Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực bao gồm các quan điểm nhằm bảo đảm quyền làm chủ của người dân, nâng cao tính trách nhiệm của Đảng, của chính quyền trước nhân dân, đồng thời khắc phục sự tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực của cán bộ và cơ quan nhà nước. Đây là tiêu điểm của quá trình mở rộng và phát huy quyền dân chủ của người dân ở nước ta hiện nay..

   1. Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là vấn đề được Người đặc biệt quan tâm ngay sau khi giành được chính quyền, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan điểm của Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực, bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

   Thứ nhất, kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền làm chủ của người dân. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ được hiểu là mọi quyền lực của nhà nước đều là của dân, xuất phát từ nhân dân. Quyền lực mà nhà nước có được là do nhân dân giao phó, ủy thác. “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”. Vì vậy, Chính phủ phải làm việc vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi. “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Cơ sở để kiểm soát quyền lực, theo Hồ Chí Minh, đó là luật pháp. Luật pháp phải thể hiện ý chí của dân mới trở thành công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực. Người viết: “Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”.

   Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến công tác kiểm tra, kiểm soát để khắc phục tình trạng lạm dụng quyền lực. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Hồ Chí Minh coi trọng công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực thi quyền lực của các cơ quan nhà nước và khuyến khích nhân dân thực hiện công việc này. Người viết: “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là: người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân”.

   Thứ hai, kiểm soát quyền lực để khắc phục sự tha hóa quyền lực, trừng trị và xử lý nghiêm khắc tình trạng lạm dụng quyền lực của cán bộ và cơ quan nhà nước. Là người đứng đầu nhà nước lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh sớm thấy được hậu quả của tình trạng lạm quyền cũng như tính tất yếu của việc kiểm soát quyền lực. Đặc biệt, Người thấy rõ nguy cơ của quyền lực làm tha hóa những kẻ nắm quyền. Người từng nhiều lần phê phán rất nghiêm khắc tình trạng lạm dụng quyền lực của một số cán bộ, đảng viên và chỉ ra những căn bệnh hay lỗi lầm của Chính phủ, của những “ông quan” này là: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, công thần, quan liêu, biến quyền lực của dân thành quyền lực của một số ít người.

   Để khắc phục tình trạng trên, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực. Công tác kiểm tra được Người ví như “ngọn đèn pha” vừa để giúp cho việc lãnh đạo đúng đắn, vừa ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực của cán bộ trong cơ quan Đảng và Nhà nước. Đồng thời, Hồ Chí Minh cho rằng phải kiên quyết trừng trị những kẻ lạm dụng quyền lực, lợi dụng quyền lực nhân dân trao cho rồi cậy quyền, cậy thế ức hiếp dân chúng, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.

   Thứ ba, kiểm soát quyền lực để nâng cao tính trách nhiệm của Đảng, của chính quyền trước nhân dân, làm cho các chủ trương, chính sách được ban hành và thực thi một cách hiệu quả nhất.

   Về hình thức kiểm tra, giám sát cán bộ và cơ quan nhà nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều hình thức khác nhau như: khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các ủy ban, các hội đồng, v.v.. Trong các hình thức đó, Hồ Chí Minh vẫn đề cao sự kiểm soát của nhân dân và cho rằng nhân dân chính là chủ thể kiểm soát quyền lực hiệu quả nhất. Người viết: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”. Như vậy, giám sát, phê bình Chính phủ là trách nhiệm, nghĩa vụ và cũng là quyền lợi của nhân dân, để cho Chính phủ ngày càng hoàn thiện, phục vụ tốt hơn cho chủ thể quyền lực.

   Bên cạnh việc đề cao sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với Nhà nước, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự kiểm soát của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi bàn về sự giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm nội các. Theo Hồ Chí Minh, các thành viên Chính phủ phải sẵn sàng trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Hồ Chí Minh đã trả lời giản dị nhưng cũng thật khúc chiết, chặt chẽ và thành tâm nhận lỗi trước các đại biểu Quốc hội về những sai lầm, khuyết điểm của các thành viên Chính phủ. Trong hoàn cảnh đất nước lúc đó phải đối phó với thù trong, giặc ngoài và sau đó là những năm tháng tập trung sức lực và trí tuệ của cả dân tộc cho công cuộc giành độc lập tự do cho Tổ quốc nên vấn đề giám sát của Quốc hội, đặc biệt là vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm và cơ chế từ chức của các thành viên Chính phủ chưa được thực hiện trên thực tế. Nhưng đó là những tư tưởng rất quan trọng, là cơ sở cho việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện lý luận và cơ chế giám sát của Quốc hội.

   Để việc kiểm soát quyền lực được hiệu quả, Hồ Chí Minh đề cao những phương thức sau:

   Một là, kết hợp cách kiểm tra từ dưới lên và kiểm tra từ trên xuống. Kiểm tra từ trên xuống là “người cán bộ kiểm soát những công việc của cán bộ mình”. Kiểm tra từ dưới lên là “quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó”. Người phân tích sự cần thiết phải kết hợp cả hai phương pháp kiểm tra vì mỗi một cách kiểm tra đều có hạn chế. Trong đó, Người nhấn mạnh “không có dân chúng giúp sức thì không xong”.

   Hai là, kiểm tra “không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi”. Người ghét thói quan liêu, bàn giấy, hội họp nhiều. Người thường xuyên nhắc nhở các đồng chí cán bộ phải thường xuyên đi kiểm tra và giải quyết công việc tại chỗ, phải xem xét người thật, việc thật. Từ đó mới có sự đánh giá đúng đắn, khách quan về cán bộ và công việc.

   Ba là, kiểm soát phải có hệ thống, phải được tổ chức chu đáo “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ”. Việc phái người đi kiểm soát phải được cân nhắc kỹ. Đặc biệt là phải quy trách nhiệm đối với cán bộ kiểm tra: “Ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào, nếu có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm”. Việc quy trách nhiệm phải đi liền với xử lý vi phạm một cách nghiêm minh và khuyến khích biểu dương những đơn vị và cá nhân làm tốt.

   Bốn là, kết hợp chặt chẽ việc kiểm tra, giám sát với tự kiểm tra, kiểm điểm của mỗi cá nhân. Đây là nội dung chính của sinh hoạt phê bình, tự phê bình và cũng là nội dung của việc kiểm soát quyền lực.

   Bàn về vấn đề phê bình và tự phê bình, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển tất yếu của một đảng”, là “vũ khí cần thiết và sắc bén giúp chúng ta sửa sai lầm và phát triển ưu điểm”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”. Còn tự phê bình là động lực giúp cán bộ, đảng viên tự kiểm soát lấy mình, là nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của mình, là “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

   2. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước, trong các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta luôn xác định kiểm soát quyền lực phải trở thành một trong những trọng tâm của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Đảng ta khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Cùng với sự phát triển tư duy lý luận trong thời kỳ lịch sử mới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn của quá trình 25 năm đổi mới, Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đến Đại hội XII tiếp tục khẳng định: “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”.

   Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”. Sự khẳng định trên đã thể hiện nhận thức đúng đắn của Đảng ta trước bối cảnh lịch sử mới, Đảng không chỉ khẳng định rõ ràng: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mà còn đưa một nội dung mới vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là: “Kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

   Nước ta đang trong quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước vừa là nội dung cơ bản, vừa cấp bách. Cơ bản vì đó là một trong những nội dung cốt lõi của nhà nước dân chủ, là tiêu chí của nhà nước pháp quyền, đồng thời là yếu tố cấu thành khách quan của hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Cấp bách vì việc lạm quyền, quan liêu, tham nhũng đang là vấn nạn, là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của chế độ. Thực tiễn này đã và đang cho thấy sự yếu kém của cơ chế kiểm soát quyền lực nói riêng và vai trò của Nhà nước trong việc thực thi quyền lực Nhà nước nói chung. Để khắc phục những yếu kém, hạn chế trên cần quán triệt và vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trên những vấn đề cơ bản sau đây:

   Thứ nhất, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả.

   Vấn đề cơ bản hiện nay là xây dựng cơ chế vận hành quyền lực có cơ cấu hợp lý, trình tự chặt chẽ, chế ước hữu hiệu. Cần tăng cường giám sát quyền lực từ khâu hoạch định chính sách đến khâu thực thi chính sách. Trong việc giám sát quyền lực, trọng tâm là tăng cường giám sát đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt; tăng cường giám sát và quản lý tài sản công; thực hiện đồng bộ hệ thống luật pháp liên quan đến phòng, chống tham nhũng như Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Hình sự, Luật Thanh tra, Luật kiểm toán..., đồng thời khắc phục những mâu thuẫn, sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

   Bên cạnh đó, sự phân định phạm vi giữa quyền lực của Đảng và Nhà nước, thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa Trung ương và địa phương có vai trò quan trọng. Sự phân định này đòi hỏi phải được thể chế hóa thành những quy định cụ thể, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành của quyền lực. Sự phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền kiểm tra, việc xây dựng mô hình tổ chức cơ quan Thanh tra Nhà nước liên quan chặt chẽ, gắn liền với việc phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện các quyền của quyền lực nhà nước thống nhất. Do vậy, cần phải nghiên cứu sâu sắc về lý luận kiểm tra, thanh tra trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tổng kết thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước ta. Từ đó, xây dựng cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh phạm vi của giám sát, kiểm sát, thanh tra, quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của cơ quan Thanh tra Nhà nước.

   Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực chất là giải pháp có tính tổng thể nhằm xây dựng một thể chế có hiệu quả để thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước.

   Thứ hai, đổi mới nhận thức về vấn đề kiểm soát quyền lực.

   Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, lạm quyền, tham nhũng là hiện tượng phổ biến, là căn bệnh cố hữu trong tất cả các bộ máy nhà nước. Nếu không có các biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả, tất yếu sẽ dẫn đến việc quyền lực nhà nước bị lạm dụng. Trong các biện pháp để kiểm soát quyền lực thì dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực là thiết chế hiệu quả nhất vì đây là thiết chế chính thức, mang tính cưỡng chế.

   Cần nhận thức rằng, việc kiểm soát quyền lực bằng sự kêu gọi đạo đức là cần, nhưng chưa đủ và nó thường chỉ có ý nghĩa về mặt dài hạn. Phải áp dụng các biện pháp kiểm soát bằng các thể chế quyền lực thì mới đủ sức hạn chế được sự tha hóa của quyền lực và hoạt động của Nhà nước mới có hiệu quả. Tuy nhiên, việc thiết lập các thể chế này như thế nào cho hiệu quả lại tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của quốc gia; phương thức tổ chức bộ máy nhà nước cũng như cơ chế vận hành cho việc kiểm soát quyền lực; quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền, của các nhà lãnh đạo trong việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và mức độ nhiệt tình của người dân trong việc tham gia vào đời sống chính trị đất nước.

   Thứ ba, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng bảo đảm và mở rộng các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân.

   Để dân chủ trở nên thực chất, trở thành hành động và thói quen của người dân, trước hết phải tạo cơ chế, điều kiện thuận lợi để người dân dễ dàng thực hiện quyền làm chủ của mình. Dân chủ phải được triển khai, cụ thể hóa thành các thể chế, chứ không phải chỉ là những tuyên bố. Cụ thể, cần đa dạng hóa các hình thức thực hiện quyền làm chủ của dân, bảo đảm các quyền tự do bầu cử và ứng cử, cụ thể hóa các quyền bãi miễn của dân đối với cán bộ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được thông tin, thực hiện trưng cầu dân ý, thúc đẩy sự phát triển của truyền thông, thu hút sự tham gia của người dân vào quá trình phản biện các quyết sách chính trị,... Khi dân chủ được phát huy mạnh mẽ sẽ là “liều thuốc kháng sinh” hiệu quả trong việc chữa trị tận gốc các căn bệnh của Nhà nước, làm cho “cơ thể” Nhà nước trở nên khỏe mạnh hơn.

   Ở nước ta, việc đưa giám sát xã hội trở thành yếu tố chủ đạo, có thể sẽ bổ sung cho những thiếu sót và khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các thiết chế giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Dân chủ, với vai trò là phương thức kiểm soát quyền lực phải được thực hiện trên tinh thần xây dựng. Vì vậy, để dân chủ không bị lợi dụng vào những mục đích xấu, cần trừng trị nghiêm khắc những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà nước./.

THÁCH THỨC ĐỐI THOẠI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM?

Mỗi con người sinh ra có nhiều quyền. Muốn làm gì thì làm, nói sau, trước hết phải được sống, được tồn tại. Quyền được sống, được tồn tại là tối thượng! Muốn được sống, được tồn tại, trước hết phải có ăn, có mặc. Điều này, ở Việt Nam, mọi người dân đều được Đảng, Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm, chăm lo chu đáo; trong các kỳ Đại hội của Đảng cũng như Quốc hội đều nhấn mạnh mục tiêu làm cho DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH.

Nhân quyền ở Việt Nam là nhân quyền chính nghĩa, nhân văn, hướng con người tới Chân - Thiện - Mỹ!

Song song với quyền đảm bảo sự sống thì quyền tự do, dân chủ cũng luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm sâu sắc. Quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam, mọi người sống và làm theo hiến pháp và pháp luật; chế tài xử lý người vi phạm theo phương châm lấy giáo dục, thuyết phục, cảm hóa làm chính.

Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động trơ trẽn, lố bịch xuyên tạc, bóp méo, vu khống rằng ở Việt Nam không có nhân quyền.

Hàng năm, cái gọi là Tổ chức nhân quyền thế giới vì mù tâm núp lùm đáy giếng cứ phán xét bừa bãi, tầm phào về nhân quyền ở Việt Nam.

Mới đây, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã khẳng định và tuyên bố tại Hội nghị Cop 26: "Nhân Quyền lớn nhất là lo cơm ăn áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau. Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới vấn đề Nhân quyền"./.


Yêu nước ST.

TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ, NÊU CAO TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

      Sau gần 3 năm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, cho đến nay, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở cơ sở còn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”, “sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Điều đó đòi hỏi phải có những biện pháp thiết thực, hữu hiệu để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; góp phần làm cho nhiệm vụ này được triển khai ngày càng sâu rộng từ Trung ương đến địa phương.

   Một là, nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cấp ủy, chính quyền cơ sở cần nhận thức đây là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ; từ đó, phải thường xuyên quán triệt, tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trong các buổi sinh hoạt đảng bộ, chi bộ, sinh hoạt cộng đồng để mọi người hiểu được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ. Cách thức quán triệt, tuyên truyền phải linh hoạt, sáng tạo, gắn với đặc điểm của từng địa phương, gắn với nhiệm vụ cụ thể ở từng địa bàn.

   Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, nhân sinh quan cách mạng và kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở. Các tổ chức đảng, chính quyền cơ sở cần tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được học tập, nâng cao trình độ, nhất là trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước để có hiểu biết sâu sắc hơn về những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật kiến thức về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng cần được trang bị các kỹ năng cơ bản về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là kỹ năng nhận diện các thông tin xấu, độc, kỹ năng viết tin, chia sẻ, lan tỏa các thông tin tốt; kỹ năng tham gia các nhóm và tương tác trên không gian mạng để cung cấp và định hướng thông tin... Đây là những kỹ năng cần thiết mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở còn đang thiếu hụt.

   Ba là, tăng cường đầu tư nguồn lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật, tài liệu cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cấp ủy, chính quyền cơ sở cần thành lập ban (tổ) chỉ đạo 35 bao gồm lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở. Từ đó, mỗi cơ sở (xã, phường, thị trấn) cần phân công ít nhất 1 cán bộ chuyên trách, có nhiệm vụ thu thập, báo cáo thông tin, tham mưu cho lãnh đạo tổ chức triển khai nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho phù hợp với điều kiện, thực tiễn của địa phương. Trên cơ sở đó, các xã, phường, thị trấn xây dựng mạng lưới tham gia thực hiện nhiệm vụ, huy động có hiệu quả đội ngũ đoàn viên, thanh niên trên địa bàn cơ sở tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng; mạnh dạn thí điểm xây dựng lực lượng xung kích để nhân rộng, phát triển ra toàn địa bàn; bố trí kinh phí, tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật để tạo điều kiện huy động đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ; có cơ chế tuyên dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích tốt, nổi trội để động viên, khích lệ mọi người cùng tham gia.

   Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trước hết, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở phải luôn luôn vững vàng về lập trường tư tưởng chính trị, gương mẫu về đạo đức, lối sống, có tác phong làm việc dân chủ, gần dân, biết lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đồng thời, tích cực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để nâng cao niềm tin của nhân dân vào cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, lấy đó làm động lực thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội nói chung và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý tùy theo chức trách, nhiệm vụ, khả năng của mình, phải luôn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong các hoạt động cụ thể để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; không né tránh kiểu “mũ ni che tai”, mà dám thẳng thắn, dũng cảm phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Các cấp ủy, chính quyền cơ sở cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở để việc thực hiện nhiệm vụ đi vào nền nếp, quy củ, có sức lan tỏa rộng rãi đến đông đảo quần chúng nhân dân trên địa bàn./.

DÂN CHỦ VÀ ĐOÀN KẾT ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SUY THOÁI

 

   Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần sâu sắc những bài học kinh nghiệm về dân chủ và đoàn kết thống nhất trong Đảng từ buổi đầu thành lập và trong những bước chuyển của cách mạng; trước những thời cơ, thuận lợi và cả những nguy cơ, thách thức của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hơn bao giờ hết, việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh để phòng và chống suy thoái sẽ góp phần thiết thực xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

      Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, để có thể đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi hoàn toàn, Đảng Cộng sản Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”. Vì vậy, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã không chỉ có ý thức về đoàn kết, luôn mang trong mình truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc và đoàn kết được coi là một phẩm chất đạo đức quan trọng của người đảng viên mà còn thường xuyên thực hiện dân chủ trong Đảng để xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò Đảng là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc để Đảng ngày một phát triển vững mạnh.     

   Ngay từ khi mới ra đời, những văn kiện lịch sử Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị (hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng), đã không chỉ vạch rõ tổ chức, nhiệm vụ, đối tượng của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam còn khẳng định sẽ lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, đặc biệt là đã luôn thực hiện dân chủ trong Đảng; “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” và xây dựng khối đoàn kết, thống nhất; đồng thời, "không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của mình trong tiến trình lãnh đạo cách mạng.

   Trong những năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), dù có những khúc ngoặt và cả những tổn thất, song với bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính được lý luận Mác - Lênin dẫn đường, những người cộng sản Việt Nam đã luôn quán triệt hai nguyên tắc: 1) Bình đẳng là tiền đề của dân chủ và dân chủ là tiền đề của đoàn kết, thống nhất trong Đảng. 2) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát huy dân chủ, thống nhất ý chí và hành động để kiên định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, việc tuân thủ, thực hiện tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng.

   Mùa xuân năm 1941, trở về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941); quyết định thực hiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ nhận thức sâu sắc về nguồn sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, Người đã không chỉ phát huy và nhân nguồn sức mạnh của tinh thần dân chủ và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng mà còn khơi dậy và tổ chức thành công sức mạnh “dời non, lấp biển” của khối toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh để lãnh đạo nhân dân đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, “thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.

   Một nước Việt Nam mới giành được độc lập, tự do sau hơn 80 năm trời nô lệ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, bởi thù trong và giặc ngoài. Trong tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc” đó, cũng vẫn là Hồ Chí Minh - trung tâm ngọn cờ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân đã sớm tiên liệu, đặc biệt lưu tâm đến sự trong sạch, vững mạnh của một Đảng cầm quyền. Theo Người, tình hình và nhiệm vụ mới càng đòi hỏi Đảng phải xây dựng sự đoàn kết thống nhất và thực hiện dân chủ, phát huy dân chủ để củng cố và nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, để đưa sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc đi đến thành công. Vì vậy, để ngăn ngừa những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cậy quyền, ỷ thế, lên mặt làm quan cách mạng, v.v.. đã xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, Hồ Chí Minh đã không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải sửa đổi lối làm việc, phong cách công tác mà còn đồng thời chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân chính là nguy cơ dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của Đảng, gây mất dân chủ và đoàn kết trong Đảng.

   2. Chống chủ nghĩa cá nhân để thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng

   Không chỉ khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng; đề cao yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh còn đồng thời nhấn mạnh: Muốn phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, “đánh thắng lòng tà và kẻ thù trong mình”, mỗi người phải tự mình cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhất là phải kiên quyết “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Cùng đó, Người cũng khẳng định, để đoàn kết, thống nhất trong nhận thức và hành động, điều cần thiết nhất là trong Đảng phải thực hành dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; trong đó, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới và ngược lại, cấp dưới cũng phải thường xuyên phê bình cấp trên. Mỗi cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt Đảng: khi tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm thừa nhận, đề ra biện pháp và kịp thời sửa chữa khuyết điểm theo tinh thần của Lênin: “Bị một phen thất bại không nguy hiểm bằng không dám thừa nhận thất bại, không dám rút ra ở đây tất cả những kết luận” và Hồ Chí Minh, đó là phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó”…

   Không chỉ luôn mẫu mực trong rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên, liên tục trên cơ sở có lý, có tình, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: Trong khi nêu cao và kiên quyết thực hiện dân chủ và đoàn kết trong nội bộ Đảng, cấp ủy các cấp cần thấu triệt rằng, dân chủ trong nội bộ Đảng phải thật sự, phải đúng nguyên tắc chứ dân chủ theo kiểu bị cắt xén, dân chủ nửa vời không đầy đủ sẽ dẫn đến mất đoàn kết và đoàn kết “theo kiểu bằng mặt không bằng lòng”, đoàn kết hình thức,v.v.. sẽ nhanh chóng dẫn đến cục diện bè cánh, phe phái, lợi ích nhóm và hơn thế nữa, đó là lý thuyết “dân chủ”, là “đoàn kết” nhưng thực tế “áp đặt”, “quan chủ”, là “rạn vỡ”, “tan rã”.

   Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc rằng: Đảng trong sạch, vững mạnh chính là ở đạo đức, lối sống và sự gương mẫu hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ của cán bộ, đảng viên; ở sức mạnh đoàn kết nhất trí, tính tổ chức kỷ luật và nhất là phải tự giác thực hiện nguyên tắc then chốt nhất - đó là tập trung dân chủ; ở việc thực hiện nghiêm túc quy luật phát triển Đảng - đó là tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; ở sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở Đảng,v.v.. Do đó, nếu không thực hiện được dân chủ và đoàn kết thật sự trong Đảng thì sức mạnh nội lực của Đảng sẽ không còn, niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng vì thế mà xói mòn. Song cũng theo Người, muốn thực hiện được dân chủ, thực hiện được tập trung dân chủ và đoàn kết trong nội bộ để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh” thì phương thuốc đặc hiệu là tự phê bình và phê bình: mạnh dạn phê bình, hoan nghênh phê bình triệt để, ráo riết, chân thành như rửa mặt hằng ngày dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó phải là tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, để kịp thời có biện pháp phù hợp và kiên quyết để sửa chữa khuyết điểm với tinh thần cầu thị, cầu tiến bộ. Điều này vừa có ý nghĩa đòi hỏi lãnh đạo tập thể phải đi liền với trách nhiệm cá nhân; đồng thời, chống được sự chuyên quyền, độc đoán, chống dân chủ hình thức và chống cả tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, người lãnh đạo, quản lý nói riêng. Chỉ có làm được như vậy và phải làm thường xuyên, nghiêm túc, liên tục thì trong Đảng mới thực sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, mới phòng và chống được sự suy thoái, nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và Đảng mới luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong.

   Xây dựng và phát triển, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng; luôn gắn bó mật thiết với nhân dân..., dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và thực hiện di huấn của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

   Suốt hơn 9 thập niên qua, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đến những văn kiện của Đảng qua 13 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định rõ mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó đã không chỉ làm nức lòng hàng triệu triệu trái tim, khối óc những con dân đất Việt mà còn khẳng định con đường đi hợp quy luật thời đại của dân tộc ta do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn. Trong hành trình ấy, luôn thấm nhuần những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về dân chủ và đoàn kết, trong mọi thời điểm lịch sử và ở vào những khúc ngoặt cam go nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” đã luôn thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, ý chí và hành động; đã quy tụ, phát huy và nhân nguồn sức mạnh tổng hợp của con người, của dân tộc, của thời đại để biết đánh và biết thắng từng bước, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phát triển giàu mạnh.

   3. Đề cao dân chủ và đoàn kết để phòng và chống suy thoái

   Dân chủ và đoàn kết thống nhất trong Đảng là sức mạnh vô địch, là một truyền thống quý báu của Đảng và nhân dân ta; được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa vào Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Trong hành trình đó, các tổ chức cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng củng cố, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; gắn bó mật thiết với nhân dân... Các cấp uỷ, tổ chức cơ sở Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo toàn diện tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ nghiêm túc, đúng Điều lệ, quy định của Đảng. Cấp ủy các cấp đã hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, gắn bó với nhân dân, tăng cường đối thoại với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những đề xuất, kiến nghị của nhân dân để tham mưu, đề xuất với các cấp ủy, chính quyền xây dựng các các chủ trương, chính sách phù hợp liên quan trực tiếp đến đời sống người dân.

   Cùng với đó, việc phát huy tập trung dân chủ trong tự phê bình và phê bình, trong công tác lãnh đạo, kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng được tiến hành theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần tăng cường sự thống nhất trong ý chí và hành động. Những bất cập, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn đều được giải quyết thông qua quá trình phát huy dân chủ, thảo luận với tinh thần xây dựng, tạo sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động tại mỗi cấp ủy, góp phần tăng cường và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ trên tình thương yêu đồng chí lẫn nhau. Việc xử lý có lý có tình đối với các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết và các hành vi vi phạm khác của cán bộ, đảng viên, làm trong sạch tổ chức Đảng các cấp cũng được chú trọng thực hiện, thiết thwucj xây dựng và chỉnh đốn Đảng…

   Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tại một số cấp ủy và chi bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng chưa được tôn trọng. Vẫn còn tồn tại tình trạng đảng viên và tổ chức đảng vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tình trạng thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm, coi thường kỷ luật Đảng và luật pháp của người đứng đầu trong sinh hoạt và công tác vẫn có nơi, có lúc làm cho việc thực hiện quy chế làm việc không nghiêm, mất dân chủ. Việc tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức, ngại va chạm, chưa thực sự sâu sát thực tế. Trong khi đó, tình trạng quan liêu, độc đoán, cục bộ địa phương, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. dẫn đến mất đoàn kết ở nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn. Cùng với đó, trong thực tế cũng vẫn có không ít chủ trương, nghị quyết của ban thường vụ, cấp ủy đã không được bàn bạc, thảo luận thấu đáo ở mọi khía cạnh, cho nên khi ban hành và triển khai vào cuộc sống hoặc bị “nhóm lợi ích” chi phối dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa phù hợp, chưa phát huy tác dụng, hiệu quả như mong muốn...

   Trong thời gian tới, để thực hiện tốt dân chủ và đoàn kết trong Đảng, thiết thực phòng và chống suy thoái trong nội bộ để Đảng luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, các cấp ủy Đảng cần phải thấm nhuần sâu sắc những cảnh báo, những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và tập trung thực hiện tốt những yêu cầu sau:

   Một là, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt nghiêm túc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong đó chú trọng phát huy dân chủ, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ gắn với đấu tranh phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đi đôi với phát huy, mở rộng dân chủ phải giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật; đề cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, góp ý, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trên cơ sở có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau để đảm bảo và nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào.

   Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, chú trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong mọi mặt công tác để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Theo đó, mở rộng dân chủ nội bộ đi đôi với dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội là phương thuốc đặc hiệu góp phần chống lại nguy cơ suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của Đảng cầm quyền, giữ gìn bản chất cách mạng tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta.

   Ba là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc học tập nghiêm túc chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.Tiếp tục triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; nhất là trong thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

    Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng bằng nhiều hình thức khác nhau; thường xuyên trao đổi, thảo luận để thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên về tác dụng và bản chất của phát huy dân chủ trong sinh hoạt chi bộ. Gắn nội dung sinh hoạt Đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị thông qua các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hằng năm, hằng quý tại sinh hoạt chi bộ.

   Đồng thời, trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi công tác kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở từng Đảng bộ, từng chi bộ cơ sở và nghiêm túc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát gắn với việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Qua đó, kịp thời phát hiện những vi phạm của cán bộ, đảng viên; uốn nắn, sửa chữa những sai phạm và đưa ra khỏi Đảng những kẻ xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ và đoàn kết, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thiết thực xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở Đảng.

   Năm là, tiếp tục xây dựng, bồi dưỡng và nhân rộng những gương cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác, nhất là theo chủ đề năm 2019 về “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong mọi mặt công tác, lấy kết quả việc rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và và thực hiện Điều lệ, quy định của Đảng làm chuẩn mực đạo đức, lối sống; làm mục tiêu phấn đấu, rèn luyện; làm phương châm hành động, biện pháp công tác gắn với việc tự soi mình của mỗi cán bộ, đảng viên qua 27 biểu hiện suy thoái (chi tiết thành 82 biểu hiện) theo đúng yêu cầu, để đánh giá kết quả công tác và tiến hành khen thưởng, kỷ luật hằng năm đối với mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng./.

TẦM VÓC VĨ ĐẠI CỦA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

   Ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

   Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bôn-sê-vích Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự... Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bôn-sê-vích xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình.

   Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô-viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể.

   Trong hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH trên quy mô lớn với trình độ hiện đại, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quan trọng đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động đã là động lực to lớn buộc các thế lực thực dân, đế quốc phải thừa nhận quyền độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa; chính quyền các nước tư bản có những cải cách xã hội để cải thiện đời sống của người lao động… Từ sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã giành được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, nhất là đã huy động được lực lượng vật chất và tinh thần đánh thắng liên minh các thế lực đế quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các thế lực phát xít tàn bạo trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

   Cách mạng Tháng Mười để lại nhiều bài học quý giá, trong đó quan trọng nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Thực tế lịch sử cho thấy, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã chủ động chuẩn bị mọi mặt cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười. Trước sự biến động của tình hình cách mạng, cùng với việc đề ra chiến lược, sách lược cụ thể, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã sáng suốt khi xác định rõ, cách mạng Nga phải chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhiệm vụ trọng tâm là lật đổ chính quyền lâm thời tư sản, bảo vệ các Xô viết đại diện. Đồng thời, công tác vận động, tập hợp quần chúng cũng được những người Bôn-sê-vích Nga chú trọng gắn với việc đấu tranh vạch trần bộ mặt cải lương, phản động của giai cấp tư sản và chính quyền lâm thời tư sản. Với hàng loạt khẩu hiệu cách mạng, nhất là khẩu hiệu “Chính quyền về tay các Xô viết”, Đảng Bôn-sê-vích Nga đã thành công trong việc tập hợp và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng như công nhân, nông dân, các dân tộc bị áp bức cùng kiên quyết đấu tranh lật đổ chính quyền lâm thời tư sản.

   Từ sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh, để xứng đáng với tư cách là một đảng cách mạng chân chính, các đảng cộng sản phải luôn đề phòng và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện tiêu cực trong nội bộ đảng như: suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc quyền, đặc lợi, xa dân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội chủ nghĩa; phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; phải thường xuyên tự điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là những chỉ dẫn hết sức quý báu của V.I.Lênin được rút ra từ thành công của Cách mạng Tháng Mười.

   Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam..”. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, nhất là bài học về công tác xây dựng Đảng. Người cho rằng: “Cách mệnh Nga dạy chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”; chỉ rõ việc cần kíp trước hết mà cách mạng đòi hỏi là “phải có Đảng cách mệnh”, “Đảng có vững thì cách mạng mới thành công… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”.

   Dù đã hơn một thế kỷ trôi qua với muôn vàn biến động và những thay đổi liên quan đến “địa - chính trị” thế giới, nhưng không ai có thể phủ nhận được ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với phong trào cách mạng thế giới lúc bấy giờ. Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười chính là ánh sáng soi đường cho nhân dân ta đi đến một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc - cách mạng vô sản do giai cấp công nhân và nhân dân lao động khởi xướng để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, trải qua chặng đường hơn 90 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định con đường này và luôn quán triệt, vận dụng bài học thành công từ Cách mạng Tháng Mười đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Trả tiền vào thành phố

Tôi ủng hộ thu phí xe ô tô vào nội đô Hà Nội và TP HCM trên nguyên tắc ‘ai ăn bánh phải trả tiền’ song song với xây dựng bằng được hệ thống giao thông công cộng hiệu quả và tiện dụng. Nghiên cứu về kinh tế học giao thông hơn 20 năm qua, tôi cho rằng việc thu phí xe ô tô cá nhân vào nội đô trong giờ cao điểm là cần thiết vì các lý do: Thứ nhất, sự phổ biến của xe máy dễ tạo ra cảm giác xem chúng là thủ phạm mọi vấn đề của giao thông đô thị Việt Nam, nhưng thực tế không hẳn như vậy. Với cấu hình của hai đô thị trung tâm chỉ có chưa đến 10% diện tích dành cho giao thông với hàng nghìn km đường hẻm, một chiếc xe ô tô bốn chỗ chiếm diện tích đường bằng khoảng năm chiếc xe máy. Có thể nói, ô tô là thủ phạm chính làm cho tình trạng giao thông đô thị ngày một tệ đi. Điều gì sẽ xảy ra cho Hà Nội và TP HCM nếu trong vòng một thập niên tới, có khoảng một triệu người sử dụng xe máy chuyển sang xe ô tô? Thứ hai, việc thu phí với xe ô tô có tính khả thi, giúp xã hội hiệu quả và công bằng. Về mặt tự nhiên, dùng giao thông công cộng bất tiện hơn giao thông cá nhân rất nhiều. Thành ra, để điều tiết hành vi của dân chúng, nhà nước phải làm cho chi phí sử dụng giao thông cá nhân tăng lên và chi phí giao thông công cộng giảm xuống. Giải pháp ở đây là biện pháp vừa kéo vừa đẩy. Kéo người sử dụng giao thông công cộng và đẩy người sử dụng phương tiện cá nhân. Người sử dụng giao thông công cộng tạo ra ngoại tác tích cực - tác động tích cực cho xã hội như giảm kẹt xe, ô nhiễm nên cần được khuyến khích và trợ cấp. Ngược lại, người sử dụng phương tiện cá nhân gây ra các ngoại tác tiêu cực cho xã hội nên phải trả phí cao hơn. Mọi người trên khắp đất nước đều đóng thuế và có quyền tự do đi lại trên những con đường nhà nước xây bằng tiền thuế. Nhưng khác với người đi xe máy, xe đạp, đi bộ, xe ô tô cá nhân chiếm dụng không gian nhiều hơn, gây ùn tắc cao hơn vào giờ cao điểm. Những người gây ra gánh nặng khác nhau thì phải trả mức phí cho xã hội khác nhau. Thứ ba, phí thu được sẽ dùng để xây dựng và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng công cộng, trợ giá xe công cộng, bù đắp lại những tổn thất mà phương tiện cá nhân gây nên. Đây là lấy chi phí của người gây tiêu cực bù cho lợi ích của người tác ᵭộng tích cực. Làm cho chi phí của người sử dụng giao thông cá nhân tăng lên cũng khiến một số người giảm bớt xe cá nhân chuyển sang xe công cộng. Việc đi xe công cộng đảm bảo yếu tố hiệu quả và phát triển bền vững cho quốc gia. Một trong những nguyên tắc cơ bản để Singapore có đô thị hiệu quả bậc cao như hiện nay là "ai ăn bánh người đó phải trả tiền". Với Việt Nam cũng vậy, nếu không bắt đầu bằng viên gạch thứ nhất thì sẽ không bao giờ đến được điểm cân bằng lợi ích giữa mọi đối tượng trong xã hội. Do đó, chúng ta phải làm hai việc song song: phát triển hệ thống giao thông công cộng bên cạnh chính sách làm cho người sử dụng phương tiện cá nhân phải trả đúng chi phí. Các lý thuyết về kinh tế giao thông và thực tế chỉ ra rằng, tính ổn định là yếu tố quyết định đối với việc lựa chọn phương tiện đi lại của mọi người. Ai cũng cần chắc chắn rằng mình sẽ mất bao nhiêu thời gian để có thể đến nơi cần đến. Đây là vấn đề rất lớn của giao thông công cộng Hà Nội và TP HCM. Năm 2011, khi thực hiện nghiên cứu tổng thể về hệ thống giao thông công cộng TP HCM, tôi đã đi khảo sát thực tế trên rất nhiều tuyến khác nhau trong suốt mùa hè. Kết quả là hầu hết các tuyến đường đều rất bất trắc với thời gian đi từ điểm đầu đến điểm cuối rất khó đoán định. Kể từ đó, mỗi năm tôi đều đi lại một số tuyến ở TP HCM và trong một số dịp ra Hà Nội, tôi cũng thử xe bus ở đó. Kết quả có thể nói đơn giản là càng ngày càng tệ. Xe bus là phương tiện bất lợi nhất trong lưu thông hỗn hợp ở Việt Nam. Xe máy lại là tiện lợi nhất vì có thể len lỏi và linh hoạt đổi tuyến, thậm chí là chen ngang. Hà Nội và TP HCM không thể phát triển với cấu hình giao thông hiện tại. Lời giải là phải xây dựng được hệ thống giao thông công cộng công suất lớn (các tuyến metro hay bus nhanh có đường đi riêng) càng sớm càng tốt. Hệ thống giao thông công cộng đường riêng sẽ không bị cản trở bởi các phương tiện khác chen ngang. Khi ấy, nếu nhà bạn ở Suối Tiên, bạn làm việc ở Bến Thành, đi chợ ở quận 2, chỉ cần sáng ra bạn đi bộ ra bến metro số một, mất đúng 40 phút để đến cơ quan làm việc. Chiều về, bạn đi bộ từ cơ quan ra bến metro, leo lên tàu và xuống bến ở quận 2 mua thức ăn, xong lên tàu đi về nhà. Đời sống hàng ngày ổn định và gắn với một tuyến giao thông công cộng thì bạn sẽ không phải dùng phương tiện cá nhân. Cả Hà Nội và TP HCM, mỗi nơi cần ít nhất khoảng 300 km giao thông công cộng công suất lớn cộng với hệ thống xe bus bao phủ rộng khắp mới đủ đáp ứng nhu cầu của thị dân hiện nay. Điều này phụ thuộc vào năng lực của chính quyền. Khởi động từ hơn hai thập niên qua, nhưng đến nay, cả Hà Nội và TP HCM đều chưa xây xong tuyến metro đầu tiên của mình - chiều dài chưa đến 20 km. Cùng thời gian, cả Thượng Hải và Bắc Kinh đều đã xây dựng được trên 500 cây số. Hai siêu đô thị của Việt Nam dường như đi theo vết xe đổ của Manlila (hơn 40 năm xây được chừng 100 km) và Jakarta (hiện mới có hơn 15 km metro và hơn 250 km bus nhanh). Còn Seoul, Singapore hay Hongkong, trong một vài thập niên có thể xây dựng được hàng trăm km metro. Với năng lực 20 năm không xây xong 20 km metro, liệu sau 10 năm nữa, chiều dài các tuyến metro ở TP HCM và Hà Nội sẽ là bao nhiêu ? Vấn đề lớn nhất chính là cải thiện năng lực xây dựng hệ thống giao thông công cộng cho hai đô thị thật nhanh. Việc phân bổ nguồn lực phải rất quyết tâm mà không bị ràng buộc bởi các ám ảnh khác về quy trình, thủ tục, trách nhiệm và cơ chế. Trong tầm nhìn của quốc gia, tất cả chính sách phải dựa trên mục tiêu là chúng ta muốn thành phố của mình hướng tới hình mẫu nào, và lập kế hoạch dựa trên "phiên bản ước mơ" đó. TP HCM và Hà Nội sẽ giống như Seoul, Singapore hay Manila, Jakarta? Nếu không can đảm ngay từ bây giờ, chúng ta đang trên đường tiến đến Manila, Jakarta để trở thành những bãi đậu xe khổng lồ.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐỔI MỚI NHƯNG KHÔNG THAY ĐỔI BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập.Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định.Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới.Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước".

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới.Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay.Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay.Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển.Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

NHÀ NƯỚC TA LÀ NHÀ NƯỚC VÌ DÂN

 Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu yếu phẩm vì Covid-19… những thông điệp mạnh mẽ của lãnh đạo Đảng, Chính phủ đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc và con đường phát triển của đất nước. Vì vậy, những quan điểm cho rằng Việt Nam “không có dân chủ”, chính quyền “bỏ rơi” người dân… đều là luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chia sẻ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Thông điệp trên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta.

Cả hệ thống chính trị đang chung sức đồng lòng giúp người dân vượt qua đại dịch bằng những biện pháp quyết liệt, hiệu quả, đầy ắp nghĩa tình. Hoàn toàn không có chuyện chính quyền “lúng túng”, “lơ là” trong phòng, chống dịch, “bỏ rơi” người dân; càng không phải “thiếu hàng, khan hiếm hàng” dẫn đến nguy cơ “cướp bóc”, “dân nghèo chết đói” như xuyên tạc của một số trang mạng phản động.

Để đảm bảo phòng, chống dịch hiệu quả, chiến dịch tiêm chủng vaccine phòng Covid-19 toàn quốc có quy mô lớn nhất từ trước đến nay đã được phát động triển khai. Những thành quả đó là từ sự nỗ lực của mỗi người dân, của các cấp, các ngành, các địa phương, của toàn hệ thống chính trị, nhất là của các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch như: Y tế, Quân đội, Công an... Đây hoàn toàn không phải là sự “may mắn” như sự xuyên tạc của một số tổ chức, cá nhân. Những ý kiến cố tình phủ nhận thành quả chống dịch của Việt Nam, thực chất là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân trong quá trình phòng, chống dịch. Mỗi chúng ta cần cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, hãy đoàn kết cùng toàn Đảng, toàn dân chiến thắng đại dịch./.

Dịch tái bùng phát, Bắc Giang tạm dừng nhiều hoạt động từ 0h ngày mai

 Do tình hình dịch diễn biến phức tạp, ngày 5/11, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang có văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động từ 0h ngày 6/11 để phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Hiện nay, tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã tái phát trở lại và đang diễn biến phức tạp; nguyên nhân do sự chủ quan, lơ là trong công tác phòng chống dịch, không quản lý chặt chẽ người từ vùng dịch trở về địa phương, không thực hiện nghiêm việc xét nghiệm tầm soát trong doanh nghiệp, ngoài cộng đồng nên đã phát sinh nhiều ca F0 trong cộng đồng.

Đặc biệt, nhiều ca F0 có lịch trình di chuyển phức tạp, tiếp xúc nhiều người (liên quan đến quán bia, quán karaoke, ăn uống tập trung đông người, cỗ cưới, trường học…) rất khó khăn, tốn kém cho công tác điều tra, truy vết, khoanh vùng, dập dịch.

Dịch tái bùng phát, Bắc Giang tạm dừng nhiều hoạt động từ 0h ngày mai - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm Covid-19 cho người dân huyện Việt Yên

Để đạt được mục tiêu nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh trong 7-10 ngày tới (tính từ ngày 4/11), không để dịch bệnh phát sinh trong cộng đồng, nhất là trong các khu, cụm công nghiệp, kể từ 0h ngày 6/11 trên địa bàn toàn tỉnh, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát chỉ được phép bán cho khách mang về, không được phép phục vụ khách ăn, uống tại chỗ cho đến khi có thông báo mới.

Dừng toàn bộ hoạt động tổ chức đám cưới. Đối với đám tang, đám giỗ, sang cát… phải tổ chức hết sức gọn nhẹ, thông tin đến người thân ở các tỉnh, thành phố có dịch trong cộng đồng không về phúng viếng, tham dự trong thời điểm hiện nay; không tổ chức các đoàn phúng viếng đông người.

Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hạn chế tổ chức hội họp tập trung đông người; không tổ chức các lễ kỷ niệm; các hội nghị sơ kết, tổng kết, các lớp bồi dưỡng, tập huấn, nếu cần thiết thì tổ chức gọn nhẹ, không tổ chức ăn uống, khuyến khích tổ chức hội nghị theo hình thức trực tuyến.

Nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay rất khẩn trương, cấp bách, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh đồng sức, đồng lòng, thực hiện nghiêm túc các quy định, quyết tâm đẩy lùi dịch Covid-19 trong thời gian nhanh nhất, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới.

Bá Đoàn

Tiêm nhầm vaccine Pfizer cho 18 trẻ sơ sinh, Bộ Y tế chỉ đạo khẩn

 Ngày 5/11, Bộ Y tế có văn bản hỏa tốc yêu cầu Sở Y tế Hà Nội chỉ đạo BV Xanh Pôn tập trung theo dõi sức khỏe của 18 trẻ bị tiêm nhầm vaccine Pfizer, xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân.

Theo đó, ngày 3/11, trong quá trình tiêm chủng đã xảy ra sự cố tiêm nhầm vaccine Comimaty ngừa Covid -19 của hãng Pfizer-BioNtech cho 18 trẻ từ 2 đến 6 tháng tuổi tại trạm Y tế xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội. 

Tiêm nhầm vaccine Pfizer cho 18 trẻ sơ sinh, Bộ Y tế chỉ đạo khẩn - 1

Nhấn để phóng to ảnh

(Ảnh minh họa: Hải Minh).

Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Lương Ngọc Khuê đề nghị Sở Y tế Hà Nội khẩn trương chỉ đạo Bệnh viện Xanh Pôn tập trung theo dõi sức khỏe các trẻ em gặp sự cố tiêm chủng. Đồng thời, tổ chức xác minh sự việc nêu trên, kiểm tra xác định nguyên nhân dẫn tới sai sót và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và xử lý theo quy định.

Trong quá trình theo dõi, chăm sóc các trẻ nếu có khó khăn đề nghị Sở Y tế báo cáo khẩn về Cục Quản lý Khám, chữa bệnh để được hỗ trợ.

Sáng 5/11, Cục Quản lý Khám chữa bệnh cũng có buổi làm việc với Sở Y tế Hà Nội về sự cố hy hữu trên. 

Trước đó, đêm 4/11, Sở Y tế Hà Nội thông tin đã có báo cáo Bộ Y tế và tham vấn ý kiến chuyên môn của các giáo sư hàng đầu trong nước, các chuyên gia y tế của Tổ chức Y tế Thế giới và UNICEF. Các chuyên gia hàng đầu của Bệnh Viện Nhi Trung ương đã trực tiếp thăm khám cho các cháu. Tình trạng sức khỏe của các cháu đều ổn định, một số cháu có biểu hiện sốt, sưng đỏ nơi tiêm là những phản ứng thông thường sau tiêm; không có trường hợp nào sốc phản vệ.

Huyện Quốc Oai đã có chỉ đạo, yêu cầu Trung tâm y tế huyện Quốc Oai và Trạm y tế xã Yên Sơn đình chỉ dây truyền tiêm gồm 4 cán bộ y tế và đình chỉ công tác đối với cán bộ y tế trực tiếp tiêm để xem xét trách nhiệm.

Sở Y tế cũng đã chỉ đạo rà soát lại toàn bộ quy trình tiêm chủng trên địa bàn Hà Nội, tuyệt đối không để những tình huống tương tự xảy ra.

Nam Phương

Thuận lợi và khó khăn với giai cấp công nhân Việt Nam trước tác động to lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đứng trước sự phát triển nhanh chóng và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giai cấp công nhân Việt Nam có những thuận lợi đan xen với khó khăn cơ bản:


Một là, về thuận lợi, giai cấp công nhân Việt Nam có số lượng đang tăng lên. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm tỷ lệ khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước; đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài; số lao động giản đơn trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Dự báo đến năm 2020, giai cấp công nhân có khoảng 20,5 triệu người. Công nhân trong doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh; ngược lại, công nhân trong doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm về số lượng.

Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Số công nhân có tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến tăng lên. Công nhân trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp xúc với máy móc, thiết bị tiên tiến, làm việc với các chuyên gia nước ngoài nên được nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp, phương pháp làm việc tiên tiến. Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu, có trình độ học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại, sẽ là lực lượng lao động chủ đạo, có tác động tích cực đến sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong tương lai…

Hai là, về khó khăn, trước yêu cầu của sự phát triển, giai cấp công nhân nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập. “Sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống”.

Chúng ta đang ở trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lại chưa tương thích với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Để hướng đến một nền sản xuất công nghiệp hiện đại, số lượng giai cấp công nhân lao động công nghiệp chỉ chiếm khoảng 24% lực lượng lao động xã hội là tỷ lệ còn thấp.

Mặt bằng chung trình độ văn hóa và tay nghề của công nhân nước ta dù được cải thiện, song vẫn còn thấp, đã ảnh hưởng không thuận đến việc tiếp thu khoa học - kỹ thuật, đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay, thì phải đến năm 2038, năng suất lao động của công nhân Việt Nam mới bắt kịp Philippines, năm 2069 chúng ta mới bắt kịp được Thái Lan. Do đó, nếu không tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có kế hoạch đào tạo đón đầu, thì chúng ta sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng về lao động khi các dự án lớn đầu tư vào Việt Nam. Một thực trạng đáng quan tâm khác là tỷ lệ thất nghiệp của những người đã qua đào tạo đang ngày càng cao…

Trong thời gian tới, quá trình toàn cầu hóa sản xuất với sự phân công và hợp tác lao động diễn ra ngày càng sâu rộng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Khi chúng ta thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những rào cản về không gian kinh tế, hàng hóa, dịch vụ, vốn, khoa học - công nghệ, thị trường lao động được gỡ bỏ, thì sự cạnh tranh giữa các nước càng trở nên gay gắt. Hiện ASEAN đã có hiệp định về di chuyển tự nhiên nhân lực, có thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng chỉ hành nghề chính thức đối với 8 ngành nghề được tự do chuyển dịch: kiểm toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ, y tá, điều tra viên và du lịch. Việc công nhận trình độ lẫn nhau về kỹ năng nghề sẽ là một trong những điều kiện rất quan trọng trong việc thực hiện dịch chuyển lao động giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Nhưng đây cũng sẽ là thách thức cho Việt Nam, vì số lượng công nhân lành nghề ở nước ta còn khiêm tốn, buộ#c phải chấp nhận nguồn lao động di cư đến từ các nước khác có trình độ cao hơn. Thời gian tới, nếu trình độ của công nhân nước ta không được cải thiện để đáp ứng yêu cầu, thì chúng ta sẽ bị thua ngay trên “sân nhà”.

Mai Năm Mới

Vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện ở mọi cấp. Do đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở cũng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ này; biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có vai trò lãnh đạo, trực tiếp thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn. Thông qua việc hằng ngày làm việc, tiếp xúc với cán bộ, nhân dân, trực tiếp sinh hoạt cùng nhân dân nơi cư trú, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có thể nắm bắt kịp thời những vấn đề phát sinh, những mâu thuẫn, bức xúc trong đời sống nhân dân; từ đó, có hướng giải quyết nhanh chóng, kịp thời, làm cho những mâu thuẫn đó không tích tụ, trở thành những “điểm nóng” để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng. Đồng thời, căn cứ vào những yêu cầu thực tiễn đặt ra, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở chủ trì xây dựng, ban hành các nghị quyết, chương trình hành động hoặc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền đề ra các chủ trương, biện pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đến các cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tại cơ sở để mỗi người hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng và ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở cũng tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn cấp dưới thực hiện nhiệm vụ này; giúp cho việc triển khai nghị quyết được thuận lợi, dễ dàng.

Thứ ba, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn. Tùy theo đặc điểm, tình hình của mỗi cơ sở, đơn vị, cán bộ lãnh đạo, quản lý xây dựng các lực lượng, vận động và tập hợp đông đảo quần chúng tham gia; đề ra các phương án và cách thức tổ chức phù hợp để phát huy vai trò của từng lực lượng; huy động cơ sở vật chất, các phương tiện kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm triển khai nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có hiệu quả.

Thứ tư, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn. Với chức trách, nhiệm vụ của mình, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tiến hành kiểm tra, giám sát các cá nhân, tổ chức, đoàn thể do mình phụ trách về việc thực hiện nhiệm vụ này để nhân rộng, phát triển những cách làm hay, những mô hình tiêu biểu, những điển hình tiên tiến, xuất sắc; đồng thời, kịp thời điều chỉnh, uốn nắn những cá nhân, tổ chức, đoàn thể chưa thực hiện tốt nhiệm vụ.

Thứ năm, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nêu gương trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn. Thực hiện “nói đi đôi với làm”, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trực tiếp tham gia viết tin, bài, chia sẻ bài viết, định hướng thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các sách, báo, tạp chí, in-tơ-nét và mạng xã hội...; bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc quy định nêu gương về bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống. Đây chính là vai trò “nêu gương” của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, góp phần lan tỏa tinh thần, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân ở địa bàn.

Mai Năm Mới

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2021

 LỜI BÁC DẠY NGÀY 02/11/1959:


“… chớ nên cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp toàn miền Bắc, đăng trên Báo Nhân dân, số 2056, ngày 02 tháng 11 năm 1959.

Lúc này là thời điểm miền Bắc nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ngành, các cấp ra sức thi đua thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và Chính phủ về xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, xóa bỏ tư hữu cá nhân về ruộng đất để phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất sâu sắc trong bối cảnh toàn miền Bắc đang thực hiện hợp tác xã nông nghiệp, việc xây dựng cũng như quản lý hợp tác xã còn gặp nhiều khó khăn, chưa có kinh nghiệm. Mặt khác, ở một bộ phận cán bộ quản lý vẫn còn tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, cá nhân chủ nghĩa, chỉ muốn nhận cái tốt về mình và đẩy cái xấu, cái chưa tốt cho người khác, làm ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta. Lời dạy của Bác trong thời điểm này, không những chỉ ra những hạn chế, biện pháp khắc phục mà còn là lời căn dặn, nhắc nhở đối với toàn thể cán bộ làm công tác quản lý nhà nước ta nói chung và quản lý hợp tác xã nông nghiệp nói riêng, kịp thời chấn chỉnh những nhận thức, quan điểm lệch lạc của một số tổ chức và cá nhân trong phương thức làm ăn mới, góp phần vào xây dựng tính tập thể, tình đoàn kết toàn dân thành một khối đại đoàn kết dân tộc, tạo cơ sở cho nông nghiệp miền Bắc phát triển và đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, để cho mỗi cá nhân trong tập thể “tự soi, tự sửa”, xây dựng ý thức và hành động của bản thân, mình vì mọi người, tất cả vì miền Nam ruột thịt, góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm… Học tập và làm theo lời Bác dạy, đòi hỏi mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn đề cao tình đồng chí, đồng đội, biết chia sẻ khó khăn, biết trân trọng những thành quả, quyết tâm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, không mắc bệnh “thành tích”, không háo danh, phô trương, không tranh công đổ lỗi cho người khác, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực; xác định tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện./.

BH ...