Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

Vĩnh Phúc khẩn trương xây dựng khu cách ly sức chứa hơn 1.000 người

Dân trí Thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc khẩn trương tiến hành các bước để xây dựng khu cách ly tập trung có sức chứa hơn 1.000 người phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Ngày 4/5, kiểm tra hệ thống cơ sở vật chất tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 (phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên), Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - bà Hoàng Thị Thúy Lan cho rằng, đây là địa điểm phù hợp để thành lập khu cách ly tập trung với quy mô lớn. Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan kiểm tra công tác chuẩn bị khu cách ly tập trung tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 (Ảnh: Bích Phượng). Bà Lan yêu cầu thành phố Phúc Yên phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và các lực lượng chức năng khẩn trương tiến hành các bước để xây dựng tại đây trở thành khu cách ly tập trung có sức chứa hơn 1.000 người phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19 của thành phố Phúc Yên và trường hợp cần thiết, có thể trở thành khu cách ly tập trung của tỉnh. Sau khi đi kiểm tra công tác bảo đảm an toàn, an ninh trật tự tại Khu đô thị Đồng Sơn và Trung tâm Y tế thành phố Phúc Yên cơ sở 2, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã trực tiếp đến thăm, kiểm tra công tác khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên - nơi đang thực hiện quyết định cách ly y tế để bảo đảm phòng, chống dịch Covid-19. Theo báo cáo nhanh của UBND thành phố Phúc Yên, thành phố đã chỉ đạo các xã, phường truy vết thần tốc tất cả các trường hợp liên quan đến ổ dịch tại quán bar Sunny và các ca bệnh khác. Đến thời điểm này có 439 trường hợp F1 được cách ly tập trung; 995 trường hợp F2 và F3 được cách ly tại nhà; thành phố đã lấy 1.515 mẫu xét nghiệm. Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thành phố Phúc Yên đề xuất tỉnh thiết lập vùng cách ly y tế tại khu vực Đồng Sơn, trong đó, thực hiện cách ly y tế vùng lõi xung quanh quán bar Sunny và các hộ dân xung quanh khu đô thị Đồng Sơn; xét nghiệm để sàng lọc Covid-19 cho toàn bộ dân cư trong khu đô thị; thành lập cơ sở cách ly tập trung của thành phố, quy mô 300 giường tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh thuộc trường Đại học sư phạm Hà Nội 2; hỗ trợ thành phố thêm nhân lực, vật tư, trang thiết bị y tế, nhất là các đội cơ động, chuyên gia, nhân viên y tế có kinh nghiệm về phòng, chống dịch Covid-19. Trước tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đề nghị thành phố Phúc Yên cần chủ động, kiên quyết hơn nữa trong việc ngăn chặn và dập dịch. Trước mắt, cần tập trung truy vết các nhóm có nguy cơ cao; bảo đảm mọi điều kiện về cơ sở vật chất cho công tác phòng, chống dịch hiệu quả nhất; có quyết định, áp dụng các biện pháp cứng rắn đối với những khu vực đang thực hiện cách ly. Bà Lan yêu cầu thành phố Phúc Yên siết chặt công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là trật tự đô thị, kịp thời phát hiện các trường hợp nhập cảnh, cư trú trái phép trên địa bàn; rà soát, kiểm soát hộ khẩu từng gia đình, nhanh chóng phát hiện các trường hợp F1, F2. Tăng cường kiểm tra, thực hiện nghiêm các quy định của Trung ương, của tỉnh về phòng, chống dịch Covid-19, nhất là việc chấp hành quy định về giãn cách, đeo khẩu trang nơi công cộng, quản lý các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, du lịch, khu công nghiệp,…

Vượt kỷ lục 20 triệu ca nhiễm, Ấn Độ tranh cãi lệnh phong tỏa

Dân trí Tổng số ca mắc Covid-19 tại Ấn Độ đã vượt 20 triệu người hôm 4/5, đánh dấu kỷ lục tiếp theo trong cuộc khủng hoảng dịch bệnh tại quốc gia Nam Á. Theo thông báo của Bộ Y tế Ấn Độ ngày 4/5, trong 24 giờ qua, nước này ghi nhận thêm 357.229 ca nhiễm mới, nâng tổng số người mắc Covid-19 lên 20,3 triệu trường hợp. Cũng trong 24 giờ qua, Ấn Độ có thêm 3.449 ca tử vong. Tính đến nay, quốc gia Nam Á đã ghi nhận tổng cộng 222.408 người chết vì Covid-19. Nhiều chuyên gia cho rằng số người nhiễm và tử vong trên thực tế tại Ấn Độ còn cao hơn nhiều so với số liệu được công bố chính thức. Ấn Độ đã ghi nhận thêm khoảng 8 triệu ca nhiễm mới kể từ cuối tháng 3 trong làn sóng Covid-19 mới. Nguyên nhân khiến Ấn Độ rơi vào khủng hoảng dịch bệnh được cho là do sự xuất hiện của biến thể virus mới có khả năng lây lan nhanh hơn, cùng với đó là việc chính phủ cho phép tổ chức các hoạt động tập trung đông người như các sự kiện tôn giáo và chính trị lớn. Điều này khiến hệ thống y tế vốn gặp khó khăn của Ấn Độ bị quá tải, dẫn đến tình trạng thiếu giường bệnh, thuốc men và ôxy trầm trọng. Nhiều bệnh nhân mắc Covid-19 tử vong ngay bên ngoài các cơ sở y tế chật kín người ở thủ đô New Delhi cũng như những nơi khác. Tuy nhiên, số ca nhiễm mới hàng ngày tại Ấn Độ đã giảm trong những ngày gần đây, sau khi đạt mức cao kỷ lục 402.000 ca nhiễm hôm 30/4. Ấn Độ là nước đầu tiên trên thế giới ghi nhận số ca nhiễm mới lên tới hơn 400.000 người trong một ngày. "Nếu phân tích các ca nhiễm và tử vong hàng ngày, có một tín hiệu dịch chuyển sớm theo hướng tích cực", quan chức cấp cao của Bộ Y tế Ấn Độ Lav Aggarwal nói với các phóng viên hôm 3/5, song cũng nhấn mạnh rằng đây mới chỉ là tín hiệu ban đầu và cần theo dõi thêm. Hai tuần trước, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã kêu gọi các bang chỉ coi việc phong tỏa "là lựa chọn cuối cùng". Nhưng bây giờ, tất cả mọi người, từ các đồng minh chính trị của ông Modi cho đến các lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu và cố vấn y tế của Tổng thống Mỹ Joe Biden đều coi lệnh phong tỏa là cách duy nhất để ngăn dịch Covid-19 bùng phát ở Ấn Độ. Cách hiệu quả nhất để ngay lập tức phá vỡ chuỗi lây nhiễm là duy trì khoảng cách đủ để virus không lây lan từ người này sang người khác. Một số chuyên gia, bao gồm Anthony S. Fauci - bác sĩ hàng đầu về bệnh truyền nhiễm của Mỹ, nói rằng việc phong tỏa tạm thời là rất quan trọng. Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng việc phong tỏa toàn quốc hoàn toàn không khả thi và sẽ là thảm họa đối với người nghèo - nhóm dân cư bị tác động nhiều nhất khi dịch bệnh bùng phát. Chính phủ liên bang đã để ngỏ cho các bang tự quyết định về việc phong tỏa tại địa phương. Những nơi như thủ đô New Delhi và trung tâm tài chính Mumbai đã áp đặt các biện pháp hạn chế để chống dịch - mặc dù các biện pháp này ít nghiêm ngặt hơn so với năm ngoái. Theo một số chuyên gia, trong khi các bệnh viện phải vật lộn để tìm ôxy và các thi thể chất đống tại các lò hỏa táng, việc phong tỏa càng làm gia tăng tình trạng khó khăn. Việc mất đi sinh kế đột ngột có thể khiến người lao động đổ xô từ thành phố về quê nhà, đồng thời khiến virus lây lan nhanh hơn. Các chuyên gia cho rằng thay vì phong tỏa nghiêm ngặt, các chính quyền địa phương có thể ngừng các hoạt động ở những nơi khó duy trì giãn cách xã hội.

Mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân

Không có dân thì Đảng không có lực lượng, cách mạng không có sức mạnh. Không có Đảng thì dân không có người lãnh đạo. Để xứng đáng là người lãnh đạo của dân, đảng và mỗi đảng viên phải vì dân mà tận tụy trong mỗi việc làm, vì dân mà nêu cao đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đoàn kết và thanh khiết, phụng công thủ pháp, dĩ công vi thượng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quy luật của muôn đời là vậy, có dân thì có tất cả, mất dân thì mất hết. Dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng dân, trọng pháp, gần dân, học dân, nghe dân, tin dân để thương dân và vì dân. Đó là đạo lý, đạo nghĩa với dân, đó cũng là trách nhiệm đạo đức, chính trị, pháp lý đối với dân của Đảng và mỗi đảng viên. Đảng vĩ đại bởi Đảng quang minh chính đại. Đảng vĩ đại bởi Đảng chân chính cách mạng, trong sự cảm nhận, đánh giá trực tiếp của dân, trong sự giúp đỡ, kiểm tra, phê bình của dân với tất cả niềm tin và tình thương yêu của dân với Đảng, vừa nghiêm khắc vừa bao dung, tin tưởng, hy vọng và tự hào về Đảng của mình. 84 năm trong lịch sử quang vinh của Đảng với gần 70 năm Đảng liên tục cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội để Việt Nam có một cơ đồ, sự nghiệp như hiện nay. Khi làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng mới có gần 5.000 đảng viên trong sức mạnh của dân tộc 20 triệu người dân. Giờ đây, dân tộc Việt Nam đã là 90 triệu người và đội ngũ của Đảng đã gần 4 triệu đảng viên. Dân tộc anh hùng, Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân ta, của mỗi người chúng ta. Đất nước đã vào Xuân. Xã hội đang chuyển mình từ truyền thống tới hiện đại. Dân tộc đang đứng trước vận hội mới để phát triển, dồi dào sinh lực sáng tạo. Con người Việt Nam, thế hệ tiếp nối thế hệ với học vấn, học thức ngày một nâng cao, lại đang sống trong môi trường đổi mới, hội nhập, đang xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền, tiến tới văn minh và hiện đại, bằng tài năng, nhiệt huyết và trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc, nhất định sẽ làm rạng rỡ trí tuệ, nhân cách Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được toàn dân tin tưởng và tôn vinh, đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền. Phẩm chất xứng đáng của Đảng làm nên tính chính đáng và chính danh của Đảng trong thực thi trách nhiệm nặng nề, vẻ vang mà lịch sử giao phó và nhân dân ủy thác. Đảng mạnh bởi có một Nhà nước mạnh và đặc biệt là có sức mạnh từ sự ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ của Nhân dân, sức mạnh trong lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay, Ý Đảng, Lòng dân, Phép nước càng phải được gắn kết mật thiết, keo sơn hơn nữa. Sinh thời, Bác hằng quan tâm, lo lắng và làm hết sức mình để dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được tự do đi lại. Đó là những việc mà Người coi là cấp bách, thiết thực, phải làm ngay. Bác căn dặn, nhắc nhở chúng ta, dân chỉ biết đến tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc đủ. Nước nhà giành được độc lập tự do mà dân vẫn đói rét, vẫn cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Dân là chủ và dân làm chủ thì Đảng và mỗi đảng viên là đầy tớ, công bộc trung thành tận tụy của dân. Công chức nhà nước mà đa số là đảng viên, làm việc trong bộ máy công quyền phải suốt đời "dĩ công vi thượng", phải tu dưỡng một lẽ sống "phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất" vì dân là quý nhất, dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân. Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân – có thể nói, đó là điều xác định cao quý, thiêng liêng mà Đảng đã nguyện phấn đấu hy sinh để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân - quyền con người, quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp. Cũng với trách nhiệm cao cả đó, Thông điệp đầu năm mới 2014 của Thủ tướng Chính phủ đã đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của Dân, trọng trách của Nhà nước và Chính phủ trong việc phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. "Đây là lúc chúng ta cần có thêm động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân". "Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải đảm bảo được công lý và lẽ phải. Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển”. Từ tinh thần ấy, Đảng Nhà nước, cán bộ đảng viên phải vì dân mà hành động, trước sau như một, mọi hoạt động, mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân./.

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân

Thực tiễn và thành tựu của đổi mới cũng đem lại cho Đảng và Nhân dân ta điều xác tín quan trọng là, sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng đồng thời là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đúng quy luật, thuận lòng dân và hợp thời đại – đó là bí quyết của thành công, là đảm bảo chắc chắn của thắng lợi theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo. Dân là gốc của Nước nên dân giàu thì nước mạnh. Đảng vì dân, vì nước nên dân tin Đảng, theo Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng, bởi dân hiểu rõ, Đảng là Đảng của mình. Có được uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong lòng dân, trong sự gắn bó đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội như vậy là niềm tự hào chính đáng của Đảng về truyền thống vẻ vang, về những giá trị cao quý của mình được nhân dân và dân tộc tôn vinh. Sâu xa hơn nữa, càng tự hào bao nhiêu Đảng càng phải tự ý thức rõ ràng và đầy đủ bấy nhiêu về cội nguồn sâu xa của sức mạnh, sức sống của Đảng chính là Dân, từ nhân dân và dân tộc mà sinh ra, Dân tộc và Nhân dân đã nuôi dưỡng, bảo vệ và thúc đẩy Đảng của mình, sao cho Đảng luôn luôn xứng đáng với niềm tin, sự ủy thác và kỳ vọng của dân. Mối quan hệ giữa Đảng với dân, giữa giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của Việt Nam ngay từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, khi Đảng ra đời đã mang một ý vị và sắc thái đặc biệt, là tính đặc thù nổi bật của Đảng ta so với nhiều Đảng Cộng sản khác trên thế giới. Hồ Chí Minh đã khái quát quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và với phong trào yêu nước của dân tộc. Vậy là, từ trong bản chất làm nên sức mạnh của mình, giai cấp công nhân Việt Nam với Đảng là đội tiên phong ngay từ đầu đã gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc. Bởi thế, dù số lượng ít, nền công nghiệp thực sự của dân tộc chưa sản sinh, chỉ có công nghiệp do tư bản thực dân du nhập vào với mục đích khai thác thuộc địa… vậy mà giai cấp công nhân nước ta thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản vẫn đảm trách xuất sắc vai trò lãnh đạo và thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chính truyền thống lịch sử của dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân đã làm nên sức mạnh của Đảng, đã trở thành nguồn sống, tạo sinh lực, cốt cách và dũng khí cho Đảng. Một dân tộc anh hùng, bất khuất, có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bản sắc văn hóa và văn hiến độc đáo làm nên diện mạo trí tuệ, tinh thần, đạo đức của dân tộc Việt Nam đã nuôi dưỡng, đào luyện nên giai cấp công nhân Việt Nam, đã kết tinh những phẩm giá tốt đẹp ưu tú nhất của giai cấp, của dân tộc vào trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Và Nhân dân ta, một khối quần chúng nhân dân đã từng thấm thía tình cảnh nô lệ, nỗi nhục mất nước nên khao khát độc lập tự do, thà chết vinh còn hơn sống nhục, thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ… Một dân tộc, một khối quần chúng nhân dân như thế không chỉ dồi dào sức sống, sức sáng tạo, dũng cảm, mưu trí mà còn thủy chung tình nghĩa, vị tha nhân ái, bao dung độ lượng, trọng chân lý và đạo lý, đề cao phẩm giá, danh dự, khí tiết sống ở đời và làm người được thế giới ngợi ca là quý hơn thỏi vàng dòng. Có một cơ sở xã hội như thế, một cội nguồn sức mạnh như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu ơn sâu nghĩa nặng với dân tộc và nhân dân của mình.

Điều trần…một phía, làm sao khách quan? .

“Đến hẹn lại lên”, cứ tới ngày Tự do báo chí thế giới (3-5), lại xuất hiện một số tiếng nói thiếu thiện chí từ nước ngoài để dựng chuyện, bôi xấu tự do báo chí ở Việt Nam. Năm nay, được sự hậu thuẫn của một số đài báo, tổ chức chống cộng cùng hai dân biểu Hoa Kỳ, họ đã lôi kéo một nhóm người không phải là nhà báo từ Việt Nam sang Hoa Kỳ dự cái gọi “buổi điều trần về tự do báo chí tại Việt Nam”. Đâu là sự thật đằng sau câu chuyện này? Nhóm người mà một số đài báo nước ngoài “phong” cho là những “nhà báo độc lập”, “diễn giả” thật ra chỉ là các blogger từ Việt Nam tới tham gia cuộc điều trần bao gồm Nguyễn Thị Kim Chi, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Đình Hà, Tô Oanh và Lê Thanh Tùng. Một số người khác cũng được họ mời tham gia cái gọi là "phiên điều trần" bao gồm: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Lân Thắng và Anna Huyền Trang. Những người này được gán cho những vai trò có vẻ rất quan trọng như “khởi động một nền báo chí độc lập tại Việt Nam”, được tiếp xúc với các quan chức, các tổ chức nhân quyền, một số công ty internet và tham dự “khóa huấn luyện về truyền thông và an ninh điện tử”. Thoạt nghe thì tưởng đây là những hoạt động có ý nghĩa nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy nó xa rời tôn chỉ, mục đích của chính ngày Tự do báo chí thế giới vì ẩn chứa nhiều ý đồ xấu. Thật ra, ngày Tự do Báo chí Thế giới 3-5-2014 với chủ đề là: “Tự do cho truyền thông vì một tương lai tốt đẹp hơn” và dấu nhấn được đặt trên các vấn đề: “Truyền thông tự do, Nhà nước pháp quyền, báo chí chuyên nghiệp là một bộ phận của phát triển”. Nếu dựa theo những tiêu chí đó mà xét thì cái gọi là “điều trần”, “hội thảo” ở Mỹ đều đi ngược với tinh thần đó. Trước hết, chỉ cần nhìn vào thành phần ban tổ chức đã đủ thấy “ban bệ” của nó toàn những đối tượng nhiều năm nay quấy phá nền dân chủ, xuyên tạc tình hình ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Đài á Châu Tự Do, Tổ chức Phóng viên Không biên giới, cái gọi là Đảng? Việt Tân - một tổ chức khủng bố có nhiều hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Còn hai dân biểu Loretta Sanchez và Zoe Lofgren thì từ lâu đã được dư luận quốc tế đánh giá là hai nghị sĩ diều hâu, thường đưa ra những ý kiến rất chủ quan, phiến diện về dân chủ, nhân quyền Việt Nam và nhiều nước khác. Riêng bà Sanchez là một dân biểu Mỹ thường xuyên ráo riết vận động hạ viện Mỹ thông qua các dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Những người tổ chức cái gọi là cuộc điều trần chỉ đặt ra một vế “truyền thông tự do”, mà tách rời “nhà nước pháp quyền”, đồng thời cũng quên luôn “báo chí chuyên nghiệp” khi các diễn giả được họ mời gọi thực chất không phải là các nhà báo mà chỉ là những kẻ cơ hội chính trị đã kết bè với nhau và liên kết với các tổ chức chống cộng cực đoan, các tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ sử dụng blog, facebook thành nơi truyền bá, phát tán những thông bịa đặt, xuyên tạc, chống đối chính quyền, thổi phồng những bất mãn cá nhân dưới một cái mũ hào nhoáng là “tự do báo chí” và “yêu nước”. Nói về những “nhà báo” này, ông John Lee, chủ bút tờ Việt Hải Ngoại ở Hoa Kỳ khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân cho biết: “Những người cơ hội chính trị đó đã thực sự đối lập với lợi ích Tổ quốc, một khi họ nuôi dã tâm xấu xa đó thì họ sẽ không bao giờ thực hiện “tự do báo chí” theo nghĩa chân chính nhất của từ này. Thực tế, họ đã đi ngược lại tinh thần của ngày Tự do báo chí năm 2004 nêu rất rõ chủ đề “báo chí chuyên nghiệp”. Không thể có nền tự do báo chí tốt nếu người bàn luận về nó lại là những người không hiểu gì về báo chí vậy. Những “chuyên gia la làng” Xin nêu một ví dụ về trường hợp Nguyễn Lân Thắng, khi bị cấm xuất cảnh đã có thư ngỏ gửi bà Loretta Sanchez, bậy bạ gán ghép chuyện "không có tự do báo chí" có thể gây tác hại nghiêm trọng như việc thiếu thông tin trong dịch sởi hiện nay. Chỉ cần vào google gõ cụm từ “dịch sởi”, đủ thấy có tới hàng nghìn tin bài đưa về việc này, thế nhưng Thắng tuyên bố “người dân đã bị tước bỏ quyền được thông tin để tự bảo vệ mình”. Xét về phương pháp tổ chức cuộc điều trần, có thể thấy ngay nó rất thiếu khách quan. Nhóm người được mời như Phạm Chí Dũng, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Lân Thắng, Huyền Trang, Kim Chi lâu nay chỉ đại diện cho những tiếng nói bất mãn, cực đoan. Không có một bài viết nào của họ trên blog, facebook phản ánh đúng hiện thực đất nước mà chỉ là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hằn học về Đảng, Nhà nước. Tương tự như Cù Huy Hà Vũ, phần lớn những người này đã đi ngược lại truyền thống, lý tưởng cách mạng của gia đình. Họ không chỉ bị xã hội mà bị chính gia đình lên án. Không ít kẻ trong những nhóm người này hiện đã bỏ công việc nghề nghiệp từng làm. ở trong nước, họ đã xuyên tạc, bịa đặt không tiếc lời trên blog, facebook nay ra nước ngoài lại tiếp tục xuyên tạc, bịa đặt về tự do báo chí. Nếu thực sự vì tự do báo chí đích thực, các dân biểu Hoa Kỳ phải hướng tới những kênh thông tin đa chiều, có cơ sở như từ các cơ quan báo chí, các nhà báo, các cuộc khảo sát độc lập…Nếu cần những thông tin có thể tin cậy hơn, độc lập hơn, các dân biểu hoàn toàn có thể tiếp cận các nghiên cứu của hạ nghị sĩ Eni Falemavaega, thành viên cao cấp của ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 8-2 vừa qua, tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ. Trong tuyên bố, hạ nghị sĩ Falemavaega đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam về tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, bảo đảm quyền của tù nhân, tự do tôn giáo. Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin ở Việt Nam được thể hiện rõ qua số lượng đầu báo, ấn phẩm, các kênh phát thanh truyền hình, các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và được luật pháp bảo vệ. Ngày 7-4 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã ra Bản ghi nhận của Quốc hội đưa toàn văn tuyên bố nêu trên của hạ nghị sĩ Falemavaega thành tài liệu chính thức của Hạ viện Mỹ và trân trọng trao Bản ghi nhận của Quốc hội cho Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường. Lẽ nào các dân biểu và nhóm “nhà báo độc lập” lại không hiểu, không ghi nhận thông tin này? Điều trần không khách quan sẽ mất uy tín Ca dao Việt Nam có câu “Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ Ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông”. Còn ngạn ngữ phương Tây cũng lại có câu: “Trong thế giới của những tay gù thì tất cả những người lưng thẳng đều là dị dạng”. Không có quốc gia nào có nền tự do báo chí tuyệt đối, kể cả Mỹ cũng là nước bị chính dư luận từ Mỹ cho rằng không có tự do báo chí thực sự. Vậy thì không nên vì những suy diễn cảm tính mà đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Bởi lẽ, càng bóp méo hiện thực khách quan thì uy tín của mỗi dân biểu, mỗi tổ chức nhân quyền và chính mỗi người tham gia cổ súy cho ngày Tự do báo chí thế giới sẽ càng bị suy giảm. Thậm chí, sẽ đến lúc, công luận và nhận thức tiến bộ của nhân dân sẽ quay lưng với chính những việc làm tưởng như vì sự tiến bộ đó. Điều này có lẽ đã có tiền lệ ở Xin-ga-po. Năm ngoái, khi tổ chức Các nhà báo Không biên giới (RWB) công bố “Chỉ số tự do báo chí” hàng năm, đánh giá Xin-ga-po ở vị trí thứ 149 trong tổng số 179 quốc gia, Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long đã bức xúc nói rằng, chỉ số “Tự do báo chí” này không có ý nghĩa gì cả. Ông cho rằng, hệ thống báo chí đã “được truyền tải một cách rất tự do trên Internet, mọi người có thể tiếp nhận thông tin ngay lập tức ở bất kỳ đâu trên thế giới. Các tờ báo được quyền đăng tải một cách tự do mọi loại tin tức nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm cao”. Tổ chức Các nhà báo Không biên giới xem xét tính “tự do báo chí” của các quốc gia bao gồm cả việc xem xét các đạo luật kiểm soát hoạt động báo chí nhưng lại không xem xét đến chất lượng của báo chí - truyền thông của quốc gia đó. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục khẳng định, mở rộng hơn quyền tự do báo chí. Xét cả về số lượng và chất lượng, Việt Nam đang có một nền báo chí phát triển và thực hiện tốt tự do báo chí. Với những tinh thần của ngày Tự do báo chí thế giới năm nay như “Nhà nước pháp quyền, báo chí chuyên nghiệp là một bộ phận của phát triển” càng cho thấy những tiến bộ trong hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan tới quyền con người, quyền tự do báo chí, trong đó cao nhất là Hiến pháp ở Việt Nam phải được ghi nhận. Không thể khiên cưỡng, áp đặt và đưa ra những đánh giá sai lệch. Những cuộc “điều trần” như thế này là không cần thiết và thiếu khách quan!

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật .

Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. . Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Nhắc đến quyền tự do của con người, một số người đã trích Công ước nhân quyền châu Âu (Công ước) có hiệu lực từ ngày 3-9-1953, trong đó quy định: “Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới”. Một số người cho rằng, công dân Việt Nam chưa được hưởng quyền này. Thế nhưng họ không biết hoặc cố tình coi như không biết phần tiếp theo của Công ước đã trích dẫn ở trên nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc tán phát các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”. Như vậy, việc thực thi các quyền tự do đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do của công dân. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi "in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực". Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương. So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp năm 2013 của nước ta thuộc vào những hiến pháp ghi nhận một số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do. Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ; do đó, đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 của Hiến pháp năm 1992-chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới, như quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013, ở Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Nhà nước ta đang khẩn trương xây dựng một số dự án luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin... Trong đó, dự án Luật Biểu tình và dự án Luật Trưng cầu dân ý dự kiến sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5-2015) và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10-2015) của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Luật Báo chí dự kiến cũng sẽ được đưa ra sửa đổi tại nhiệm kỳ của Quốc hội này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, ở nước ta quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam mới đây, Phối Sư Thượng Tám Thanh-Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh-nói: "Có thể là do một số nước không nắm được tình hình thực tế về sinh hoạt của các tôn giáo hiện có trên đất nước Việt Nam. Cũng có thể là các nước đó đã nhận được những nguồn tin thiếu trung thực, lệch lạc, khiến họ hiểu sai về thực trạng tự do hoạt động tôn giáo tại Việt Nam". Gần đây, khi một số người sử dụng mạng xã hội cũng như những hình thức thông tin khác xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nước và nhân dân ta bị xử lý theo pháp luật, đã có ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, việc xử lý đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng… và lên án gay gắt Điều 258 của Bộ luật Hình sự, đòi bỏ điều này. Cần phải khẳng định rằng, Điều 258 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”. Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định những hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Điều luật này ban hành nhằm thực hiện quyền tự do của công dân trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh những kẻ lợi dụng ý nghĩa của việc “tự do” để thực hiện những ý đồ đen tối, gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội. Giả sử Điều 258 được bỏ đi như ý nguyện các nhà tự xưng là “tự do dân chủ” thì xã hội sẽ không thể tồn tại được bởi ai thích nói gì thì nói, có thể nói nhăng nói cuội, vu khống, bịa đặt… Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

Tăng cường sức đề kháng để phòng, chống văn hóa xấu độc, ngoại lai

Không rùm beng ồn ĩ, không hô hào, kích động ào ạt, mà cuộc “xâm lăng văn hóa” diễn ra từ từ, ngấm ngầm, dai dẳng, nhưng vô cùng tai hại. Nếu không sớm nhận diện, tỉnh táo và có biện pháp phòng ngừa từ xa, văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ đứng trước thử thách “sinh tử” bởi “cuộc chiến mềm” đầy mưu mô, tính toán của các thế lực thù địch. Sở dĩ người ta ví sự “xâm lăng văn hóa” như một “cuộc chiến mềm” bởi xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của văn hóa. Văn hóa là gốc rễ, là cội nguồn làm nên sức mạnh nội sinh và sức sống của mỗi dân tộc, đồng thời được ví như “tấm thẻ căn cước”, “chứng minh thư” để nhận diện giữa dân tộc này với dân tộc khác. Quá trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, bên cạnh tiếp thu, hấp thụ những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại, nước ta đang phải đối mặt với một thách thức, nguy cơ không nhỏ. Những năm gần đây, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của ông cha bị đảo lộn, nhiều hành vi phản văn hóa mới xuất hiện với tần suất lớn, mật độ dày và nhất là môi trường văn hóa xã hội đang bị “ô nhiễm nặng nề” đã và đang trở thành nỗi bất an đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc và tương lai đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do cuộc “xâm lăng văn hóa” nhằm vào nước ta đang tấn công từ nhiều phía, từ nhiều con đường, thông qua nhiều hình thức, âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Tại sao trong thời gian qua, dư luận hết sức băn khoăn bởi một bộ phận giới trẻ sa đà vào lối sống “gấp”, sống “thử”, sống co ro vào cái tôi nhỏ nhoi của mình? Tại sao nhiều thanh, thiếu niên nghiện trò chơi điện tử, nghiện xem phim sex, phim bạo lực đến mức báo động đỏ? Tại sao các vụ ly hôn trong gia đình trẻ, các vụ vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên và thanh niên liên tục gia tăng? Tại sao rất nhiều người trẻ đã bị lôi kéo, mê hoặc đến mức “phát cuồng” một số ca sĩ, diễn viên, ngôi sao bóng đá từ nước ngoài mà họ coi là thần tượng? Tại sao một số bộ phim vừa ra đời đã bị công luận tiến bộ cảnh báo là nhảm nhí, thảm họa, làm “vẩn đục” môi trường điện ảnh Việt Nam? Tại sao xuất hiện một số bài báo theo kiểu “lượm lặt đó đây”, “sưu tầm bốn phương”, “thông tin đa chiều”, “thế giới nhìn từ nhiều góc cạnh”… với nguồn thông tin không được kiểm chứng, thậm chí là những thông tin vô bổ, có xuất xứ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam? Tại sao một số nhà xuất bản đã dịch và in ấn những cuốn sách nước ngoài có nội dung xa lạ với nếp nghĩ, truyền thống của dân tộc ta? Tất cả những biểu hiện nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó, căn nguyên vừa sâu xa, vừa trực tiếp là do chúng ta chưa chuẩn bị chu đáo về tâm thế, bản lĩnh trước khi bước vào sân chơi toàn cầu, chưa đủ kiến thức và sự tỉnh táo cần thiết nên đã bị choáng ngợp trước các những cuộc “xâm lăng mềm” về văn hóa. Trong khi đó, các thế lực thù địch, bá quyền đã tìm mọi cách, lợi dụng mọi sơ hở về chính sách, luật pháp của Việt Nam và lợi dụng tối đa những mặt trái của internet để cung cấp, truyền bá các tư tưởng lai căng, các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại vào nước ta. Với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, thông qua sản phẩm văn hóa, thông tin xấu độc xuất hiện ngày càng nhiều, các thế lực thù địch muốn tiêm nhiễm vào tâm hồn, suy nghĩ công chúng, nhất là giới trẻ, qua đó làm dao động niềm tin, chao đảo nhận thức, từng bước thay đổi tư tưởng, lối sống, tâm lý, hành vi của họ. Đó cũng là mưu đồ mà các thế lực thù địch muốn “chuyển đổi hệ giá trị” ở Việt Nam, làm cho giới trẻ bị cuốn vào lối sống vị kỷ, thực dụng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ngày càng xa rời lý tưởng, lẽ sống, niềm tin mà các thế hệ ông cha đã phải đổ bao xương máu, mồ hôi, công sức mới vun đắp, tạo dựng nên. Cách đây gần 7 năm, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”, trong đó đã cảnh báo nghiêm khắc: “Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận công chúng. Tình trạng đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn, an ninh xã hội, dẫn đến khuynh hướng tự diễn biến về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau”. Văn kiện Đại hội XII cũng đã chỉ ra: “Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục… Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”. Thông qua những cụm từ như: “Khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin”, “tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”..., cũng đủ thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề mà Đảng ta đã chỉ ra. Những cảnh báo đó đến nay vẫn chưa hề mất tính thời sự, hơn thế, có vấn đề còn trở nên đáng báo động hơn. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói: Mất đất có thể chưa mất nước, nhưng mất văn hóa là mất tất cả. Điều mấu chốt này tưởng như ai cũng hiểu, cũng thấu, nhưng trên thực tế, không ít tổ chức, cá nhân, trong đó đáng nói nhất là một bộ phận thanh, thiếu niên đã bị cuốn theo những “cơn lốc mềm” từ các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài mà không hề hay biết. Sự vô tình, thiếu hiểu biết đó cùng với những “tác động mềm” hết sức tinh vi của các thế lực thù địch đã làm cho bản sắc văn hóa truyền thống bị nhạt phai, có thể dẫn tới nguy cơ mất gốc và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta dễ bị lung lay, mọt ruỗng. Trước thực tế không thể coi nhẹ, xem thường đó, vấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi tụ, vun đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho các cấp, các ngành và toàn xã hội. Sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta. Lịch sử đã minh chứng rằng, sức đề kháng văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu sức đề kháng văn hóa non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các “vi rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mòn tâm hồn, cốt cách văn hóa dân tộc. Ngược lại, nếu sức đề kháng văn hóa mạnh mẽ, cường tráng sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các tạp chất gây hại cho môi trường văn hóa dân tộc. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, việc huy động các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng chung tay góp sức bồi đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho dân tộc chính là bảo đảm cho tư thế, bản lĩnh, sức sống và sức mạnh văn hóa Việt Nam luôn trường tồn, bền vững trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Đó cũng là giải pháp hữu hiệu bảo đảm cho những giá trị, tinh hoa của dân tộc không bị pha trộn, mất gốc hay đồng hóa trước các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài./.

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo .

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. . Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường. Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy? Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông. Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra./.

Tự do và tùy tiện .

Cuối tuần, thấy con trai suy tư tỏ vẻ mệt mỏi, ông K vỗ vai ôn tồn: - Gớm, mới lên trưởng phòng được gần 3 tháng mà trông con có vẻ “xuống phong độ” thế. Cần bố “quân sư” gì không? Anh con trai thẽ thọt: - Dạ, cũng đau đầu chút bố ạ. Chuyện nhỏ lại thành to mới buồn! - Tóm lại là thế nào? Anh nói rõ bố nghe xem nào. - Bên con hôm rồi họp sơ kết đợt thi đua ba tháng đầu năm mà “mổ trâu, mổ bò” mệt. Từ khi con về phòng tới giờ hơn 15 năm chưa thấy thế bao giờ, hay tại con mới “lên”, mọi người muốn thử trình độ quản lý, cách xử lý của con hả bố? Ai lại vào cuộc họp, sau khi con trình bày gợi ý vài nội dung để sơ kết, nhận xét, một số anh “cứng”, vốn có thâm niên lâu năm, từ nhẹ nhàng, sau “tăng âm lượng”, rồi đứng lên đập bàn, to tiếng với nhau. Từ tranh luận hai bên, để xem ai làm tốt hơn, nhiều hơn, rồi chuyển sang không khác gì cãi nhau tay đôi, xúc phạm lẫn nhau. Thấy tình hình căng, con lên tiếng để giữ nhịp cuộc họp, thì mấy anh chị lại cho rằng, con ngăn cản quyền tự do phát biểu, thiếu dân chủ, áp đặt. Con buộc phải dừng họp giữa chừng, hoãn sang hôm khác, lấy lý do để mọi người bình tĩnh lại… - À ra thế. Thế giờ trưởng phòng định như thế nào nói bố nghe! - Con chắc sẽ gặp riêng từng anh chị làm “tư tưởng”, đả thông, phân tích. Con nghe lời bố từng nói trước đây, có những vấn đề cần nói riêng, có lý lẽ, tình cảm, để họ hiểu, có những việc lại phải nói chung, bàn chung để tìm sự đồng thuận. Nhưng nói như thế nào thì con đang nghĩ. Các anh chị ấy cũng lâu năm rồi, sẵn sàng “choang” luôn chứ không nể nang đâu. Ông K vừa nhâm nhi chén trà vừa rủ rỉ vỗ vai con trai: - Bố nói thế này con thấy được không nhé. Trước hết, con cần xem nội dung cuộc tranh luận đó đúng hay sai? Nếu đúng thì ghi nhận, xem xét. Nếu sai, phải chấn chỉnh, vạch rõ, mà cái này cần phân tích chung ở cuộc họp để tập thể đồng thuận, phân tích với cá nhân để họ thực sự thuyết phục, hiểu thấu. Sau đến, thái độ khi phát biểu. Con đang lăn tăn cái mà họ ngụy biện, họ chất vấn lại anh về quyền tự do ý kiến phải không? Anh con trai gật gật đầu: - Vâng ạ, đúng rồi bố! Ông K chậm rãi: “Tự do là một trạng thái mà bất kỳ ai cũng mong muốn và hướng tới. Tuy nhiên, tự do luôn mang tính nhân văn sâu sắc, phải đặt trong mối quan hệ với các cá nhân khác, với tập thể, với xã hội. Tự do phải xây dựng trên cơ sở của sự tôn trọng. Xã hội, tập thể tôn trọng cá nhân, nhưng ngược lại cá nhân này phải tôn trọng cá nhân khác cũng như tập thể. Con công nhận như thế không?” - Quay lại trường hợp của phòng con, bố thấy thế này. Ai cũng có quyền tự do phát ngôn, tự do đánh giá, nhận định, nhưng phải trong khuôn khổ. Tự do đó phải tuân thủ quy định, quy chế, quy ước của cơ quan, tập thể. Tự do phát ngôn trên cơ sở tôn trọng nhau, tôn trọng tập thể, nói cách khác, tự do được thể hiện một cách có văn hóa. Ở đây, trong khuôn khổ cuộc họp, có sự chủ tọa của con là trưởng phòng, mà hai, ba hay hơn số người đó đứng lên to tiếng, cãi vã không trên tinh thần xây dụng, lợi dụng “tự do phát ngôn”, lợi dụng quy chế dân chủ để vượt lên trên cả tự do, dân chủ, thì phải chăng “tự do” đã trở thành “tùy tiện”. Mà đã là “tùy tiện” thì ranh giới của sự tôn trọng, của văn minh, của văn hóa không còn nữa. Trên thực tế, từ “tự do” tới “tùy tiện” rất gần! Nhân danh “tự do” để “tùy tiện” trong tranh luận, trong trao đổi, trong đánh giá, để “lớn tiếng”, gây gổ, thậm chí văng tục trong cuộc họp như con nói là “điểm trừ”. Cần phải phê bình, uốn nắn nghiêm túc, cho dù đó là những cá nhân có thâm niên công tác. Đối với riêng con, còn trẻ, giữ vị trí lãnh đạo, cần thể hiện rõ vai trò đầu tàu, vai trò “cầm chịch”, giữ nhịp cho phòng, góp phần xây dựng văn hóa cho tập thể. Dứt khoát cần loại bỏ những biểu hiện tùy tiện, lấy danh nghĩa “tự do” vì sự tự mãn, nóng nảy của bản thân mà xâm phạm sự tự do, xâm phạm trạng thái văn hóa, văn minh của tập thể. Con nên bàn bạc với tập thể lãnh đạo, với chi ủy, với công đoàn của phòng để thống nhất hướng xử lý tình huống vừa rồi. - Bố làm con “sáng” ra bao nhiêu! Con hiểu rồi bố ạ! - Hiểu, hiểu thì tập trung phân tích, đánh giá, suy nghĩ lại mà điều hành hôm tới cho ra ngô, ra khoai, ông trưởng phòng ạ!

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ở mọi thời kỳ, trước bất cứ nhiệm vụ gì, đều phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. . Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(1). Nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm “không khoan nhượng” của Người đối với chủ nghĩa cá nhân trong Đảng: “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Chủ nghĩa cá nhân” (15/10/1948), “Phải chữa cái bệnh cấp bậc” (15/7/1950), “Tự phê bình và phê bình” (14/6/1955), “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” (7/9/1957), “Đạo đức cách mạng” (12/1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2/3/1969)… Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”(2); là “thứ vi trùng độc hại” sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(3). Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”(4). Hồ Chí Minh khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Theo Người, “việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội”(6) là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển. Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”. Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. “...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”(7), song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”(8), vì “khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(9). Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: “chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”(10). Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. “Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới”(11), nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(12). Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó. Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: “Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”(13). “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”(14).

CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG ĐẢNG ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(15); để Đảng không phải là một “tổ chức làm quan phát tài”, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này. Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(16). Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”(17). Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, “chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”(18). Theo đó: Một là, phải có phương pháp đúng đắn, bước đi thích hợp, thận trọng, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong Đảng”; xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, khắc phục triệt để biểu hiện “nhẹ trên nặng dưới”, “đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”(19); phát huy “vai trò của người đứng đầu”, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị… Hai là, mỗi đảng viên dù ở cương vị công tác nào đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong trong thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, quy định tại đơn vị công tác, trong gia đình và ngoài xã hội. Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân. Từng đảng viên phải kết hợp chặt chẽ xây và chống, chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, ngăn chặn, đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện nghiêm Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19/12/2016 về “Một số vấn đề làm ngay để tăng cường nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung tương”. Ba là, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những đảng viên có chức, có quyền. Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí. Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực./.

Liên tiếp 4 ca mắc Covid-19 sau cách ly, chuyên gia lý giải nguyên nhân

 3 ca dương tính SARS-Covid-19 là 2 chuyên gia Trung Quốc, thanh niên ở Hà Nam làm lây lan dịch ra 6 tỉnh thành. Mới nhất, người đàn ông Ấn Độ cũng dương tính sau khi rời khu cách ly, trở về Hà Nội.

Liên quan đến việc bệnh nhân dương tính SARS-CoV-2 khi trở về địa phương sau khi hoàn thành cách ly 14 ngày, các chuyên gia đánh giá, phải phân tích kỹ, điều tra thật kĩ để xác định nguyên nhân.

Trong đó, nguyên nhân do thời gian ủ bệnh quá 14 ngày được các chuyên gia đề cập. Theo PGS.TS Trần Đắc Phu, Cố vấn cao cấp của Bộ Y tế, các ca dương tính sau khi trở về địa phương/về nước sau khi đã cách ly đủ 14 ngày, với 3 lần xét nghiệm âm tính có thể do có thời gian ủ bệnh quá 14 ngày. Trên thực tế, có một số ca mắc Covid-19 biểu hiện muộn sau 14 ngày.

Cùng quan điểm này, một chuyên gia hàng đầu về truyền nhiễm chia sẻ, ông nghĩ nhiều đến khả năng biểu hiện bệnh sau 14 ngày.

"Ở Trung Quốc có ca đến ngày thứ 25 mới biểu hiện bệnh. Virus càng biến thể, thời gian biểu hiện càng lâu, nhưng tốc độ lây lan lại nhanh, từ đó dịch dễ bùng phát nhanh", chuyên gia này nói.

Nói về nguy cơ các ca nhiễm này từ cộng đồng, chuyên gia này cho rằng về lý thuyết có thể có. Tuy nhiên, với 4 ca này ông đánh giá do ủ bệnh quá 14 ngày.

"Khi virus trong cơ thể chưa nhân lên đến ngưỡng cụ thể, thì xét nghiệm cũng không phát hiện, đó là thời gian ủ bệnh. Tùy cơ địa mỗi người, tùy chủng virus mà thời gian ủ bệnh khác nhau. Nhưng như tôi đã nói trên thế giới có những ca ủ bệnh 24-25 ngày", chuyên gia này nói.

PGS.TS Trần Đắc Phu phân tích thêm, ngoài nguyên nhân này, các ca dương tính sau khi hoàn thành thời gian cách ly, về cộng đồng mới biểu hiện bệnh còn có thể do lây nhiễm Covid-19 ngay trong khu cách ly, tuy nhiên đến khi rời khỏi khu cách ly mới phát bệnh; Ngoài ra cần kiểm tra ngày xét nghiệm cuối cùng tại khu cách ly là ngày thứ bao nhiêu, có đúng là ngày thứ 14 không; Có thể xảy ra lây nhiễm khi di chuyển trong cộng đồng.

"Tuy nhiên, như tôi đã nói, phải điều tra dịch tễ rất kỹ càng mới có thể đánh giá nguồn lây, thậm chí có những trường hợp không thể truy vết được lây nhiễm của ca F0", ông Phu nhấn mạnh.

Theo chuyên gia, vấn đề xác định nguồn lây rất quan trọng để định hướng truy vết và đánh giá quy mô dịch. "Tuy nhiên, điều quan trọng lúc này là ưu tiên truy vết hết F0, F1, F2...  trong cộng đồng để tránh lây lan và tiếp đến phải khẳng định trường hợp này có bị lây nhiễm ở cộng đồng không để có biện pháp chống dịch phù hợp", ông Phu nói.

Theo đó, anh N.V.Đ. được cách ly tại Khách sạn Alisia (19 Hoàng Sa, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) từ ngày 7/4. Sau khi được lấy mẫu xét nghiệm lần 3 vào ngày 21/4 trước khi hoàn thành cách ly, với kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2, bệnh nhân rời khu cách ly về địa phương.

Đến địa phương, ngày 24/4 bệnh nhân có biểu hiện bệnh, xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2. Từ ca F0 này đã khiến 13 trường hợp ở Hà Nam lây bệnh, lây cho 2 ca ở Hà Nội, 2 ca ở Hưng Yên.

Tương tự, hai chuyên gia người Trung Quốc sau khi rời khu cách ly với kết quả xét nghiệm âm tính đã đi khắp nơi, khi về nước xét nghiệm dương tính SARS-CoV-2. Những nơi các chuyên gia này ghé qua như quán Sunny Club ở Phúc Yên (Vĩnh Phúc), Trung tâm chăm sóc sức khỏe tại Vĩnh Yên… đều phát hiện ca bệnh Covid-19 liên quan tiếp xúc bệnh nhân.

Đến nay Vĩnh Phúc ghi nhận 14 ca mắc liên quan đến các chuyên gia này.

Mới nhất, sáng 4/5 Hà Nội xác nhận ca dương tính mới là người đàn ông Ấn Độ sau khi trở về từ khu cách ly.

Bệnh nhân là chuyên gia, nhập cảnh ngày 17/4, được cách ly tập trung tại khách sạn Cảnh Hưng, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 2 lần. Lần 1 ngày 19/4, lần 2 ngày 30/4. Cả 2 lần đều cho kết quả âm tính do CDC Hải Phòng thực hiện.

Ngày 1/5, bệnh nhân hết cách ly, đi taxi cùng vợ con đến nơi ở: Park 10, tầng 34, phòng 12B, Khu đô thị Times City, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội.

Ngày 3/5, bệnh nhân tự đến bệnh viện để làm xét nghiệm dịch vụ và cho kết quả dương tính SARS-CoV-2.

Hà Nội hiện đang tiến hành phong tỏa tòa Park 10 Times City có người Ấn Độ dương tính SARS-CoV-2.

Trước làn sóng mới Covid-19 với các ca cộng đồng ghi nhận ở 6 tỉnh thành liên quan đến 3 ca mắc Covid-19 sau hoàn thành cách ly tập trung, Bộ Y tế đã có yêu cầu khẩn gửi tới các địa phương, tạm thời chưa giải quyết kết thúc và cho ra khỏi khu cách ly tập trung (cả của quân đội, dân sự quản lý) đối với tất cả các trường hợp đã đủ điều kiện hết cách ly (tối thiểu 14 ngày, xét nghiệm 2 lần âm tính).

HOÀN THIỆN ĐỒNG BỘ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT


 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội. Trong đó có nhiệm vụ: hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh. Cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị-xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

CÔNG TÁC GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN THẾ HỆ THANH NIÊN HIỆN NAY

 


 

Giáo dục, rèn luyện thanh niên vừa "hồng", vừa "chuyên" là quan điểm nhất quán trong tư tưởng "trồng người" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy, làm thế nào để xây dựng thế hệ thanh niên như lời căn dặn của Người trong thời đại mới? Đó là câu hỏi lớn, đặt ra cho hệ thống giáo dục, đặc biệt đối với các trường trung học phổ thông và giáo dục đại học.

Chúng ta đang đứng trước sự vận động không ngừng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó lực lượng thanh niên đóng vai trò xung kích, với sức sang tạo, trí tuệ và bản lĩnh. Vì vậy, cần giáo dục cho thanh niên các chuyên đề về đạo đức, lối sống. Việc dạy về đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết. Không chỉ quan trọng về mặt giáo dục lý luận mà còn quan trọng trong việc giáo dục thực tiễn để hình thành lối sống, đạo đức, tác phong; hình thành phẩm chất, năng lực của một công dân trong thời đại mới. Nhưng để làm sao hoạt động không chỉ dừng lại ở phong trào mà thấm nhuần vào việc làm của mỗi học sinh, sinh viên luôn là bài toán đặt ra. Việc thiết thực nhất là làm sao cho học sinh, sinh viên tham gia sáng tạo ra những sản phẩm truyền thông để tuyên truyền, giáo dục học sinh, sinh viên về đạo đức, lối sống. Đồng thời, tích hợp những buổi tọa đàm về đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên thời nay vào các môn khoa học xã hội. Từ đó, bằng sức lực, hiểu biết, học sinh, sinh viên sáng tạo ra những sản phẩm có ích trong học tập, trong cuộc sống, bài học về đạo đức, lối sống cũng từ đó mà ra.

Thiết nghĩ, để xây dựng thế hệ học sinh, sinh viên vừa hồng, vừa chuyên. Trong nội dung, chương trình giáo dục cần tích hợp, lồng ghép hoạt động giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phòng chống tham nhũng; giáo dục các vấn đề về bình đẳng giới, bảo vệ môi  trường… thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động văn hóa; đề cao vai trò nêu gương của cha mẹ, thầy cô, bạn bè và những tấm gương về đạo đức, lối sống được rút ra từ cuộc sống, từ lịch sử, qua di sản văn hóa để truyền thụ, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cách mạng cho thế hệ thanh niên./.

Thứ Hai, 3 tháng 5, 2021

Chân dung Nguyễn Đình Thắng, kẻ bất lương lấy “đầu cơ chính trị”, lừa đảo làm nghề kiếm sống



Đằng sau một người tự nhận “yêu nước”, với vỏ bọc đấu tranh nhân quyền vì dân, xông xáo trên mặt trận chống phá đất nước Việt Nam là một Nguyễn Đình Thắng đầy mưu mô, thủ đoạn, trục lợi cho bản thân. Nguyễn Đình Thắng không chỉ là kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, mà còn là một “con buôn” sống bằng nghề đầu cơ chính trị, nhiều lần cộng đồng người Mỹ gốc Việt vạch mặt. Thủ đoạn của Nguyễn Ðình Thắng là gì? Và người Mỹ gốc Việt đã vạch mặt Thắng qua những phi vụ nổi bật nào?

Sáng 4/5: Hà Nội và 2 tỉnh phát hiện 4 ca mắc mới COVID-19

 Nam thanh niên ở Bắc Từ Liêm, Hà Nội là bệnh nhân COVID-19 mới nhất ở nước ta, theo thông báo của Bộ Y tế cách đây ít phút.

Từ 4/5, tạm thời chưa cho ra khỏi khu cách ly tập trung với người đủ điều kiện

 Lý do của chính sách này là do thời gian gần đây có 1 số trường hợp hết cách ly tập trung vẫn ghi nhận dương tính với SASR-CoV-2, làm lây lan dịch.

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

 

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Một số giải pháp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận trong giai đoạn hiện nay

 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”.

Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ XHCN, đến vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Do vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”. Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Khi quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận giai đoạn hiện nay; trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:


Thứ nhất, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Căn cứ tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước được xây dựng trên cơ sở khoa học; có quan điểm, đường lối và chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội và hợp lòng dân, giữ vững được sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chính quyền cũng như trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo được lòng tin và sự ủng hộ của toàn dân. Đồng thời, xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

   Thứ hai, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo và ban chỉ đạo 35 các cấp.

   Căn cứ đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị trong từng thời kỳ, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp phải đề ra được các biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận có hiệu quả; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần có sự chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành trong định hướng đấu tranh; có cơ chế cung cấp thông tin cho ban chỉ đạo 35 cấp trực thuộc Trung ương và các cơ quan thông tấn, báo chí; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội.

   Thứ ba, xây dựng lực lượng nòng cốt và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận.

   Phải tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, các phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí... Cần nghiên cứu tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên internet, các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao.

   Thứ tư, có cơ chế phối hợp chặt chẽ ở các cấp và phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận.

   Do tính chất hệ trọng và nhạy cảm của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phải coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp đấu tranh trên mặt trận này. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Cần công khai hóa các thông tin cần thiết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận trước hết trong cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng, để định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch./.

KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY LÒNG YÊU NƯỚC CỦA MỖI NGƯỜI DÂN

Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam chính là nền tảng, cơ sở cho sự thống nhất trong khác biệt để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc, đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự không lớn, song đã đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do; tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, khi nước nhà đã giành được độc lập, song hiểm nguy từ nạn "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm" vẫn đe dọa nền độc lập, tự do mà nhân dân ta đã giành được sau hơn 80 năm trời nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”[6]; đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi người dân, mọi giai tầng trong xã hội trong các bức thư gửi cho các cụ phụ lão: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không” (Thư gửi các cụ phụ lão); cho các em nhỏ: “Các em phải thương yêu nước ta” (Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa); cho một Việt kiều: “Tôi vẫn nghe ông là người yêu nước thương nòi, vậy dịp này rất thuận tiện cho ông tỏ lòng trung thành với Tổ quốc” (tháng 9/1945); cho các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình: “Các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của đức Giêsu” và bao dung, vị tha với những người trót lầm đường, lạc lối: “Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe”[7]... để quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở của lòng yêu nước chân chính, tiến hành sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Trân trọng giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc tuyên truyền về lòng yêu nước, tinh thần yêu nước cho mọi người dân, trong mọi thời điểm là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước không chỉ dừng ở nhận thức mà chính là phải thể hiện ở hành động. Cho nên, để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn, Người yêu cầu các cấp, các ngành “phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”[8], vì “đành biết rằng từ đây đi đến cuộc toàn thắng, chúng ta còn phải kinh qua nhiều nỗi khó khăn. Nhưng chúng ta giàu lòng yêu nước, thì chúng ta quyết cứu được nước”[9]… Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, trong những năm tháng đấu tranh gian lao ấy, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của mọi người dân Việt Nam đã được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nổi bật tinh thần, ý chí và trí tuệ con người Việt Nam. Đó chính là sức mạnh của lòng yêu nước được hun đúc suốt hàng ngàn năm lịch sử; không chỉ được bồi đắp mà còn phát triển lên một tầm cao mới, gắn với tinh thần quốc tế trong sáng. Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế cao cả trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; là lòng nồng nàn yêu nước gắn với sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các đồng chí, bạn bè và nhân dân lao động các nước; là phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đấu tranh để “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[10] trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử. Đó cũng chính là hiển hiện của những tấm gương yêu nước, anh hùng mà khiêm nhường của biết bao quần chúng ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi; của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên mọi lĩnh vực công tác ở cả tiền tuyến và hậu phương,v.v.. đã kết thành "một làn sóng mạnh mẽ", tạo thành sức mạnh tổng hợp, vô song, làm nên những chiến công của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đưa đất nước ta tới hòa bình, độc lập, thống nhất, kiên định ục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì thế, có thể nói, những giá trị tinh hoa truyền thống như tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương giống nòi, phụng sự Tổ quốc, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì dân, vì nước,v.v.. đến Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh đã được nâng lên một tầm cao. Yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung và hình thức mới, mang bản chất giai cấp, hòa quyện chặt chẽ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại mà cơ sở tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là yêu nước chân chính gắn với tinh thần quốc tế vô sản, "khác hẳn tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”… và chính Người là một mẫu mực của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần yêu nước Việt Nam hiện đại đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh của sự gặp nhau giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản”[11].

Đấu tranh tư tưởng, lý luận - nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng .

Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; là đấu tranh giữa tư tưởng, lý luận vô sản và tư tưởng, lý luận phi vô sản. Cuộc đấu tranh này luôn diễn ra quyết liệt, phức tạp và liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, đưa cánh mạng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(1), dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(2); “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. ...Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định huớng XHCN… Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3). Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đưòng đi lên CNXH ở Việt Nam”(4). Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Phải quán triệt sâu sắc quan đểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(5). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Vì thế, công tác tư tưởng luôn phải được quan tâm đầy đủ, được tiến hành thường xuyên, mọi sự xem nhẹ công tác tư tưởng đều sẽ phải trả giá, thậm chí một cái giá rất đắt. Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững nội dung và yêu cầu cốt lõi của đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(6). Cụ thể là: Thứ nhất, cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; phải thường xuyên chăm lo lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng; có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật vận động của xã hội và hợp lòng dân. Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận phải thể hiện tập trung ở việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Để chủ động tiến công toàn diện, thống nhất và đồng bộ làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể hóa vào xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở cấp mình. Phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định về trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, cán bộ chủ trì và của mọi cán bộ, đảng viên; bổ sung hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chế độ công tác tư tưởng, quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tiến hành công tác tư tưởng, lý luận. Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo các cấp phải đề ra được những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sát với đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị mình trong từng thời kỳ; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động, tạo ra được nhiều cách làm hay, hiệu quả; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Các đồng chí cấp ủy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, thường xuyên chỉ đạo và trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thứ h ai, tăng cường, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của các Ban chỉ đạo 35; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 14 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 105 của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác lý luận chính trị. Ban chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các thành viên; tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp trên đối với Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp dưới về tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội... Quan tâm xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt; chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật...; cần nghiên cứu xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, phóng viên, biên tập viên... Động viên, khích lệ họ tự giác, chủ động phát huy khả năng, sở trường. Tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên Internet và các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao. Thứ ba, cấp ủy và chính quyền các cấp cần ban hành các quy định, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Đảng, Nhà nước có liên quan, trực tiếp là các lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hoá, văn nghệ, xuất bản, đối ngoại, an ninh... ở cả Trung ương và địa phương trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; trao đổi thông tin, dự báo đánh giá tình hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và tổ chức phối hợp đấu tranh. Việc phối hợp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần được cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Thứ tư, coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp. Thực hiện tốt quan điểm: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”(7). Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng thường xuyên quan tâm định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. Đây không chỉ là sự quán triệt và cụ thể hóa quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chính trị - tư tưởng, mà còn là một yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.