, trắc nghiệm trực tuyến... Việc tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên là công cụ đầu tiên để trang bị cho họ nền tảng lý luận vững chắc, giúp cho sinh viên có lập trường tư tưởng vững vàng, có ý thức chính trị đúng đắn, có khả năng phân biệt những luận điệu xuyên tạc, sai trái, tránh bị lôi kéo, mua chuộc bởi các thế lực thù địch.

Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên trong các học viện, nhà trường

Tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên là trường học của sinh viên. Đó là môi trường giáo dục và rèn luyện sinh viên cả về tri thức, đạo đức, tác phong, kỹ năng... Do đó, để góp phần phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa trong sinh viên cần đặc biệt quan tâm đến phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong các học viện, trường đại học, cao đẳng.

Trước hết, cần đổi mới nội dung hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên theo hướng hiệu quả, thiết thực. Nội dung hoạt động phải phong phú, sinh động với mục tiêu là giáo dục cho sinh viên sống và làm việc theo pháp luật, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; làm cho sinh viên thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; hiểu biết và trân trọng truyền thống dân tộc cũng như truyền thống của nhà trường, nơi sinh viên đang theo học, định hướng đạo đức nghề nghiệp, từ đó giúp họ thấu hiểu và kiên định với sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Ngoài ra, tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên cần tăng cường giáo dục cho sinh viên ý thức công dân, trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, nhất là trách nhiệm trong đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, phản động.

Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, khi các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc sinh viên trên các trang mạng xã hội phản động, trách nhiệm của Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên là phải nhanh chóng nắm bắt tâm lý, tư tưởng của sinh viên; phát hiện và xử lý kịp thời những biểu hiện sai trái, lệch lạc trong tư tưởng, lối sống; chú trọng đến việc định hướng dư luận để giúp sinh viên có những nhận thức đúng đắn về các hiện tượng xã hội, nhất là những hiện tượng tiêu cực được nhiều người quan tâm.

Phát huy vai trò của cán bộ đoàn, cán bộ hội trong tuyên truyền, vận động sinh viên tích cực tham gia sinh hoạt đoàn, sinh hoạt hội để kịp thời nắm bắt tư tưởng, tình cảm, tâm lý của họ. Bản thân mỗi cán bộ đoàn, cán bộ hội phải thực sự gương mẫu cả trong học tập và trong sinh hoạt; cả trong đạo đức và trong lối sống để tạo tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa tích cực trong sinh viên.

Ba là, chú trọng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho sinh viên.

Ở Việt Nam hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên còn khá nghèo nàn, đơn điệu. Biểu hiện của tình trạng này là sự thiếu thốn điều kiện sinh hoạt, học tập, ít có cơ hội được tiếp cận các hoạt động văn hóa, văn nghệ... Đây là một trong những kẽ hở để các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa. Do đó, để góp phần phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” phải chú ý đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho sinh viên.

Trước hết, lãnh đạo các nhà trường cần quan tâm, tạo điều kiện cho sinh viên, nhất là sinh viên có hoàn cảnh khó khăn về điều kiện ăn, ở trong các ký túc xá; các giảng đường, thư viện được trang bị các thiết bị dạy học hiện đại; điều kiện sinh hoạt của sinh viên gắn với các khu văn hóa, thể thao... Đó là những môi trường thuận lợi để sinh viên phát huy năng lực của mình trong học tập và rèn luyện. Điều đó góp phần giúp sinh viên có tâm lý an tâm, thoải mái, hứng khởi, tin tưởng vào môi trường học tập, tránh xa những thói hư tật xấu; tránh bị lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc...

Các tổ chức chính trị - xã hội trong các nhà trường, nhất là Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên... cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giúp cho sinh viên có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, hướng đến những giá trị sống tích cực. Giáo dục sinh viên theo hướng tạo điều kiện cho sinh viên tham gia nhiều hơn vào các hoạt động vì cộng đồng như các phong trào xung kích, tình nguyện, hướng nghiệp, khởi nghiệp... Những hoạt động thiết thực này sẽ giúp cho sinh viên có định hướng sống rõ ràng, hạn chế tiếp xúc với những lối sống, văn hóa lệch lạc, thiếu chuẩn mực.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong học tập và rèn luyện.

Để có thể phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa không thể không chú ý phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi sinh viên trong học tập và rèn luyện, bởi lẽ bản thân mỗi sinh viên chính là chủ thể quan trọng nhất trong việc làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Mỗi sinh viên cần nêu cao ý thức và trách nhiệm trong học tập và rèn luyện; trước tiên là học tập lý luận chính trị để trang bị cho mình nền tảng lý luận vững chắc, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước các âm mưu của các thế lực thù địch. Khắc phục triệt để tình trạng lười học, học qua loa, đối phó, gian lận trong thi cử. Ngoài ra, mỗi sinh viên cần nêu cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo trước những chiêu bài mua chuộc của các thế lực thù địch; luôn có ý thức trách nhiệm khi tham gia các trang mạng xã hội, nhất là những trang mạng có nội dung chính trị - xã hội. Không bình luận, chia sẻ những bài viết có nội dung bôi nhọ, hạ bệ danh dự của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Không tham gia vào các cộng đồng mạng có dấu hiệu tiêu cực như chống đối, phản bác, biểu tình... Bên cạnh đó, mỗi sinh viên cũng cần tích cực tham gia vào các chương trình do nhà trường, Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên tổ chức như cuộc thi “Ánh sáng soi đường”, thi cán bộ đoàn giỏi các cấp, thi sinh viên thanh lịch, thi tìm hiểu về pháp luật... Những cuộc thi đó chính là sân chơi để sinh viên nâng cao ý thức chính trị cho bản thân.

Sinh viên là đối tượng hướng tới nhiều nhất của các thế lực thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa ở Việt Nam. Để phòng, chống chiến lược đó, cần có sự kết hợp của nhiều biện pháp, cách thức, trong đó có những giải pháp cơ bản nêu trên. Những giải pháp này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ sinh viên vững vàng về tri thức và lập trường chính trị, tư tưởng, kiên định trước mọi sự lôi kéo, chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch.  

An toàn trong sử dụng mạng xã hội Tiktok

    Tiktok là mạng xã hội miễn phí và công khai, sau khi ra đời, đã có nhiều người ở Việt Nam tải và sử dụng mạng xã hội này.

    Hiện nay, số người dùng ứng dụng mạng xã hội Tiktok ở Việt Nam đã và đang tăng theo cấp số nhân, trong đó có người công tác trong lĩnh vực quân sự. Phần lớn người dùng trang mạng xã hội này chưa nhân diện được những tồn tại tiêm ẩn của nó, vô tình đã để lộ lọt thông tin cá nhân, thông tin thuộc vực quân sự, thậm chí là những thông tin thuộc diện bí mật quân sự. Do đó, nhận diện và phòng chống nguy cơ lộ lọt thông tin thuộc lĩnh vực quân sự trong sử dụng mạng xã hội Tiktok là vấn đề mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

    Tiktok tồn tại lỗ hổng bảo mật, cho phép kẻ tấn công dễ dàng khai thác và chiếm đoạt tài khoản người dùng, giả mạo thông tin, nội dung và tải lên các video clips trái phép. Lỗ hổng bảo mật trong mạng xã hội Tiktok đã tạo điều kiện cho hacker “truy xuất thông tin cá nhân của người dùng và thay đổi nội dung của họ, gửi tin nhắn văn bản giả mạo có nguồn từ Tiktok với các đường link độc hại. Những đường link này cho phép nhiều bên thứ ba truy cập được vào tài khoản Tiktok. Sau đó, tải lên video, thao túng hoặc chỉnh sửa các nội dung hiện hữu và lấy đi thông tin cá nhân”. Các ứng dụng của Tiktok có quyền truy cập vào bộ nhớ tạm, thu thập tài liệu của người dùng một cách dễ dàng. Tài liệu của người dùng ứng dụng mạng xã hội Tiktok được lưu trữ trong điện thoại di động rất phong phú, sinh động, như: Mật khẩu, số điện thoại, email, mã thẻ ngân hàng, các tài liệu về hình ảnh, âm thanh, video clip riêng tư, danh bạ số điện thoại, thậm chí là những thông tin nhạy cảm,... Những tài liệu này sẽ không còn là riêng tư, không được bảo mật khi người dùng tham gia mạng xã hội Tiktok.

    Ứng dụng Tiktok ở Việt Nam đã thu hút số lượng người dùng ngày càng tăng, đa dạng về thành phần, độ tuổi người sử dụng, có cả người sử dụng trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, trong lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nói riêng. Đến nay, Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ gia tăng người dùng Tiktok cao nhất khu vực Đông Nam Á. Tính đến tháng 3/2019, có hơn 12 triệu người dùng Tiktok. Độ tuổi người sử dụng và thời gian sử dụng ứng dụng Tiktok thuộc diện cao trên thế giới.

    Có thể khẳng định, khi tham gia các trang mạng xã hội, mọi người đều và đã cung cấp những thông tin cơ bản về tên, tuổi, số điện thoại, email, địa chỉ… Bên cạnh đó, các phần mềm ứng dụng luôn truy cập những thông tin cơ bản trong điện thoại di động của mỗi người. Trên những thông tin này, thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo và những công cụ phân tích, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội đã nắm được những vấn đề cơ bản của một con người, như là thị hiếu, tâm lý, xu hướng, nghề nghiệp, thái độ, quan điểm... những thông tin đó sẽ được phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, thậm chí là những mục đích xấu.

    Phần lớn người dùng ứng dụng Tiktok ở Việt Nam nói chung và trong Quân đội nói riêng mới chỉ nhận thấy những mặt tích cực của Tiktok mà chưa thấy được những hạn chế và mối nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Bên cạnh đó, thời gian qua đã có quân nhân thuộc một số đơn vị trong Quân đội sử dụng mạng xã hội Tiktok phát tán thông tin liên quan đến nội bộ đơn vị, thậm chí có quân nhân có hành vi phản cảm, bị dư luận xã hội phản đối, lên án gây ảnh hường xấu đến hình ảnh người quân nhân.

    Vì vậy, mỗi người quân nhân cần nâng cao nhận thức của mình về trách nhiệm trong quá trình truy cập internet và sử dụng các trang mạng xã hội, như: Không cung cấp, trao đổi, chia sẻ thông tin nội bộ đơn vị, Quân đội, hình ảnh mang mặc quân phục lên các trang mạng xã hội và internet; không lưu trữ các thông tin liên quan đến hoạt động quân sự, quốc phòng, nhất là những thông tin bí mật, hình ảnh, video clip nhạy cảm trong đơn vị, gia đình trên thiết bị điện thoại di động thông minh; không kết bạn với những người không quen biết, nhất là những người có quốc tịch nước ngoài.

    Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ của quân nhân, nhất là việc sử dụng thiết bị điện từ thông minh; rà soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những quân nhân thuộc quyền để lộ, lọt bí mật quân sự trong quá trình sử dụng mạng xã hội nói chung, Tiktok nói riêng./.


Phát huy vai trò của báo chí trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Báo chí có vai trò quan trọng, là tuyến đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch. Mỗi cơ quan báo chí, mỗi cán bộ làm công tác báo chí cần nâng cao năng lực chiến đấu trên mặt trận quan trọng này.

Phát huy vai trò của báo chí trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, CNH, HĐH, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trong quá trình đổi mới, các thế lực thù địch, phản động liên tục gia tăng các hoạt động chống phá với những hình thức tinh vi, đa dạng: phát tán thông tin xấu, độc, bịa đặt, vu khống, bôi nhọ danh dự và nhân phẩm lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, công tác điều hành của Chính phủ, các ngành và các địa phương. Chúng ra sức kích động gây mất ổn định, làm phân tâm lòng người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xa hơn là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ. 

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới(1). Nghị quyết khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là “bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Nghị quyết chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay”. Nghị quyết cũng đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để hiện thực hóa mục tiêu trên, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là “Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao”. Đó là những nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng làm công tác tuyên giáo, hệ thống báo chí đóng vai trò tiên phong, nòng cốt.

Xác định rõ nhiệm vụ đó, trong những năm qua, nhiều cơ quan báo chí, đặc biệt là hệ thống cơ quan báo, tạp chí của Đảng đã tăng cường truyền thông các nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Trước hết, báo chí đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khẳng định những thành tựu, tính ưu việt trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều cơ quan báo chí đã tích cực đổi mới trong công tác tuyên truyền các sự kiện chính trị, những vấn đề lớn của Đảng và đất nước; định hướng văn hóa, thẩm mỹ, giá trị cuộc sống do công cuộc đổi mới mang lại; phản ánh sinh động đời sống xã hội, góp phần nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng.

Từ năm 2019 đến nay, báo chí, truyền thông tiếp tục khẳng định vị trí đi đầu trong tuyên truyền, cổ vũ nhiệm vụ chính trị, đặc biệt thể hiện rõ vai trò tiên phong trong việc xây dựng và đăng tải các tuyến tin bài chuyên sâu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đi đầu đấu tranh trực diện phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách sắc bén, hiệu lực, hiệu quả. Tiêu biểu như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân, Tạp chí Tuyên giáo, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận chính trị và nhiều cơ quan báo chí ngành, địa phương(2)… đã kịp thời tổ chức các chuyên mục, tin bài đấu tranh vạch trần các âm mưu, luận điệu sai trái của thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, giúp bạn đọc nhận diện hành vi đi ngược quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt, từ giữa năm 2019, Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện chuyên mục “Đối diện” đã thu hút sự quan tâm của dư luận, với góc nhìn thẳng thắn về các vấn đề thiết thực trên mọi lĩnh vực của đời sống để nhận diện, phân tích và đề xuất, gợi mở những giải pháp cho vấn đề đặt ra. Nhiều cơ quan báo chí Trung ương và địa phương đã tích cực tham gia Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) do Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, với các chủ đề phong phú, bám sát những vấn đề thời sự, phản ánh sinh động thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Thông qua đó đã góp phần khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng; tuyên truyền sâu rộng, tạo sức lan tỏa, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân về ý thức trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng. Các báo, tạp chí đã mở chuyên trang về "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng", "Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch"; chuyên mục chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", đi sâu tìm hiểu, phản ánh các chủ đề "nóng", viết đúng, trúng vấn đề đông đảo bạn đọc quan tâm.

Không chỉ tập trung mở rộng các chuyên mục đăng tải làm phong phú, sâu sắc hơn nội dung truyền thông về bảo vệ, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào lãnh đạo phát triển đất nước; những thành quả trong công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN…, hệ thống cơ quan quản lý báo chí đã tăng cường quản lý, kiểm soát các nội dung tuyên truyền, gỡ bỏ các thông tin đăng tải có nội dung sai trái, xấu, độc. Các cơ quan báo chí đã tích cực tham gia, tiên phong trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, góp phần đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tính ưu việt của chế độ XHCN. Trong hệ thống báo chí đã và đang hình thành lực lượng nhà báo, cán bộ làm công tác báo chí chuyên sâu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đã xuất hiện nhiều cây bút sắc sảo với những bài viết có tính chiến đấu trực diện, thuyết phục cao.

Tuy nhiên, tình hình đất nước đang còn nhiều khó khăn, phức tạp như: kinh tế - xã hội chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp; những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường…, công tác đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thực tế vận hành, đội ngũ người làm báo cũng như công tác truyền thông trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thực tiễn còn nhiều hạn chế, biểu hiện chủ yếu ở một số phương diện như: Các bài viết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam còn khiêm tốn về số lượng và chưa sâu, chưa phong phú trong nội dung truyền tải. Tính đấu tranh, phản bác ở nhiều bài viết còn chung chung, hời hợt và chưa trực diện. Các bài viết sâu, sắc sảo, thuyết phục cao chưa nhiều. Theo kết quả điều tra một nghiên cứu gần đây cho biết(3), chỉ có khoảng 1/3 số người được hỏi cho rằng các tài liệu, bài viết đấu tranh phản bác là có sức thuyết phục cao, đa số đánh giá “sức thuyết phục có mức độ” (54%). Kết quả điều tra xã hội học ghi nhận, có nhiều nguyên nhân khiến những bài viết, bình luận phản bác thông tin, quan điểm sai trái có sức thuyết phục chưa cao. Trong đó nguyên nhân “Thiếu thông tin về những vấn đề phức tạp, tế nhị, nhạy cảm” chiếm tỷ lệ đa số (63%).

Ở một số cơ quan báo chí, truyền thông còn tồn tại tình trạng một bộ phận cán bộ làm công tác báo chí bỏ trống trận địa, tạo cơ hội cho các thông tin xấu, độc, sai trái hiện hữu và lan rộng. Chẳng hạn gần đây nhất, liên quan tình hình dịch COVID-19, một số thông tin sai lệch trên báo chí đã gây hoang mang dư luận (dẫn tin của báo chí nước ngoài thiếu kiểm chứng “người dân Vũ Hán thà chết ở nhà còn hơn đi cách ly”, “một tài xế nghi dương tính với virus corona tại Hà Nội”...). Đây là những kẽ hở trong công tác thông tin, tuyên truyền rất dễ trở thành cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc chống phá.

Vẫn còn tồn tại những cái nhìn tiêu cực, cách tuyên truyền, thông tin về các vấn đề chính trị, xã hội của một bộ phận cán bộ làm công tác báo chí, truyền thông còn hạn chế. Ở một số cơ quan báo chí, tình trạng nhà báo thiếu chuyên nghiệp, thái độ làm việc chưa nghiêm túc, đạo đức nghề nghiệp sa sút, vì lợi ích riêng mà có những sai lệch trong cách thức truyền tải thông tin đã phần nào gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của công chúng.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước trong công tác báo chí còn những hạn chế.Tình trạng cơ quan chủ quản buông lỏng quản lý đối với các cơ quan báo chí truyền thông trực thuộc; cấp ủy đảng và tổ chức đảng tại cơ quan báo chí chưa làm tốt vai trò định hướng trong truyền thông và quản lý, kiểm soát nội dung tuyên truyền, chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa việc thực hiện định hướng tuyên truyền với đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng. Một số cơ quan lãnh đạo, quản lý còn lúng túng, chậm chễ trong việc phối hợp với cơ quan báo chí trong thực hiện tuyên truyền, phổ biến thông tin.

Để phát huy hơn nữa vai trò xung kích, tuyến đầu của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác báo chí. Các cấp ủy Đảng tại các cơ quan báo chí cần tích cực triển khai, thực hiện Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8-4-2020 của Ban Bí thư Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới; lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện tốt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong các cơ quan báo chí gắn với tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy vai trò các tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí.

Các cơ quan báo chí cần triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây nhiệm vụ chính trị cần đặc biệt coi trọng; chủ động tìm tòi, nghiên cứu để đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, tạo sức mạnh tổng hợp trong tuyên truyền gương điển hình tiên tiến, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; huy động sự tham gia thống nhất, hiệp đồng tác chiến của các loại hình báo chí; quan tâm đến việc tuyên truyền nhằm xây dựng nền tảng tinh thần của con người và xã hội; ngăn chặn xu hướng lai căng, pha tạp về văn hóa, coi thường các giá trị nhân văn; phê phán lối sống buông thả, qua đó nâng cao khả năng đề kháng, phản bác của người dân trước những thông tin sai trái, thù địch.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp với cơ quan báo chí. Trong tổ chức thực hiện, các đơn vị báo chí cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xây dựng kế hoạch truyền thông về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm sâu sắc và phong phú thêm các nội dung truyền tải trong lĩnh vực này.

Cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường đăng tải các thông tin tích cực. Xây dựng chiến lược, kế hoạch tuyên truyền thông tin tích cực, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn, kết hợp chặt chẽ và đồng bộ các loại hình báo chí truyền thông, đẩy mạnh lan tỏa thông tin tích cực trên không gian mạng. Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động báo chí, truyền thông, nhất là kiểm tra, giám sát quy trình thẩm định, xử lý thông tin trước khi đưa lên trang báo, sóng phát thanh, truyền hình. Khen thưởng, động viên kịp thời đối với nhà báo, cơ quan báo chí có thành tích; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp.

Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ người làm báo, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có nhiệt huyết, dũng khí đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN.

__________________

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Trong những năm gần đây, các thế lực chống đối trong và ngoài nước đã sử dụng các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội để thực hiện nhiều chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, đưa ra những luận điệu thiếu căn cứ, nhằm đánh lừa dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong đó chúng tập trung xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn Việt Nam, bài viết tập trung phân tích, khẳng định rõ sứ mệnh lịch sử và bản chất cách mạng của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần nhận diện và phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. 

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp công nhân Việt Nam.

1. Xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ đề thường xuất hiện trong nhiều ấn phẩm của các thế lực thù địch, chống phá Đảng. Một số lập luận của chúng là:

Một, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là do C.Mác áp đặt. Theo luận điệu của chúng, thực ra giai cấp công nhân không thể và không có khả năng để tiến hành cuộc cách mạng nhằm sáng tạo ra một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không đủ khả năng để lãnh đạo cách mạng.

Hai, ngày nay nhờ có chủ nghĩa tư bản mà giai cấp công nhân đã được cải thiện rất nhiều về điều kiện lao động, có quyền sở hữu tư liệu sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, đã được “trung lưu hóa”, từng bước “thỏa mãn nhu cầu”, nên đã mất đi những “xung đột cách mạng” vốn có để hòa nhập vào đời sống mới của xã hội tư bản. Vì vậy, giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử, và do đó sự tồn tại của Đảng Cộng sản là một sai lầm của lịch sử.

Ba, ngày nay khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì trí thức mới là lực lượng tiên phong của cách mạng chứ không phải giai cấp công nhân. Hơn nữa, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ yếu là trí thức; không có hoặc có rất ít lãnh đạo là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân chủ yếu đang làm thuê cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vì vậy, Đảng không phải của giai cấp công nhân. 

Bốn, với cách diễn đạt về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất giai cấp công nhân của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

Năm, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất giai cấp công nhân.

Hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên mà ngày nay, vấn đề vai trò và bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản đã trở thành một trong những đề tài đấu tranh tư tưởng gay gắt nhất. Các thế lực thù địch đang tìm và làm mọi cách để làm mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm phai nhạt bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm mất uy tín của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2. Cần khẳng định và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, việc luận chứng sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là sự áp đặt của C.Mác. Trước Mác, Giăng Mêliê (1664 - 1729), nhà triết học duy vật Pháp, nhà cộng sản chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ XVIII đã từng cho rằng, sứ mệnh giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột là thuộc về giai cấp nông dân. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy, giai cấp nông dân không thể lãnh đạo được phong trào cách mạng như Giăng Mêliê suy nghĩ. Hạn chế này ngoài vai trò chủ quan, thì xét đến cùng là do bối cảnh lịch sử quy định.

Không phải ngẫu nhiên mà C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mà là cả một quá trình các ông nghiên cứu lý luận, thâm nhập vào thực tiễn và tổng kết thực tiễn để viết nên học thuyết của mình. Đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mới làm cho mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản thực sự định hình. Trên cơ sở phân tích khoa học về quy luật vận động và phát triển của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, trên cơ sở của chế độ tư hữu, đã hình thành hai loại người thuộc “hai cực” của xã hội: người bóc lột và người bị bóc lột. Trong xã hội tư bản hiện đại, sự phân cực này biểu hiện đặc biệt rõ nét, giai cấp tư sản quan hệ với người lao động như là đối tượng để “bòn rút” lợi nhuận, cố biến người lao động thành cái “đinh ốc” không quyền hành gì trong guồng máy kinh tế.

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, là chủ thể vận hành các dây chuyền sản xuất tiên tiến. Những lực lượng sản xuất hùng hậu từng bước được tạo nên, cho phép tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần to lớn, đó là điều kiện để xây dựng một xã hội tốt đẹp vì con người. Nhưng chỉ bấy nhiêu thôi chưa đủ, mà phải thực hiện điều thứ hai - như C.Mác khẳng định, đó là giành lấy dân chủ, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là sứ mệnh vĩ đại của giai cấp công nhân. Kết luận này được C.Mác và Ph.Ăngghen dựa vào những căn cứ sau:

­Một là, giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, phương thức sản xuất tiên tiến. Nhưng trong xã hội tư bản lại là giai cấp chịu áp bức, bóc lột trực tiếp nhất, mâu thuẫn đối kháng với giai cấp tư sản, nên đây phải là giai cấp đi đầu trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa.

Hai là, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất. Các giai cấp, tầng lớp khác đấu tranh chống lại giai cấp tư sản hoặc bảo thủ, hoặc cải lương, thậm chí là phản động. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng... Các tầng lớp trung đẳng là những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công và nông dân, tất cả đều đấu tranh chống giai cấp tư sản để cứu lấy sự sống còn của họ với tính cách là những tầng lớp trung đẳng. Cho nên họ không cách mạng mà bảo thủ. Thậm chí, hơn thế nữa, họ lại là phản động: họ tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại”(1). Hơn nữa, khác với các cuộc cách mạng xã hội trước đó, sau khi giai cấp thống trị thiết lập chế độ xã hội mới vẫn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu. Trái lại, mục tiêu của cách mạng cộng sản chủ nghĩa do giai cấp công nhân thực hiện là triệt để xóa bỏ chế độ tư hữu: “Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ(2). Cho nên, chỉ có giai cấp công nhân mới giải phóng triệt để con người khỏi chế độ áp bức, bóc lột. 

Ba là, bản thân nền sản xuất công nghiệp hiện đại đã hình thành ở giai cấp công nhân tính tổ chức, tính kỷ luật và giác ngộ cao nhất. Do lực lượng sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển và xã hội hóa cao, đã làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân lúc này không chỉ diễn ra ở từng công xưởng, từng địa phương hay từng quốc gia nữa, mà dần lan ra toàn thế giới. Để chống lại phong trào công nhân, giai cấp tư sản các nước cũng buộc liên kết lại với nhau để đàn áp phong trào công nhân trên toàn cầu. Vì vậy, để giành thắng lợi trước giai cấp tư sản, giai cấp công nhân quốc tế phải đoàn kết, tổ chức mình lại dưới một chính đảng. Chính vì thế, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế - không chỉ giải phóng giai cấp mình, mà đồng thời giải phóng toàn xã hội. 

Về thất bại của một số nước xã hội chủ nghĩa vừa qua là một bước thụt lùi nghiêm trọng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, song thất bại đó là do sai lầm của các đảng cộng sản ở các nước và qua đó cho chúng ta thấy được những vấn đề sau:

Một là, thất bại này không làm cho học thuyết sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân sụp đổ, mà chỉ rõ rằng, các đảng cộng sản, trước hết là những người nắm trọng trách ở những nước đó phải làm thế nào để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Hai là, thất bại này chứng minh một cách sinh động rằng, nếu giai cấp công nhân không phát huy mạnh mẽ nhân tố chủ quan, đặc biệt là không xây dựng được một chính đảng tiên phong trong sạch, vững mạnh thì không thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình.

Ba là, thất bại này cũng nói lên rằng, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của chính đảng vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là một quá trình khó khăn, lâu dài, nhiều bước quanh co mới đến đích. Trong quá trình ấy, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là không ngừng củng cố giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản.

Thứ hai, ở nhiều nước tư bản hiện nay đang có sự điều chỉnh quan hệ sản xuất thông qua các chính sách kinh tế, xã hội. Điều đó đã làm thay đổi, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân so với thời kỳ của C.Mác. Giai cấp công nhân ngày nay không còn hoàn toàn “vô sản”, mà đã có sở hữu và có thu nhập. Tuy nhiên, cho rằng giai cấp công nhân ngày nay đã được “thõa mãn nhu cầu”, hết khổ cực, không còn bị bóc lột là hoàn toàn không đúng. Nhiều công trình nghiên cứu xã hội ở các nước tư bản đã thừa nhận rằng, bên cạnh sự cải thiện đời sống, thì vẫn còn tình trạng bần cùng hóa tương đối của giai cấp công nhân và người lao động, rất nhiều công nhân vẫn phải sống trong cảnh nghèo khổ, túng thiếu; khoảng cách phân hóa giàu nghèo không những không được rút ngắn mà nó ngày càng doãng ra.

Việc điều chỉnh quan hệ sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển là tất yếu. Chính vì vậy, ngay từ thời kỳ của  C.Mác, việc giai cấp công nhân có sở hữu cổ phần đã được đề cập. C.Mác viết: “Trong các công ty cổ phần, chức năng tư bản tách rời với quyền sở hữu tư bản; và do đó lao động cũng vậy, nó hoàn toàn tách rời với quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và về lao động thặng dư. Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp”(3).

Về sau, V.I.Lênin còn chỉ rõ hơn thực chất của việc công nhân có sở hữu cổ phần dưới chủ nghĩa tư bản độc quyền. Đó là, “sự “dân chủ hóa” việc sở hữu cổ phiếu... thật ra chỉ là một trong những phương pháp tăng thêm uy lực cho bọn đầu sỏ tài chính”(4). Xét trên thực tế số cổ phần mà người công nhân có nhỏ hơn rất nhiều so với tổng tư bản của giai cấp tư sản ứng ra, nên công nhân không được tham gia vào quá trình phân phối kết quả sản xuất. Vô hình chung giai cấp công nhân bị bóc lột dưới một hình thức mới tinh vi hơn mà thôi. Vì “Thực tế ngày nay hoàn toàn chứng thực những ý kiến của Lênin phê phán những lý thuyết tư sản - cải lương về “dân chủ hóa tư bản”, mà người ta nặn ra nhằm tô điểm cho chủ nghĩa đế quốc và làm lu mờ sự thống trị của các tổ chức độc quyền. Bọn trùm tư bản đang lợi dụng việc lưu hành rộng rãi những cổ phiếu nhỏ để tăng cường bóc lột và lừa bịp nhân dân, để làm giàu cho chúng. Trái với những lời tuyên bố của bộ máy tuyên truyền tư sản nói rằng trong các nước đế quốc chủ nghĩa hiện nay, những cổ phiếu nhỏ (“nhân dân”), đang lưu hành rộng rãi, trong thực tế chỉ có một số ít công nhân lành nghề - những đại diện của cái gọi là tầng lớp công nhân quý tộc mới có thể mua được cổ phiếu”(5). Vì vậy, không phải khi giai cấp công nhân có cổ phần, cổ phiếu thì không còn bị bóc lột hay “tan biến” vào các giai tầng khác.

Điều cần lưu ý là, chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ cho rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bắt nguồn từ sự nghèo khổ và bần cùng hóa. Sự nghèo khổ, mức sống thấp kém làm cho công nhân căm thù chế độ đẻ ra tai họa cho người lao động, nhưng động lực cơ bản thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nằm ngay trong bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Hơn nữa, cũng không nên quan niệm rằng, một giai cấp có khả năng lãnh đạo cách mạng vì nó là giai cấp nghèo khổ nhất. Trong các xã hội cũ, đã có những giai cấp hết sức nghèo khổ và phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống giai cấp thống trị, nhưng họ vẫn không giành và giữ được chính quyền, không trở thành giai cấp làm chủ xã hội, vì họ không có khả năng tạo ra một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ.

Lịch sử đã chứng minh rằng, giai cấp nào đại diện cho lực lượng sản xuất mới, có khả năng xây dựng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ, giai cấp ấy mới lãnh đạo được cách mạng và tổ chức xã hội thành chế độ do mình đại diện. Những ai đem sự nghèo khổ, khốn cùng để luận giải cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin. C.Mác đã từng chỉ ra rằng, tầng lớp khốn khổ nhất trong xã hội tư bản là vô sản lưu manh. Đây là sản phẩm của sự tiêu cực thối nát, những tầng lớp thấp nhất của xã hội tư bản nhưng không thể làm cách mạng được. Bởi vì “tầng lớp vô sản lưu manh, cái sản phẩm tiêu cực ấy của sự thối rữa của những tầng lớp bên dưới nhất trong xã hội cũ, thì đây đó, có thể được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động”(6). Chính sự tồn tại của vô sản lưu manh là một trong những bằng chứng nói lên bản chất vô nhân đạo của xã hội tư bản, xã hội thường xuyên tái tạo ra tầng lớp đông đảo những người bị ruồng bỏ dưới đáy xã hội.

Thứ ba, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

Về mặt lý luận, thời đại nào trí thức cũng đóng vai trò quan trọng, song cần khẳng định rằng, quyền lực ở bất kỳ thời đại nào cũng nằm trong tay giai cấp thống trị, mà trước hết giai cấp đó thống trị về kinh tế. Do đó, với tư cách là một tầng lớp xã hội, trí thức không thể tách ra và lãnh đạo xã hội trong điều kiện xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trí thức lại càng không thể thay thế giai cấp công nhân là người lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì trong xã hội, trí thức là một tầng lớp xã hội không thuần nhất, thường bao gồm những người xuất thân từ các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau; trí thức chưa bao giờ là một giai cấp, không đại biểu cho một phương thức sản xuất, không phải là lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các giai - tầng xã hội khác. Hơn nữa, trí thức không có hệ tư tưởng riêng, mặc dù hệ tư tưởng của giai cấp thống trị thường do trí thức khái quát nên. Cho nên, trí thức chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội.

Mặt khác, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, giai cấp công nhân không chỉ là những người lao động chân tay, mà cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ của giai cấp công nhân cũng phát triển tương ứng. Bắt đầu từ sau những năm 50 của thế kỷ XIX, khi nghiên cứu quá trình sản xuất và lưu thông của chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã nhận thấy sự phân tầng, phân hóa về trình độ chuyên môn của giai cấp công nhân. Trong đó, những lao động trong lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ có trình độ cao hơn so với những lao động chân tay trực tiếp đứng máy. Vì vậy đã xuất hiện “giai cấp đông đảo những người giám đốc công nghiệp và thương nghiệp”(7). Về sau, Ph.Ăngghen còn nói cụ thể hơn khi viết: “Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, giai cấp đó có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùng đứng trong một đội ngũ với những người anh em của họ, những người công nhân lao động chân tay, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới đây”(8). Vì vậy, trí thức hóa giai cấp công nhân là xu thế tất yếu của nền sản xuất hiện đại.

Về thực tiễn, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp công nhân. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện trí thức thay thế giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng.

Hiện nay, có một thực tế là, xét trong từng mối quan hệ cụ thể, thì một bộ phận công nhân nước ta hiện nay đang làm thuê cho các chủ doanh nghiệp, nhất là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là đặc điểm của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Nhưng từ đó để đi đến kết luận giai cấp công nhân Việt Nam làm thuê là không đúng. Bởi vì, xét trong tính tổng thể của một giai cấp, thì giai cấp công nhân Việt Nam làm chủ, lãnh đạo thông qua ý thức hệ chủ nghĩa Mác - Lênin và đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Không thể lấy cái bộ phận để đánh đồng với cái toàn thể để từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Thứ tư, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(9). Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”... như quan điểm của một số người. Đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(10). Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(11). Việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là  chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất giai cấp công nhân của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với giai cấp công nhân, nâng cao lập trường, tư tưởng của giai cấp công nhân, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

Thứ năm, hiện nay, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính...  Điều này đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, tha hóa, xa rời quần chúng.

Xét trên phương diện khác, việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất giai cấp công nhân của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất giai cấp công nhân, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải để cho Đảng trong sạch, vững mạnh hơn. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp hai Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường, củng cố bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phát huy vai trò của tổ chức đoàn trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch ra sức chống phá, là chủ nhân tương lai của đất nước, thanh niên cần phát huy vai trò tiên phong, xung kích trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để làm tốt việc này, định hướng, dẫn dắt của các tổ chức Đoàn có tính then chốt.

Phát huy vai trò của tổ chức đoàn trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Thanh niên Việt Nam là lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 25% dân số và gần 40% lực lượng lao động cả nước. Thanh niên nước ta có tinh thần yêu nước, có lý lưởng cách mạng và khát vọng cống hiến. Tuy nhiên do mặt trái kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ đến lối sống của thanh niên hiện nay. Hậu quả là một bộ phận thanh niên, trong đó có sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội. Với những hạn chế đó, thanh niên  là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, nhất là các vấn đề về “dân chủ, nhân quyền”, tôn giáo, dân túy… đã tác động tiêu cực đến tất cả các mặt của đời sống, xã hội. Một trong những nội dung mà các thế lực chống phá nhiều nhất là tấn công về mặt lý luận, là mũi nhọn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chúng thực hiện nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Âm mưu cơ bản và lâu dài của chúng là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tạo ra “khoảng trống” về lý luận, nhằm đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống tinh thần của nhân dân, tiến tới xoay chuyển quỹ đạo phát triển của Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung chống phá của các thế lực thù địch về mặt lý luận chủ yếu tập trung vào những vấn đề: Một là, chúng tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Hai là, các thế lực thù địch bôi nhọ, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. Ba là, các thế lực thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cố tình xuyên tạc, bóp méo về tính chất và vai trò của Đảng ta. Từ một số hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là nguy cơ tụt hậu về kinh tế, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả.

Trước thực trạng trên, để góp phần bảo vệ nền tảng lý luận của Đảng, phát huy vai trò của thanh niên nói chung và tổ chức Đoàn nói riêng trên mặt trận đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cần chú trọng thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, phát huy vai trò định hướng tư tưởng của các tổ chức Đoàn thông qua việc tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên về chân giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chính là trường học xã hội của thanh niên, là môi trường giáo dục, rèn luyện thanh niên cả về lập trường, tư tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, tác phong… Do đó, các tổ chức Đoàn, nhất là Đoàn cơ sở cần tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên về nền tảng lý luận của Đảng như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để thực hiện hiệu quả công tác này, hình thức và phương pháp giáo dục của tổ chức Đoàn cần phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm về trình độ, lối sống, tập quán… của thanh niên ở mỗi vùng, miền. Công tác tuyên truyền, giáo dục nền tảng tư tưởng cho thanh niên cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Mỗi tổ chức Đoàn cần phát huy vai trò của người đứng đầu là Bí thư trong việc tuyên truyền, lan tỏa giá trị của nền tảng lý luận của Đảng; đồng thời là người truyền cảm hứng cho mỗi đoàn viên, thanh niên trong việc học tập, nghiên cứu, bổ sung, phát triển nền tảng lý luận của Đảng.

Bên cạnh đó,Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên cần tích cực tuyên truyền, giáo dục, định hướng cho thanh niên trong việc đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Hiện nay, phần lớn thanh niên nước ta đều sử dụng internet và mạng xã hội nên dễ dàng tiếp xúc với những thông tin trái chiều, có nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và những phần tử phản động. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng kiên định hoặc nhận thức đúng bản chất của những thông tin đó nên không ít thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động. Do đó, tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên các cấp cần có nhiều cách thức để nắm bắt tình hình tư tưởng của thanh niên để có những biện pháp, cách thức tuyên truyền, giáo dục hợp lý, kịp thời. Ngoài ra, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên cần có những cách thức kết hợp trong việc định hướng tư tưởng cho thanh niên; tránh cho các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc thanh niên, nhất là những thanh niên ở vùng sâu, xa. Cần tạo điều kiện cho thanh niên tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, làm giàu, khởi nghiệp để thanh niên có cơ sở tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của các tổ chức Đoàn.

Thứ hai, mỗi thanh niên cần ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phát triển tư duy lý luận.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), Đảng ta chỉ rõ một trong những biểu hiện của việc suy thoái về tư tưởng, chính trị là “lười học tập lý luận chính trị”. Tình trạng “lười” đó khiến cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có thanh niên không có nền tảng lý luận vững chắc; dễ bị lôi kéo, mua chuộc. Do đó, để bảo vệ nền tảng lý luận của Đảng, mỗi thanh niên cần ra sức học tập lý luận chính trị bằng nhiều hình thức, cách thức khác nhau. Mỗi thanh niên cần ý thức rõ vai trò tiên phong trong việc học tập lý luận chính trị; khắc phục triệt để việc “lười” học tập lý luận chính trị hoặc học tập một cách đại khái, qua loa, đối phó… Việc thanh niên trang bị cho mình những kiến thức lý luận chính trị là cách thức hữu hiệu để tăng cường khả năng “miễn dịch” trước sự lôi kéo, chống phá của các thế lực thù địch; góp phần tích cực vào việc bảo vệ nền tảng lý luận của Đảng hiện nay.

Công tác bảo vệ nền tảng lý luận của Đảng đòi hỏi mỗi thanh niên cần không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn, bằng những tri thức, kiến thức, kinh nghiệm trong học tập và làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra nhiều biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi mỗi thanh niên cần chủ động, tích cực vận dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào việc luận giải và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cách chúng ta “thêm da, thêm thịt” cho cái sườn lý luận bằng thực tiễn sinh động nhằm tiếp tục khẳng định chân giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta luôn kiên định.   

          ThS Đoàn Ngọc H

Kiên định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội

     Đại hội XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp. Một Ban Chấp hành Trung ương khóa mới được bầu gồm 180 Ủy viên chính thức cùng 20 Ủy viên dự khuyết và việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được Đại hội bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII là kết quả của công tác nhân sự/nhân sự dự kiến Ban Chấp hành Trung ương được chuẩn bị sớm, kỹ lưỡng, thận trọng, khách quan, công tâm. Đó là những người có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, năng lực, trình độ để gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó. Thước đo để đánh giá “phẩm chất, đạo đức, năng lực và trình độ” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là sự tín nhiệm của nhân dân, của chính đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp và của các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng.

    Đại hội XIII là Đại hội của trí tuệ, đổi mới và hoạch định tầm nhìn tương lai của đất nước. Một đường lối chiến lược hoạch định tương lai đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc; xác định tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI, với các mốc ngắn hạn, trung hạn, dài hạn: 2025, 2030, 2045… để phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho mỗi chặng đường mà còn thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển, tính liên tục và hoàn chỉnh trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

    Đó không phải là "bình cũ rượu mới" mà là sự kiên định và sáng tạo; là sự phản ánh khát vọng phát triển đất nước độc lập - tự do - hạnh phúc - phồn vinh của nhân dân Việt Nam; phản ánh sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mà còn là sự cụ thể hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời làm cho mong ước "xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành hiện thực sinh động.

    Những nội dung trong yếu của Đại hội; trong đó có sự kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công tác nhân sự… đã không chỉ thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kiều bào ta mà còn thu hút sự chú ý của nhiều hãng tin, tờ báo lớn trên thế giới.

    Truyền thông của Việt Nam đã đưa tin chi tiết nội dung chương trình từng ngày Đại hội và kết quả của Đại hội. Cùng với đó, truyền thông quốc tế về Đại hội XIII và nhất là Đại hội đã nhận được rất nhiều thư, điện chúc mừng của nhiều chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và cá nhân… gửi đến chúc mừng đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc, tình cảm hữu nghị, hợp tác với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam của bạn bè quốc tế.

    Không chỉ quan tâm mà đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, các tầng lớp nhân dân và kiều bào ta còn tin tưởng, trao trọn niềm tin của mình vào tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các đại biểu dự Đại hội để cùng sáng suốt lựa chọn và bầu ra đội ngũ cán bộ đủ tâm và tầm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục duy trì và thúc đẩy thành công của Việt Nam - một đất nước không chỉ có tốc độ phát triển kinh tế năm 2020 vượt xa một số quốc gia trong khu vực mà còn có chủ trương, chính sách, hợp lý để từng bước ngăn chặn đại dịch Covid- 19 nhờ các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

    Một tương lai của đất nước được hoạch định cụ thể theo lộ trình tại Đại hội XIII không chỉ thể hiện rõ định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai mà còn là sự tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước nhanh, mạnh, bền vững hơn.

    Một đất nước Việt Nam đã và đang thay đổi từng ngày, từng giờ chính là sự chứng minh khách quan nhất trước những thông tin sai lệch, xuyên tạc về tương lai đất nước của các thế lực thù địch. Một Việt Nam phát triển thường xuất hiện đi liền với những cụm từ: “Điều thần kỳ mới ở Châu Á” hay “câu chuyện thành công”, “ngôi sao đang lên"…trong các nhận định, đánh giá của các tổ chức và truyền thông quốc tế. "Việt Nam thay đổi từng ngày" nhất là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đúng đắn và sáng suốt thực hiện công cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986)... như ông Geetesh Sharma, học giả/nhà báo kỳ cựu, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Ấn Độ - Việt Nam bang Tây Bengal nhận định.

    Ban Dân vận Trung ương đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương tổ chức 24 cuộc lấy ý kiến nhân dân góp ý các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Việc lấy ý kiến đóng góp xác đáng, có lý, có tình của các nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và các tầng lớp nhân dân cả nước về nội dung dự thảo văn kiện không chỉ cho thấy sự công phu, bài bản, trí tuệ, dân chủ và cầu thị của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn cho thấy sự tâm huyết, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm cao của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và với sự phát triển của đất nước trong tương lai.

    Cơ đồ của đất nước, niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân với Đại hội XIII của Đảng chính là động lực, là nguồn cảm hứng, là sức mạnh nội sinh tạo nên sức bật, sự cất cánh của một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong tương lai. Nội dung văn kiện, tương lai của đất nước là sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng và toàn Dân, thể hiện được “ý Đảng, lòng Dân". Nhân dân Việt Nam, kiều bào yêu nước đều có chung niềm tin tưởng và sự kỳ vọng vào đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và tương lai phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo do Đại hội XIII bầu ra nói riêng. Vì thế, đó mới là sự thật, chứ không phải là những luận diệu: "Không biết quốc gia sẽ đi về đâu", là "có thay đổi được gì đâu mà quan tâm", là "thất vọng hay lãnh đạm về Đại hội của Đảng"… như mạng xã hội xuyên tạc.

    Có thể khẳng định rằng: Đại hội XIII và kết quả của Đại hội đã bồi tụ niềm tin của toàn dân, toàn quân vào Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; đã truyền cảm hứng về một đất nước Việt Nam phát triển trong tương lai; đồng thời, cũng cho thấy, những thông tin trên mạng xã hội là sự xuyên tạc sự thật, cần được mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân nâng cao cảnh giác và nhận diện đúng để tránh rơi vào tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"!