Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt bèn nêu ra quan điểm thoạt đầu nghe rất êm tai rằng “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”.
Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021
HỠI RICHARD NIXON ĐỪNG ĐEM BOM ĐẠN ĐỂ DOẠ NHÂN DÂN VIỆT NAM!
Phát biểu trên đài phát thanh Hà Nội của nữ diễn viên Jane Fonda trong chuyến thăm miền Bắc Việt Nam năm 1972.
"Một điều tôi đã học được, ngoài sự nghi ngờ ở đất nước này là Nixon không thể đánh bại tinh thần của những người này, ông ta không thể biến Việt Nam, cả miền Nam và miền Bắc thành một thuộc địa kiểu mới của Mỹ bằng cách ném bom, xâm lược và tấn công bằng mọi cách.
Người ta đi vào vùng nông thôn và lắng nghe những người nông dân miêu tả cảnh đời họ trước cách mạng để hiểu tại sao mọi quả bom rơi xuống chỉ củng cố thêm quyết tâm của họ. Tôi đã nói chuyện với nhiều nông dân họ kể về những ngày cha mẹ họ phải bán họ cho địa chủ như những nô lệ khác. Khi đó có rất ít trường học và bị mù chữ, chăm sóc y tế không hề đầy đủ, khi họ không được làm chủ cuộc sống của mình.
Nhưng bây giờ, bất chấp các vụ ném bom, bất chấp tội ác của Richard Nixon. Họ được sở hữu đất đai cho riêng họ, xây dựng trường học của riêng họ để trẻ em đi học, học đọc viết. Nạn mù chữ bị đẩy lùi, không còn tệ nạn mại dâm như trong thời Pháp thuộc, nói cách khác dân chúng đã nắm quyền về tay họ, và họ được sống cuộc sống của mình.
Và sau 4000 năm chống lại thiên nhiên và ngoại xâm và 25 năm trước cuộc cách mạng họ đã đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Tôi không nghĩ người dân Việt Nam sẽ chịu thỏa hiệp dưới mọi hình thức về độc lập và tự do của đất nước họ, và tôi nghĩ Richard Nixon nên đọc lịch sử Việt Nam, đặc biệt là các thơ ca của họ, và các bài thơ của Hồ Chí Minh"./.
Môi Trường ST.
Chiến lược quốc phú- binh cường - nội yên- ngoại tĩnh của Cha ông
Với
chiến lược quốc phú- binh cường - nội yên- ngoại tĩnh,
Nhà Lê sơ
- chế độ quân chủ
chuyên chế tập quyền trong lịch sử
Việt Nam lần đầu tiên đạt đến đỉnh cao của sự phát triển. Đời Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và đặc
biệt là đời Lê Thái Tông, xã hội được đi vào ổn định, phát
triển thịnh vượng một cách mau chóng sau thời kỳ chiến tranh trước đó. Dưới
thời Lê Thánh Tông, Đại Việt phát triển cực
thịnh về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự. Nước Đại Việt từ trước chưa bao
giờ cường thịnh và mạnh mẽ, có sức ảnh hưởng toàn khu vực lớn bằng thời kỳ này. Cùng với kinh tế, quân sự,
ngoại giao hùng mạnh nên các đời Thái Tông đến Thánh Tông liên tiếp sáp
nhập lãnh thổ các quốc gia Bồn Man, Chiêm Thành vào Đại Việt, dẹp yên
các cuộc bạo loạn ở miền thượng, ổn định chính quyền trong thời gian dài, tạo
tiền đề cho nền kinh tế được phát triển buôn bán
trong nước và thông thương và mở rộng quan hệ với nước ngoài góp phần nâng cao
vị thế đất nước.
VVNh
Nguyễn Trãi với ngoại giao tâm
Nguyễn Trãi coi trọng kết hợp tác chiến với ngoại giao
tâm công để đánh vào lòng địch. Những bức thư của Nguyễn Trãi gửi cho
tướng giặc Vương Thông, Phương Chính... đã làm lung lạc ý chí xâm lược, dao
động tinh thần của quân giặc kết hợp với các đòn tiến công quân sự mãnh liệt
của các đơn vị quân đội tinh nhuệ, thiến chiến và chiến tranh nhân dân rộng
khắp đã tạo nên sức mạnh tổng hợp quyét sạch bóng quân thù, giải phóng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc.
Đối ngoại gắn với QPAN dưới triều đại phong kiến (Thời Lê)
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta, hoạt động ngoại giao luôn đi cùng với các hoạt động quân
sự, mở cục diện vừa đánh vừa đàm, phát huy cao độ ngoại giao tâm công, làm sáng
ngời chính nghĩa để đánh thắng kẻ thù và chấm dứt chiến tranh
trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.
Lý Thường Kiệt đã tập trung cao độ sức mạnh quân sự để phá
tan cứ điểm quan trọng của quân Tống ở Ung Châu; xây dựng vững chắc phòng tuyến
ở sông Như Nguyệt, nhưng, đồng thời dùng biện sỹ bàn hoà để không vừa nhọc
tướng sỹ, khỏi hao tốn máu xương của nhân dân mà bảo toàn được tông miếu, buộc quân
giặc phải rút quân về nước.
Nhận xét "Sắc lệnh về hòa bình" của Hồ Chí Minh
Nhận xét
"Sắc lệnh về hòa bình" Hồ Chí Minh cho rằng, ''sắc lệnh đó là cơ sở chính sách
đối ngoại của Nhà nước xô viết. Từ đó trở đi, Liên xô không lúc nào ngừng tích
cực đấu tranh cho hòa bình, chống lại bọn gây chiến”[1].
"Sắc lệnh về hòa bình"
đặt nền móng cho chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Nhà nước Xô viết,
đã mở ra thời đại của chính sách ngoại giao mới, chính sách hòa bình và hữu
nghị giữa các dân tộc.
"Sắc lệnh về hòa bình" của chính quyền Xô Viết
Ngày 8 tháng 11 năm 1917, một ngày sau khi thiết lập chính quyền công nông, Đại hội xô viết lần thứ hai đã thông qua "Sắc lệnh về hòa bình". Đây là sắc lệnh rất quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao. V.I.Lênin nêu rõ: Chiến tranh là phĩa là một tội ác lớn nhất đối với nhân loại; chỉ rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản động chính là nguyên nhân gây ra các cuộc chiến tranh hủy hoại sự phát triển của nhân loại. Bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là yêu chuộng hòa bình, kiên quyết phản đối chiến tranh xâm lược. “Sắc lệnh về hòa bình” khẳng định, để có một nền hòa bình lâu dài, bền vững trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc không ngừng chạy đua vũ trang, câu kết chặt chẽ với nhau và với các thế lực phản động quốc tế nhằm chống phá cách mạng thì đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa phải hết sức chú trọng đến vấn đề chiến lược cách mạng là “tự bảo vệ”, phải không ngừng chăm lo xây dựng, tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngoại giao nước lớn của Trung Quốc
Ngoại giao
nước lớn (ngoại giao quyết đoán) một
chiến lược ngoại giao được thực hiện ở Trung Quốc trong những năm qua. Sức
mạnh của ngoại giao nước lớn được tập trung vào 4 vấn đề cơ bản là: chủ động
tận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi; nâng ngoại giao kinh
tế thành một kế hoạch tổng thể nhằm xây dựng một mạng lưới
các hiệp định, thỏa thuận và thể chế để củng
cố vị thế của Trung Quốc; triển khai, trên quy mô lớn ngoại giao đa
phương; xây dựng quân đội và nền quốc phòng hùng mạnh
và coi đây là một phần quan trọng hướng tới chính sách thực
dụng lẽ phải thuộc về kẻ mạnh trong các tranh chấp quan trọng và điểm
nóng (ngoại giao quyết đoán) một
chiến lược ngoại giao được thực hiện ở Trung Quốc trong những năm qua. Sức
mạnh của ngoại giao nước lớn được tập trung vào 4 vấn đề cơ bản là: chủ động
tận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi; nâng ngoại giao kinh
tế thành một kế hoạch tổng thể nhằm xây dựng một mạng lưới
các hiệp định, thỏa thuận và thể chế để củng
cố vị thế của Trung Quốc; triển khai, trên quy mô lớn ngoại giao đa
phương; xây dựng quân đội và nền quốc phòng hùng mạnh
và coi đây là một phần quan trọng hướng tới chính sách thực
dụng lẽ phải thuộc về kẻ mạnh trong các tranh chấp quan trọng và điểm
nóng.
Cây gậy và củ cà rốt
Cây gậy và củ cà rốt là một kiểu chính sách kết hợp ngoại giao với quốc
phòng, quân sự. Nó thường được dùng bởi các nước lớn mạnh nhằm làm thay đổi hành
vi của các nước nhỏ hơn. "Cây gậy'' tượng trưng cho sự đe dọa trừng phạt
bằng quân sự, hoặc kinh tế. "Củ cà rốt" tượng trưng cho quyền lợi hay
phần thưởng.
VVNh
Ngoại giao pháo hạm
Cho đến nay, trên thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình về kết hợp đối ngoại
với quốc phòng, an ninh.
Ngoại giao
pháo hạm là một trong những mô hình kết hợp đối ngoại với quốc phòng, an ninh xuất
hiện trong thời kỳ diễn ra các cuộc xâm chiếm thuộc địa trên thế giới của
các cường quốc Châu Âu (khoảng nửa sau thế kỷ 19). Trong thời kỳ này, các cường
quốc Châu Âu thường cho tàu chiến neo đậu ngoài khơi các quốc gia mà họ muốn đe
dọa và gây áp lực trong quá trình đàm phán các hiệp ước bất bình đẳng. Các quốc
gia theo chủ trương này luôn lấy việc phô trương sức mạnh quân sự với mục đích
đe dọa chiến tranh và thông qua đó nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đối
ngoại, như buộc quốc gia bị đe dọa phải nhượng bộ quyền lợi trong các vấn đề
lãnh thổ hay thương mại.
Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm
Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.
Quy định nêu rõ 19 điều đảng viên không được làm. Cụ thể:
Điều 1: Nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép.
CHUYỆN VỀ GIA THẾ THÂN PHỤ,THÂN MẪU CỦA NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN THỊ BÌNH!
Là một kỹ sư cầu cống do Pháp đào tạo, làm việc trong công sở của Pháp với mức lương khá cao, nhưng cụ Nguyễn Đông Hợi vẫn từ bỏ để theo cách mạng, trở thành Trưởng ban Công binh Nam Bộ chuyên sản xuất vũ khí. khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp diễn ra, cụ Hợi được tổ chức bí mật đưa ra Bắc để phục vụ chiến dịch...
“Cả gia tộc theo cách mạng kháng chiến”
Cụ Nguyễn Đồng Hợi là con rể thứ hai của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, chồng bà Phan Thị Châu Lan. Cụ Hợi sinh năm 1900, quê ở huyện Điện Bàn, thân phụ là một nghĩa sĩ Cần vương.
Tôi may mắn gặp ông Nguyễn Đông Hồ - con trai thứ ba của cụ Hợi và được nghe ông kể những câu chuyện về thân phụ mình. Đọc cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc" của bà Nguyễn Thị Bình, tôi cũng đã biết thêm về cụ Hợi và các con của cụ. Ông Nguyễn Đông Hồ cho biết, cha ông học giỏi và uyên bác, nhờ thế mới trở thành con rể của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh.
Cha mẹ ông sinh được bảy chị em, bốn trai ba gái, bà Nguyễn Thị Bình là con đầu, còn người con gái út đã mất lúc nhỏ. Vì công việc, cụ Hợi phải đi làm nhiều nơi và ở lại đó một thời gian dài nên cụ mang vợ theo. Họ sống trên một chiếc ghe bầu lớn rong ruổi khắp các tỉnh Nam bộ. Bà Nguyễn Thị Bình chào đời trong hoàn cảnh đó. Trong cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc" bà Nguyễn Thị Bình kể lại: "Tôi được sinh ra ở xã tân Hiệp, tỉnh Sa Đéc (cũ), và được ba má đặt tên là Sa(...) Tuổi thơ tôi được sống một thời gian dài ở nông thôn nên cũng hiểu việc đồng áng, câu cá, câu tôm. Tôi còn nhớ mãi mùa nước nổi ở đồng bằng miền Tây, ruộng vườn chìm trong nước mênh mông như biển. Những ngày tháng tuổi thơ ảnh hưởng lâu dài trong cả cuộc đời tôi...".
Do công việc, cụ Hợi rời Nam Bộ, đưa gia đình qua Campuchia sống ở đại lộ Miche, thủ đô Phnom Penh. Ở Campuchia, bà Bình theo học tại Lycée Sisowath - trường trung học lớn nhất Campuchia, chỉ dành cho con cháu hoàng tộc Campuchia và người Pháp học. Vì cụ Hợi làm trong công sở của Pháp nên mới xin cho con mình vào học ở đây. Theo lời ông Hồ, lúc còn đi học ở trường này, bà Bình là bạn học với hoàng tử Sihanouk, sau này là Quốc vương của Campuchia. "Thời gian ở Campuchia, cha tôi đã tham gia hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước tại Campuchia giúp mua vũ khí, đạn dược... rồi chở về Việt Nam" - ông Hồ kể. Năm 1945, cụ Hợi đưa gia đình về lại Việt Nam rồi vào chiến khu D tham gia kháng chiến. Với kiến thức về khoa học tự nhiên uyên bác của mình, cụ Hợi được phân công làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ, đơn vị chuyên sản xuất vũ khí cho quân đội. Cùng với những người lính công binh, cụ Hợi chế tạo súng đạn, mìn... cho bộ đội đánh giặc. Năm 1947, kỹ sư Nguyễn Đồng Hợi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Là gia đình có truyền thống yêu nước nên các con cụ Hợi đều tham gia cách mạng. Trong đó có hai người nổi bật là bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Đông Hà - thủ lĩnh phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên Sài Gòn những năm 60 - 70, thế kỷ XX. "Sau này anh Hà bị tù ở Côn Đảo. Vợ anh Hà, chị Lê Thị Sáu cũng hoạt động cách mạng và bị tù với anh. Mấy anh em con bà dì, chị của má tôi là bà Phan Thị Châu Liên, cũng tham gia cách mạng. Trong đó có hai người nổi tiếng là chị Phan Thị Minh (lấy họ của ông ngoại, tên thật là Lê Thị Kinh, sau này làm Đại sứ ở Úc) và nhà văn Phan Tứ (tên thật là Lê Khâm). Chồng của dì tôi là dượng Lê Ấm, là giáo sư có tiếng thời đó, từng giúp ông ngoại tôi soạn thảo thư từ, bài viết... khi ông ngoại tôi bị ốm nặng ở Sài Gòn" - ông Nguyễn Đông Hồ kể.
Bí mật tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trước khi mở chiến dịch Điện Biên Phủ, biết tiếng kỹ sư Nguyễn Đồng Hợi đang làm Trưởng ban Công binh ở chiến khu D, Trung ương quyết định điều kỹ sư Hợi ra Bắc, phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông Nguyễn Đông Hồ nhớ lại: "Nhận chỉ thị của Bộ Chính trị, cấp trên bố trí cho ba tôi về thành phố Sài Gòn. Họ bí mật đưa ba tôi về ở đền thờ ông ngoại tôi mà lúc đó người dân Sài Gòn thường gọi là đền thờ cụ Phan ở Đa Kao (thuộc phường Đa Kao, quận 1 bây giờ; đền thờ này, sau giải phóng đã được dời về gần mộ cụ Phan trong Khu di tích của cụ Phan). Vì ở trong chiến khu lâu này, ba tôi đã quen với nền nếp sinh hoạt và ăn vận như kiểu trong đó, để giữ bí mật cho hoạt động, ba tôi phải náu mình mấy tháng trời để làm quen với cuộc sống mới. Sau đó, cùng với một bà cụ và một người đi theo bảo vệ, ba tôi cùng họ đóng giả làm những người buôn trầu đi lên sân bay Tân Sơn Nhất bay ra Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng, tổ chức bí mật đưa ba tôi ra Bắc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ba tôi hoạt động ở hậu cứ chứ không trực tiếp tham gia chiến dịch. Ba tôi tham gia chế tạo bom mìn, hình như còn làm cố vấn trong việc đào hầm hào công sự...".
Sau "56 ngày đêm" bộ đội ta bao vây đánh chiếm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chiều ngày 7.5.1954, quân và dân ta đã làm nên "chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu". Công tác ở miền Bắc một thời gian rồi cụ Hợi xin về Nam hoạt động. Cụ sống trong đền thờ cụ Phan. Năm 1969, cụ Hợi bị bệnh nặng. Lúc đó, bà Nguyễn Thị Bình vừa trở về từ Hội nghị Paris. Nghe tin ba bệnh nặng, bà vội vã đến thăm. Bà kể lại chuyện đó trong cuốn hồi ký "Gia đình bạn bè và Tổ quốc": "Năm 1969, ở Hội nghị Paris về nhận chỉ thị, tôi hết sức đau buồn khi biết tin ba đã nằm viện mấy tháng rồi, người gầy còm tiều tụy. Tôi ôm lấy ba, nước mắt giàn giụa: "Ba ốm sao không cho con hay?". Ba tôi xúc động trả lời: "Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan trọng hơn!". Ít lâu sau, cụ Hợi qua đời (1969).
Hình 1: Nhà chí sĩ yêu nước cụ Phan Châu Trinh (ông ngoại của bà Nguyễn Thị Bình ).
Hình2 : Ông bà Nguyễn Đồng Hợi và Phan Thị Châu Lan. (Ảnh chụp lại).
Hình 3: Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình./.
Yêu nước ST.
Một số định hướng và tác động đến di cư ở Việt Nam hiện nay
- Xác định di cư là tất yếu của
cung cầu thị trường lao động
Hiện nay có hiện tượng mu quốc
tịch trên thế giới (Bồ Đào Nha: 180.000 USD. Năm cần ở Bồ Đào Nha 1 tuần sau 5
năm); Cộng Hòa Síp 2 triệu đô la
-
Cần
xây dựng những chính sách nhằm đảm bảo có một cấu trúc đô thị cân bằng hơn giữa
các vùng để giảm sức ép đô thị hóa ở hai thành phố lớn nhất của cả nước
-
Chủ
trương của nhà nước trong những năm tới về xóa bỏ hệ thống đắng ký hộ khẩu hiện
hành sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đảy thực hiện bình đẳng xã hội
trong tiếp cận các dịch vụ công đối với người di cư.
-
Tập
trung xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm cho người lao động
Xây
dựng mô hình phát triển sản xuất ở nông thôn: Tập trung sản xuất lớn với sự
tích tụ ruộng đất, đầu tư của khoa học công nghệ, gắn liền với đào tạo chuyên
môn kỹ thuật cho lực lượng lao động và tìm kiếm thị trường cho đầu ra của sản
phẩm của nông nghiệp, thông qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện
tích cực đời sống ở khu vực nông thôn
-
Xây dựng tâm niệm “ly nông, không ly hương”
-
Quản lý
và tạo điều kiện cần thiết cho người nhập cư.
Những hỗ trợ đặc biệt cần được thực hiện sớm để sớm ổn định cuộc sống cho người
di cư. Cần phải tăng cường đầu tư cho các hoạt động kiểm soát và phòng ngừa lây
nhiễm dịch bệnh
“Già hóa dân số” và “dân số già” ngày càng tăng- những vấn đề đặt ra
- Xây dựng hệ thống an sinh xã
hội người cao tuổi.
Xây dựng hệ thống an sinh cho
người cao tuổi có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với thực tiễn hiện nay và xu
hướng tỷ trọng người già tăng nhanh, đặc biệt là heẹ thống an sinh với người
cao tuổi
Hiện
nay có khoảng 70% người cao tuổi ở Việt Nam tự lao động kiếm sống, khoảng 30%
người có lương hưu/trợ cấp xã hội; 72,3% sống cùng con cháu; tình trạng người
cao tuổi sống cô đơn cao. Nữ giới chiếm tỷ trọng cao trong dân số cao tuổi và
phụ nữ cao tuổi sống cô đơn gấp 5,44 lần nam giới. Số người cao tuổi không có
tích lũy vật chất chiếm 70% trong đó 62,3% khó khăn thiếu thốn (nông thôn 68%,
thành thị 50%)
- Tăng cường chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi.
Chúng
ta phấn đấu đến năm 2030 tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian
sống khẻo mạnh đạt tối thieeur 68 nawm, 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y
teé, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình,
cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.
Kết
quả điều tra về người cao tuổi năm 2011 cho thấy; tuy tuổi thọ trung bình người
Việt nam cao (73 tuổi), nhưng gấnh nặng bệnh tật của người cao tuổi cũng cao,
gánh nặng bệnh tật kép (95% có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây
truyền), 67,2% tình trạng sức khỏe yếu, rất yếu, sức khỏe tốt chỉ có 5%)
Sử dụng nguồn lực lao động do “dư lợi dân số” mang lại ở Việt Nam hiện nay.
- Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ
cho lực lượng lao động.
Để đáp
ứng nhu cầu của thị trường lao động cần xác định chiến lược đào tạo, cơ cấu
trình độ đào tạo phù hợp cho lực lượng lao động bước vào độ tuổi lao động, lực
lượng lao động chuyển đổi nghề và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ nhằm giải quyết phù hợp với cung – cầu của kinh tế thị trường lao động và xu
hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
- Giải quyết lao động tạo việc
làm và hạn chế tình trạng thất nghiệp
Tính
đến ngày 1/4/2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước đạt
54,5 triệu người, tăng gần 105 ngìn người so với thời điểm năm 2016, bao gồm 28
triệu lao động là nam và 26,5 triệu lao động là nữ. Tỷ lệ thiếu việc làm trong
độ tuổi lao động quý I/2017 ước tính là 74%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
trong độ tuổi quý I ước tính là 2,3% (quý I 2016 là 2,25%). Theo các chuyên gia
thì năm 2017 có khoảng 200.000 cử nhân thất nghiệp
Cơ cấu lại lao động:
+ Giảm
tỷ lệ lao động nông, lâm, thủy sản tăng tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp, xây
dựng, dịch vụ
Nghị
quyết 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính
sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045: Giảm
tỷ lệ lao động khu vực Nông, Lam nghiệp, thủy sản, phấn đấu tỷ lệ lao động
trong khu vực công nghiệp, dịch vụ sớm đạt ngưỡng 70%
+ Hạn
chế lao động giản đơn: Hiện nay nhóm nghề lao động giản đơn thu hút nhiều lao
động nhất 33,2% (so với 10 năm trước giảm mạnh: giảm 7,1 điẻm %)
Cần
phải tận dung: “dịch vụ cá nhân”, “bảo vệ và bán hàng”, thợ thủ công và các thợ
khác có liên quan: “thợ lắp ráp, thờ vận hành máy móc thieét bị cũng là nhóm
nghề thu hút nhân lực.
Thách thức của di cư ở Việt Nam hiện nay
-
Tăng sức ép đô thị
Điểm đến của luồng di cư NT-ĐT và
ĐT-ĐT chủ yếu ở những vùng có các khu công nghiệp và ở hai thành phố lớn Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng di cư và hướng di cư cho thấy các cơ hội việc
làm phần lớn là ở khu vực này. Mô hình di cư này làm tăng sức ép đô thị hóa ở
các thành phố lớn.
-Khó
khăn trong ổn định cuộc sống
Hầu hết những người di cư tới
vùng Tây Nguyên làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (trên 50%) và đến từ các
vùng nông thôn khác. Cả nước có khoảng 1/3 số người di cư gặp khó khăn ở nới
đến, tuy nhiên có tới 60% số người di cư ở Tây Nguyên gặp phải vấn đề này. Hiện
nay có khoảng 100 ngàn hộ gia đình di cư đang chưa được ổn định chỗ ở tại vùng
Tây Nguyên. Trong đó có khoảng 50% là đồng bào DTTS
-Khó
khăn trong việc cung cấp đủ nhà ở tại nơi đến, đặc biệt là đô thị và các dịch
vụ thiết yếu
+Kết quả khảo sát năm 2015 cho
thấy, điều kiện nhà ở tại những nới đến là điều làm cho nhiều người di cư không
hài lòng. Gần 1/3 số người di cư cho rằng điều kiện tại nơi ở mới kém hơn so
với quê cũ của họ. Nhiều người di cư phàn nàn về việc phải thuê nhà với giá
điện nước quá cao. Hơn 40% số người di cư ở diện tích bình quân đầu người thấp
hơn 10m2, trong khi tỷ lệ này ở người không di cư là 16%.
+ Các thủ tục đăng ký hộ khẩu
thường trú phức tạp đối với những người di cư. Nhiều người di cư (49%) đăng ký
tạm trú và có 13,5% số người di cư không đăng ký tạm trú, tạm vắng. Không đăng
ký hộ khẩu thường trú có khó khăn: Tiếp cận giá dục cho con cái; chăm sóc sức
khỏe; vay vốn các nguồn chính thức; đăng ký phương tiện đi lại
-Khó
khăn trong kiểm soát lây lan các dịch bệnh
Việc kiểm soát lây lan của các
dịch bệnh thông qua di chuyển của người di cư từ địa phương này tới địa phương
khác và từ vùng này tới vùng khác. Ví dụ dịch COVID- 19.
NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY LÀ VẤN ĐỀ CÓ TẦM CHIẾN LƯỢC
Nhận thức đúng thời đại luôn là
vấn đề có tầm chiến lược đối với quốc gia dân tộc và toàn thể nhân loại trong
việc xác định điểm đứng của mình hiện ở đâu trong tiến trình lịch sử, để từ đó lựa
chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với xu thế phát triển khách quan của
thời đại.
Trung thành với quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và vận dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận thời
đại, trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, Đảng ta đã phân tích làm
rõ tính chất, đặc điểm, mâu thuẫn cơ bản với những biểu hiện mới của chúng
trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Đây là một căn cứ khoa học giúp Đảng ta
xác định con đường, mục tiêu, chiến lược phát triển đất nước phù hợp với xu thế
khách quan của thời đại ngày nay.
Nghiên cứu vấn đề thời đại ngày nay có ý nghĩa
quan trọng giúp cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nâng cao nhận thức, năng lực
tư duy và năng lực thực tiễn, góp phần để cán bộ chiến dịch, chiến lược ngang
tầm với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Di cư và phát triển KT-XH ở Việt Nam
Theo
nghĩa rộng: Di cư là sự chuyển dịch bất kỳ
của con người trong một không gian vào thời gian nhất định; Theo nghĩa hẹp: Di cư là sự chuyển dịch của dân cư từ một đơn vị
lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nới cư trú mới
trong một khoảng thời gian nhất định.
Di cư là động lực tích cực thúc
dẩy phát triển KT-XH, góp phần phân bố lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh teé
lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm phát triển bền
vững
Hiện nay di cư nông thôn – thành
thị là xu hướng nổi trội (Đánh giá chung di cư nông thôn- thành thị gấp 3 lần
so với luồng di cư đô thị - nông thôn; đặc biệt các khu vực Bắc Trung bộ, Duyên
hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long quy mô luồng di cư nông thôn- đô thị
gấp 5 lần so với luồng di cư đô thị - nông thôn
Di cư nông thôn- đô thị có tác
động trực tiếp làm thay đổi nghề nghiệp, hành vi, lối sống của những người di
cư. Hầu hết những người di cư nông thôn – đô thị chuyển đổi từ các việc làm trong
nông nghiệp sang việc làm phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn và nâng cao vị
thế của họ (bản chất của di cư nông thôn- thành thị). Kết quả năm 2015 cho thấy
hầu hết những người di cư đang làm việc
trong lĩnh vực phi nông nghiệp (chiếm 95,5%). Gần 60% những người di cư nhận
thấy rằng thu nhập của họ tăng lên sau khi di cư, và việc tiếp cận các dịch vụ
xã hội như y tế, giáo dục cũng tốt hơn. Người di cư chủ yếu là thanh niên cho
nên ở đô thị cũng được bổ sung và trẻ hóa
+Mang lại lợi ích cho các hộ gia
đình và cộng đồng có người di cư qua việc nhận được các khoản tiền gửi về quê
hương của người di cư. Kết quả điều tra năm 2015, trong 12 tháng trước điều tra
có gần 30% số người di cư gửi tiền về cho gia đình. Theo đó trung bình một
người gửi về là 27,5 triệu đồng/năm.
Chú ý: Không nên coi di cư là yếu tố cản trở phát triển; những cũng
không coi di dư là liều thuốc thần kỳ chữa bệnh đói nghèo và sự mất cân bằng
thu nhập
Ý nghĩa đối với cán bộ khoa học quân sự khi nghiên cứu về thời đại
-
Góp phần củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực tư duy cho
cán bộ khoa học quân sự
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm của Đảng ta về thời đại ngày nay góp phần tạo cơ sở khoa học
để cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược củng cố lập trường, rèn luyện bản lĩnh
chính trị, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối
quan điểm của Đảng, giữ vững niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội,
vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Thế giới quan, phương pháp luận
khoa học được rút ra từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của
Đảng ta về thời đại ngày nay có ý nghĩa to lớn giúp cán bộ cấp chiến dịch,
chiến lược vận dụng vào nhận thức đời sống xã hội trong nước và quốc tế một
cách khoa học để nâng cao tri thức toàn diện; đặc biệt hơn là giúp cán bộ cấp
chiến dịch, chiến lược nắm vững được tư duy biện chứng của Đảng về mối quan hệ
giữa đối tượng và đối tác trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế và khu
vực hiện nay, để tiến hành đấu tranh và hợp tác có hiệu quả.
+ Nắm vững quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta về thời đại ngày nay sẽ là vũ khí lý luận giúp
cán bộ chiến dịch, chiến lược đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái phản
động, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa mà
chúng ta đã lựa chọn.
- Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn cho cán bộ cấp chiến
dịch, chiến lược
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước,
cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược tích cực nâng cao hiệu quả trong tổ
chức và hoạt động thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng và Nhà
nước. Trong đó trọng tâm là các hoạt động: nâng cao chất lượng toàn diện cho
quân đội trên cơ sở chất lượng về chính trị; xây dựng khu vực phòng thủ; ứng
dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nhanh tiềm lực quân sự quốc gia;
nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự để đối phó, làm thất bại các thủ đoạn
phi vũ trang, nhất là thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, sẵn sàng đánh thắng chiến
tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao nếu kẻ thù tiến hành xâm lược
nước ta.
- Làm tốt chức năng tham mưu với Đảng và Nhà nước về QP,QS
Trên cơ sở nắm vững về đối tượng,
đối tác và yêu cầu mới của Chiến lược BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế và
khu vực hiện nay, cán bộ KHQS làm tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về
chiến lược quốc phòng, quân sự nhằm không ngừng củng cố quốc phòng, không bị
bất ngờ về mặt chiến lược. Đó là tham mưu về tổ chức bố trí lực lượng; xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là xây dựng quân đội nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phương thức thực hiện phương châm chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, quân sự; phương thức chuyển
trạng thái thời bình sang thời chiến; phương thức thực hiện tốt việc kết hợp
quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội và kết hợp kinh tế - xã hội với quốc
phòng, an ninh...
Ưa thích con trai là nguyên nhân căn bản dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam
Số liệu của cuộc tổng điều tra
năm 2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả
nước theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số
giới tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình
của cả nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều
nằm ở phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì
đa số các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao
nhất nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Với kết quả trên có thể khẳng
định rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về
ưa thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất
cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi
của văn hóa truyền thống Việt Nam
> Việc tiếp tục duy trì những
truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại
lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới
chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân
bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay
Hiện nay, một số văn bản chính
sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến việc phát
huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ đó là
truyền thống gì. Mặc dù bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn được coi là
nền tảng của truyền thống văn hóa Việt nam. Dó đó nếu chỉ nói tới truyền thống
văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành động trọng nam,
khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là những truyền
thống văn hóa Việt nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái
trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh giá là
những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật BĐG đã nêu rõ
về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đang ngăn
cản việc thực hiện mục tiêu BĐG.
Tình hình mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam hiện nay
Tỷ
số giới tính: Là
số nam trên 100 nữ trong tập hợp dân số
Tỷ
số giới tính khi sinh: Là
một chỉ số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ
em gái (Tỷ số này thông thường là từ 104-106 trẻ em trai/100 em gái và giá trị
của chỉ số này thường là rất ổn định qua thời gian)
Tỷ số giới tính khi sinh là chỉ
số cơ bản làm thước đo phản ánh cơ cấu dân số về giới tính và phản ánh mức độ
cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Tỷ số này ở mức
cân bằng sinh học tự nhiên giao động từ 103-106 bé trai/1000 bé gái sinh ra
sống tùy theo từng quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh
ở mức cân bằng tự nhiên là 105. Nếu không có sự can thiệp một cách có chủ đích
của con người thì tỷ số giới tính tự nhiên sẽ thường trong khoảng từ 103-106 bé
trai/100be gái và khi bước vào độ tuổi hôn nhân tỷ số giới tính tự cân bằng
Hiện tượng mất cân bằng khi sinh
sảy ra từ sau năm 2005, khi đó tỷ số giới tính khi sinh khoảng 106-107. Tỷ số
giới tính tăng đến 110 năm 2009, và tiếp tục tăng những năm sau đó (năm
2018:114,8 bé trai/100 gái; năm 2019:111,5/100 gái
Xét theo chiều cạnh mức sống thì
có sự khác biệt về mất cân bằng giới tính khi sinh về điều kiện kinh tế. Nhóm
nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) thì chỉ số xác định phân bố mức sinh theo
giới tính ở mức bình thường là 105,2, thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm
giàu nhất tình trạng mất cân bằng mức sinh theo giới tính lại rất cao. Cụ thể
mức sinh theo giới tính giàu là 111,7 và nhóm giàu nhất là 112,9. Mức sinh theo
giới tính thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ (107) và tăng dần theo trình
độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trịnh độ cao dẳng trở lên
Nguyên
nhân của mất cân bằng giới tính khi sinh, được xác định 3 nguyên nhân cơ bản:
- Văn hóa truyền thống về ưa
thích con trai
- Mức sinh giảm thấp xuống mức
sinh thay thế
- Phát triển công nghệ siêu âm
xác định giới tính thai nhi
Theo
ước tính nhân khẩu học, nếu tỷ số giới tính vẫn mất cân bằng như những năm vừa
qua, đến năm 2050, trong cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thừa 12% nam giới ở độ tuổi
dưới 50 (2.3 – 4,3 triệu nam giới). Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ khiến hàng triệu
nam giới khó tìm được bạn đời (người ngheog và học vấn thấp…) để lại một loạt
hậu quả về mặt nhân khẩu học và mặt xã hội, bao gồm nạn ép buộc kết hôn, buôn
bán, bạo hành phụ nữ, trẻ em gái và cả nguy cơ bất ổn xã hội do sự bất mãn về
xã hội và tình dục của nam giới…vấn đề di cư trong nước và nước ngoài vì mục
đích hôn nhân có thể tăng lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn
Tận dụng “dân số vàng” ở Việt nam hiện nay như thế nào
Giai đoạn năm 2005 đến nay, tỷ
trọng dân số trẻ em giảm chỉ còn khoảng 24-25%, trong khi đó tỷ trọng dân số
người cao tuổi (từ 65+) đang còn tăng chậm (năm 2019 mới có 7,7%), dó đó tỷ
trọng dân số lao động tăng lên nhanh, nước ta bước vào thời kỳ có “cơ cấu dân
số vàng” (ước tính từ năm 2007). Trong thời kỳ này, số người trong độ tuổi lao
động (15-64) nhiều hơn gấp đôi số người phụ thuộc (0-14 và 65+) hoặc tỷ số phụ
thuộc dưới 50/100.
Qua khảo sát cho thấy, tỷ số phụ
thuộc dân số ở nước ta bắt đầu giảm từ 63,3/100 vào năm 1999 xuống 44,4/100 năm
2009 và bắt đầu tăng trở lại 47/100 vào năm 2019, như vậy thời kỳ “dân số vàng”
ở nước ta đã vượt qua đỉnh và có thể kéo dài đến năm 2037-2040
Đặc điểm thời đại- những vấn đề cần nắm vững
Với tư duy mới, Đảng ta đã vận
dụng tổng hợp, sáng tạo các phương pháp tiếp cận thời đại trên cơ sở phương
pháp luận biện chứng duy vật để phân tích, nhận diện, rút ra những đặc điểm của
thời đại trong giai đoạn hiện nay, gồm những đặc điểm sau đây:
+ Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ:
Cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ đã đưa loài người bước vào nền kinh tế tri thức, đồng thời tạo ra quá
trình toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc
gia.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011),
Đảng ta nhận định: Cuộc cách mang khoa
học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, tác động
đến sự phát triển của nhiều nước[1].
Do sự tác động của các quá trình này đã tạo nên xu thế hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; song bên cạnh đó, đấu tranh
dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc
tộc, chạy đua vũ trang, bạo loạn lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển,
đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra
rất phức tạp.
Thực tế đang diễn ra trên thế
giới hiện nay đã chứng tỏ cho sự nhận định trên của Đảng, đó là sự liên kết khu
vực, liên kết toàn cầu như ASEAN, APEC, ASEM...; chiến tranh ở Apganixtan,
Irac...; bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi...; tình hình phức tạp ở biển
Đông...
+ Về chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng trên thế giới:
=> Đảng ta đánh giá: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới[2].
Chính tổn thất này mà phong trào cách mạng thế giới ở thập kỷ 90 của thế kỷ
XX và một số năm đầu thế kỷ XXI đã lâm
vào thoái trào.
=> Tuy nhiên, một số nước theo
con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta vẫn kiên định mục tiêu, lý
tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, tiếp
tục phát triển. Đặc biệt hiện nay, phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bước hồi phục[3],
song Đảng ta cũng thấy rõ sự gian nan, thử thách đối với những nước đi theo
con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả sẽ còn gặp nhiều khó
khăn, vì các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá, tìm mọi cách để
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.
+ Về chủ nghĩa tư bản: Hiện
tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn
là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.
=> Đi sâu phân tích những mâu
thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, Đảng đã khẳng định: Nhưng mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn
giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng
trở nên sâu sắc, khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn ra. Từ đó Đảng ta kết
luận: Chính sự vận động của những mâu
thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân lao động các nướcsẽ quyết định vận
mệnh của chủ nghĩa tư bản.
+ Về độc lập dân tộc và phát triển:
Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra
mạnh mẽ, ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ lại nằm trong tay các nước tư
bản, cho nên Các nước đang phát triển,
kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo
nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ đọc lập, chủ
quyền quốc gia, dân tộc.
+ Về những vấn đề toàn cầu:
Giai đoạn hiện nay của thời đại
đã và đang nổi lên những vấn đề cấp bách, liên quan đến vận mệnh sống còn của
cả nhân loại như: “ gìn giữ hòa bình, đẩy
lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố bảo vệ môi trường và ứng phó với biến
đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những
dịch bệnh hiểm nghèo.... Giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực
hợp tác với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.
Từ những đặc điểm trên, Đảng ta
khái quát nêu lên đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là: các nước với chế độ xã hội và trình độ phát
triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì
lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn,
thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Căn cứ vào lôgic, quy luật vận
động, phát triển của tiến trình lịch sử nhân loại, Đảng ta rút ra kết luận: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài
người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Giảm tỷ trọng trẻ em- thách thức ở Việt Nam hiện nay
Quá trình giảm sinh mạnh mẽ trong
hơn 30 năm qua ở nước ta đã dẫn đến việc thay đổi rõ rệt cơ cấu các nhóm dân số
theo độ tuổi. Trước hết có thể thấy ngay là tỷ trọng trẻ em trong dân số đã
giảm nhanh. Tỷ trọng trẻ em trong dân số ở nước ta đã giảm từ 39,2% năm 1989,
xuống 33,1% năm 1999; 24,5% năm 2009 và còn 24,3% năm 2019. Tương ứng với mức
sinh ở các năm đó lần lượt là 3,8; 2,3; 2,1; và 2,1 con/phụ nữ
Có thể nhận xét là, trong 10 năm
trở lại đây (2009- 2019), mức sinh thay thế được giữ ổn định (2,1 con). Dó đó
mục tiêu cơ bản của chính sách dân số hiện nay là duy trì mức sinh thay thế.
Những tỉnh/thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần có các giải
pháp chính sách để đưa mức sinh lên ngang bằng với mức sinh thay thế. Nhóm các
tỉnh/thành phố đang có mức sinh thay thế ổn định tiếp tụch duy trì mức sinh
thay thế này
Ba người ra tòa với cáo buộc 'nói xấu lãnh đạo'
Quá trình già hóa dân số thách thức sinh kế, chăm sóc y tế người già ở Việt Nam
Hiện nay cho thấy, thu nhập từ
sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia
đình người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già
thì không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã
hội, trợ cấp xã hội khác tỷ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ
gia đình người già. Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh
doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Khi
các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ
ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già (ước tính hieenj
nay mới có khoảng 25% số người già đã tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu
trí). Như vậy nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối
với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng
gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. Dó đó
việc thực hiện thành công các mục tiêu về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội
theo quyết định của nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng
đối với sinh kế của người già
So sánh với các nhóm dân số khác,
nhóm người già có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất
Mô hình bệnh tật của người già
chuyển từ các bênh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm đang là thách
thức lớn cho ngành y tế hiện nay. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho một
người già cao hơn 7-8 lần so với trẻ em
Trong bối cảnh “chưa giàu đã
già”, hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách
thức về chi phí khám chữa bệnh cao trong khi chỉ có thu nhập thấp. Đây là một
yếu tố tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội
Bỏ giấy thông hành 'âm tính'
Tính chất của thời đại ngày nay không hề thay đổi
+ Luôn nhất quán với quan điểm
mác - xít về tính chất của thời đại mới, thời đại ngày nay, Đảng ta khẳng định:
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi mở đầu của chủ nghĩa xã hội và
cũng là mở đầu thời đại mới mà nội dung cơ bản và tính chất của nó đã được xác
định là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất ấy của thời đại đến nay vẫn không hề thay đổi.
+ Trước tổn thất lớn của phong
trào cách mạng thế giới: sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
Đông Âu, dẫn đến thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã phân tích
cụ thể, đánh giá đúng tình hình và đưa ra nhận định: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ
nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính
chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội[1].
+ Cùng với sự khẳng định tính
chất không thay đổi của thời đại ngày nay, Đảng ta chỉ rõ: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người
cuối cùng sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử[2].
=> Để có thêm cơ sở đưa ra nhận định về tính
chất của thời đại ngày nay, Đảng ta đã xuất phát từ thực tiễn lịch sử: Thời đại
phong kiến ở châu Âu hình thành, phát triển sau gần 200 năm mới thay đổi được
hoàn toàn chế độ nô lệ; thời đại quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản
chủ nghĩa, nếu tính từ cách mạng tư sản Anh đến cách mạng tư sản Pháp và cả
châu Âu cũng diễn ra khoảng 200 năm. Từ đó, Đảng ta rút ra thời đại quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại mà chế độ xã hội khác hoàn
toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó trong lịch sử, thì đương nhiên
sẽ rất lâu dài và hết sức quanh co, phức tạp.
Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau
Quan hệ giữa các nước tư bản chủ
nghĩa với nhau là quan hệ liên minh giữa các thế lực, các tập đoàn tư bản để
cùng tìm kiếm và giành giật nhau về lợi ích. Thực chất quan hệ liên minh giữa
các nước tư bản là liên minh trong cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau. Song chúng
luôn có sự thống nhất về mục đích chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách
mạng thế giới.
Mâu thuẫn giữa các nước tư bản
chủ nghĩa với nhau thường xuyên diễn ra, lúc gay gắt, lúc thầm kín. Biểu hiện
mới của mâu thuẫn này trong giai đoạn hiện nay thể hiện:
+ Xu hướng “đa cực” chống “đơn
cực” của Mỹ
Mỹ là trung tâm phát triển cao
nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ra sức mưu toan khống chế các nước tư bản
khác và làm bá chủ thế giới. Các trung tâm khác như Tây Âu (chủ yếu là Cộng hòa
liên bang Đức, Pháp) và Nhật Bản cũng ra sức trở thành siêu cường kinh tế; vừa
là đồng minh vừa là đối thủ của Mỹ.
+ Cạnh tranh kinh tế, tranh chấp
thị trường, chiến tranh thương mại cả trong và ngoài khuôn khổ WTO, thể hiện
tập trung ở trục: Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản và ở các tập đoàn tư bản xuyên quốc
gia. Ngoài ra, giữa các tập đoàn tư
bản khác nhau trong từng nước tư bản chủ nghĩa cũng có những mâu thuẫn gay gắt
trong việc giành giật ưu thế về quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.
Tóm lại, với tư duy mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc mâu thuẫn của thời đại trong giai đoạn hiện nay và khẳng định: các mâu thuẫn của thời đại ngày nay vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển sâu sắc hơn với những hình thức, mức độ biểu hiện mới so với trước đây. Những biểu hiện mới đó của mâu thuẫn cơ bản nói lên đặc điểm, tính chất thời đại, phản ánh tính chất phức tạp, quanh co của sự vận động lịch sử trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội.
