Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Bị cáo Nguyễn Duy Linh bị tuyên án 14 năm tù, nộp lại 5 tỉ đồng nhận hối lộ

 Bị cáo Nguyễn Duy Linh, cựu phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo - Bộ Công an, bị Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị từ 13-15 năm tù.

Từ 9 giờ sáng nay 6-11, TAND TP Hà Nội tuyên án sơ thẩm Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ "nhôm", nguyên chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần xây dựng Bắc Nam 79), cùng bị cáo Nguyễn Duy Linh, cựu phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo - Bộ Công an, trong vụ án đưa, nhận hối lộ.

Theo đó, TAND TP Hà Nội tuyên phạt Nguyễn Duy Linh - cựu phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Công an, 14 năm tù về tội "Nhận hối lộ". Ông Linh phải nộp lại 5 tỉ đồng đã nhận hối lộ để xung công; (bị cáo đã nộp ngày 5-11).

Phan Văn Anh Vũ bị phạt 7 năm 6 tháng tù về tội "Đưa hối lộ", cộng án 30 năm tù trong 4 vụ trước bằng 30 năm tù.

Thầy phong thủy Hồ Hữu Hòa bị phạt 2 năm 7 tháng 25 ngày tù tù về tội "Môi giới hối lộ"; bị cáo Hòa đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do tại tòa.

Theo chủ tọa, bị cáo Linh có đơn xin vắng mặt tại phần tuyên án vì lý do sức khỏe.

Trước đó, trong phần tranh tụng, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) TP Hà Nội đề nghị Hội đông xét xử (HĐXX) tuyên Phan Văn Anh Vũ từ 7- 9 năm tù về tội Đưa hối lộ; bị cáo Hồ Hữu Hòa (hành nghề phong thủy) án từ thời gian tạm giam đến ngày tuyên án về tội Môi giới hối lộ; Vũ Duy Linh bị đề nghị từ 13-15 năm tù, cùng với đó truy thu 5 tỉ đồng nộp vào công quỹ.

Theo VKSND, Hồ Hữu Hòa hành nghề tư vấn về phong thủy và quen với Phan Văn Anh Vũ. Năm 2017, khi Bộ Công an điều tra về những sai phạm trong việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất công sản tại TP Đà Nẵng và cố ý "Làm lộ bí mật nhà nước", Phan Văn Anh Vũ đã nhờ Hồ Hữu Hòa tiếp cận ông Nguyễn Duy Linh thời điểm đó là Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo, để nhờ giúp đỡ tìm hiểu thông tin. Phan Văn Anh Vũ thông qua Hồ Hữu Hòa đã chuyển tiền 5 tỉ đồng cho Nguyễn Duy Linh. Sau đó, Vũ "Nhôm" đã bỏ trốn sang Singapore do Nguyễn Duy Linh thông tin cho biết Vũ có thể bị khởi tố, bắt giam.

Đại diện VKSND cho rằng các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, gây dư luận bất bình, làm suy giảm niềm tin vào cơ quan nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Theo VKSND, tại phiên tòa, bị cáo Linh đã thừa nhận hành vi nhận hối lộ 5 tỉ đồng. Cùng với đó, bị cáo Vũ cũng thừa nhận hành vi Đưa hối lộ. Căn cứ lời khai nhận tội, phù hợp với các lời khai, chứng cứ khác có trong hồ sơ do đó cáo trạng quy kết cho các bị cáo là có cơ sở.

Đáng chú ý, trong phần thẩm vấn vào sáng 5-11, bị cáo Nguyễn Duy Linh chỉ thừa nhận được Phan Văn Anh Vũ tặng quà bằng thuốc lá, xì gà nhưng không có tiền. Tuy nhiên, chiều cùng ngày cựu phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo bất ngờ thừa nhận đã nhận được số tiền 5 tỉ đồng do Vũ "nhôm" gửi đến, đồng thời gửi lời xin lỗi đến Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an và lực lượng Công an Nhân dân.

Sau khi bị cáo Linh thừa nhận nhận 5 tỉ đồng của Phan Văn Anh Vũ, ông Vũ cũng bất ngờ xin thay đổi lời khai, nhận toàn bộ cáo buộc của viện kiểm sát và nói "có nhiều việc khó nói, mong HĐXX thông cảm". Cùng với đó, các bị cáo cũng yêu cầu luật sư của mình không tranh tụng gì thêm tại phiên tòa.

------------

PT-TG

Làm thế nào để nâng cao “sức đề kháng”, “tự miễn dịch” nhằm đẩy lùi, giảm thiểu tác hại từ các quan điểm sai trái, thông tin xấu?

 Thứ nhất, các cơ quan chức năng cần ban hành hệ thống văn bản có tính pháp quy, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí, các trang mạng xã hội tham gia đấu tranh, phòng chống quan điểm sai trái, thù địch.

 Hiện nay, hiệu quả cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch còn không ít hạn chế, yếu kém. Chủ yếu mới là lực lượng chuyên trách tham gia đấu tranh. Tình trạng “nói chưa đi đôi với làm”, thờ ơ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên mạng còn diễn ra khá phổ biến. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh này là “thuốc” đặc hiệu, là cơ sở quan trọng để lấy lại niềm tin của cộng đồng mạng. Từ niềm tin đó sẽ tạo “sức đề kháng” cho mỗi công dân mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch.

 Mặt khác, để đẩy lùi, giảm thiểu tối đa tác động từ các thông tin sai trái, thù địch, rất cần đổi mới, mở rộng các hình thức, phương tiện đấu tranh. Các cơ quan báo chí có lượng người đọc lớn, có tác động, chi phối thông tin trên mạng cần mạnh dạn tạo các diễn đàn mở để trao đổi trực tuyến các ý kiến, quan điểm khác biệt. Từ đó, triển khai tranh luận, giải thích với những người có ý kiến, quan điểm khác biệt, hoặc phản bác những quan điểm thù địch, chống đối chế độ. Đây cũng là diễn đàn để một mặt tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhưng mặt khác, nhân dân có thể tham gia trao đổi - tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 Tăng cường lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với hệ thống báo điện tử. Sớm khắc phục tình trạng sai tôn chỉ mục đích, đưa quá nhiều mảng tối của đời sống chính trị, tạo “mảnh đất” để các thế lực thù  địch, cơ hội chính trị dễ dàng lợi dụng, khai thác thông tin, nói xấu chế độ. Các báo điện tử, trang tin điện tử chú trọng đổi mới, xây dựng giao diện app mobile cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập Internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống.

 Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp mỗi công dân nhận diện rõ bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ quan trọng của báo chí chính thống, đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời cung cấp những thông tin chính xác, làm cho mỗi công dân mạng có thể nhận thức, nhận diện đúng đâu là thông tin xấu, thông tin độc, hiểu rõ thế nào là quan điểm sai trái, thế nào là quan điểm thù địch. Từ đó, sẽ định hình cho mình những suy nghĩ, hành động đấu tranh thích hợp.

 Để làm tốt nhiệm vụ cung cấp chính xác, kịp thời thông tin, các cơ quan báo chí phải chủ động phân tích, làm  rõ nội hàm, bản chất quan điểm sai trái, quan điểm thù địch ở từng cấp độ thông tin khác nhau. Có những hệ thống thông tin ở mức độ tổng quan, phân tích bài bản âm mưu, thủ đoạn khái quát từ hệ thống các quan điểm sai trái, thù địch. Có những thông tin phân tích trực diện, cụ thể, kịp thời đối với từng loại thông tin sai trái, thù địch.

 Báo chí chính thống cần trang bị tri thức cho cộng đồng mạng nhận diện rõ mục tiêu của các thế lực phản động là nhằm làm tan rã niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta, kích động nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng chuyển hóa chế độ. Làm rõ phương thức, thủ đoạn mới nhất hiện nay của chúng. Đó là triệt để lợi dụng những “khuyết tật”, yếu kém, tham nhũng, tiêu cực, nhất là các vụ đại án lớn hiện nay để xuyên tạc, nói xấu Đảng, chế độ ta. Thủ đoạn của chúng là viện cớ những yếu kém, tiêu cực đó để “bình luận”, tham chiếu, coi đó là nguyên nhân, hệ lụy của việc níu kéo, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời, lạc hậu vào con đường phát triển của Việt Nam. Cũng từ đó, các tổ chức phản động ở nước ngoài tung hứng, ra yêu sách đòi Đảng từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi đa nguyên, đa đảng.

 Cần tăng cường ứng dụng các công nghệ hiện đại, đổi mới, sáng tạo cách thức tuyên truyền, học tập, triển khai các nghị quyết của Đảng, của Đoàn. Đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đoàn các cấp. Hằng năm, triển khai hiệu quả học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức diễn đàn đối thoại “Đảng với thanh niên, thanh niên với Đảng”; các hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng cho đoàn viên, thanh niên tham gia, như: thi tìm hiểu về truyền thống vẻ vang của Đảng, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử cách mạng, thăm các địa chỉ đỏ…

 Thứ ba, phát huy vai trò định hướng thông tin của hệ thống báo chí cách mạng và mạng xã hội của Việt Nam để cộng đồng mạng nâng cao nhận thức, đủ “sức đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam cần tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và hệ thống chính trị vào cuộc để thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết 35 NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã chỉ ra. Đó là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Hệ thống mạng xã hội của Việt Nam tuy mới ra đời nhưng đã có sự ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng mạng. Vì vậy, cần có định hướng rõ ràng để các mạng xã hội có thế mạnh vào cuộc, tham gia một cách chủ động trong gợi mở, định hướng, dẫn dắt và chi phối thông tin  tích cực trên mạng xã hội. Ngoài mạng xã hội VCNet, Mocha, các cơ quan chức  năng cần có cơ chế, quy định rõ các chủ thể của các mạng xã hội như Zing.me, Lotus, Nhaccuatui… có trách nhiệm trong thông tin mặt tích cực của đời sống xã hội. Đây là cách tốt nhất để thực hiện phương châm “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là chính, nhằm nhân cái đẹp, dẹp cái xấu, lấy thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin tiêu cực, xấu độc, sai trái, thù địch.

Một số giải pháp đấu tranh với các thế lực thù địch trên không gian mạng

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên…

Trước tình hình trên, các cơ quan báo chí cách mạng của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc, dẫn đến có những tác động tiêu cực tới nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và con đường phát triển đất nước.

Để nâng cao hiệu quả, góp phần tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá, luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một vài giải pháp chủ yếu sau:

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như “vũ bão”, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống mà các hình thức chống phá của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, do vậy đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương pháp giữ vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng; nội dung đấu tranh phong phú, hình thức đa dạng, biện pháp cụ thể, sáng tạo, phù hợp thì hoạt động này mới có hiệu quả cao.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng…

Bên cạnh những giá trị đích thực, thì những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý. Một số quốc gia đã dựng lên các “biên giới ảo” trên nền Internet để kiểm soát “lãnh thổ” của mình. Với chúng ta, song hành cùng các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, thì cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ, như: bảo vệ tốt thông tin cá nhân; kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng; kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương... có vị trí vô cùng quan trọng, góp phần quyết định đến thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên KGM hiện nay.

Ba là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.

Phổ biến các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (Mục 2, Điều 285-294) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19/8/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng.

Được cung cấp thông tin kịp thời, thường xuyên, chính xác và đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá.

 Đây là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện yêu cầu: cần thoát khỏi thế “chống đỡ” để chuyển mạnh sang thế “tấn công” các thế lực thù địch, phản động. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt phương châm công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá.

Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp cần quan tâm biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo, xây dựng ngân hàng bình luận làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng.

Duy trì tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác hằng năm; chủ động gặp những người có quan điểm khác biệt để trao đổi, phân tích, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận, thống nhất.

Ở từng cấp, cần duy trì tốt nền nếp chế độ hội ý cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp đấu tranh. Trong đó, cần chỉ rõ mục tiêu, luận điểm chống phá của các thế lực thù địch trong các tin, bài; cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác từ hệ thống ngân hàng đã được biên soạn sẵn làm cơ sở cho lực lượng viết bài tham gia đấu tranh. 

Cần xây dựng hành lang pháp lý hoàn thiện làm cơ sở cho việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng xã hội. Để công tác đấu tranh phản bác trước những thông tin sai trái, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ cán bộ được chủ động, nhạy bén hơn nữa cần xây dựng khung khổ pháp lý về an toàn, an ninh và bảo mật thông tin. Theo đó, đối với những cá nhân có hành vi thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cá nhân phải kiên quyết phải xử lý theo pháp luật. Có làm được điều này mới thực sự góp phần xử lý hiệu quả các vi phạm về thông tin trên mạng xã hội hiện nay, đặc biệt là các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ, đảng viên, kích động, bôi xấu hình tượng lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nâng cao kiến thức và kĩ năng khai thác và sử dụng Internet, mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân viên… và những người trực tiếp làm công tác tư tưởng của Đảng để chống lại các quan điểm sai trái, thù địch một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không phải đến thời điểm này mới đặt ra mà nó là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ” kể từ ngày Đảng ta ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Sự hiện diện của các thế lực thù địch, cũng như luận điệu xuyên tạc, sai trái chống phá Đảng luôn tồn tại, tiếp diễn. Trong giai đoạn hiện nay, với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và chiếm lĩnh không gian mạng xã hội, các thế lực thù địch vẫn dai dẳng, tiếp tục gia tăng ảnh hưởng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cần phải nhận diện một cách đầy đủ và toàn diện các nội dung quan điểm đó để chủ động đấu tranh phản bác, bên cạnh đó cũng cần đổi mới hình thức, phương pháp và kĩ năng đấu tranh để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Tỉnh táo trước Tin giả (fake news)

 Thời gian gần đây, trong khi dịch COVID-19 liên tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, thì trên không gian mạng, tình trạng phát tán tin giả, sai sự thật về tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch COVID-19 càng có dấu hiệu gia tăng. Tin giả (fake news) có thể được hiểu là những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, kiểm duyệt, xuất hiện sai lệch về nội dung, được phát tán trên Internet và các phương tiện truyền thông. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là các mạng xã hội như Zalo, Facebook, YouTube..., đã trở thành mảnh đất màu mỡ để tin giả xuất hiện và lan truyền. Tin giả nói chung, tin giả liên quan đến dịch COVID-19 nói riêng đang trở thành một thực trạng đáng báo động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội; hạn chế hiệu quả hoạt động phòng, chống dịch của các địa phương và các lực lượng chức năng.

Trước hết, tin giả liên quan đến dịch COVID-19 là những thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh, gây tâm lý hoang mang trong dư luận xã hội, những thông tin dạng như thế này đã tạo ra tâm lý bất ổn trong một bộ phận nhân dân. Khi đại dịch COVID-19 bùng phát ở nhiều tỉnh, thành phố phía Nam, các đối tượng tung tin giả đã xoáy sâu vào nỗi lo lắng, sợ hãi, bất an của người dân bằng thủ đoạn cắt, ghép hình ảnh kèm theo những thông tin sai sự thật như “xác người chết vì COVID-19 chất đầy trong phòng” hay “người dân tự thiêu để phản đối công tác phòng, chống dịch COVID-19 ở Thủ Đức”...

Đặc biệt, tin giả liên quan đến dịch COVID-19 còn là những thông tin sai lệch về công tác phòng, chống dịch bệnh; xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và biện pháp phòng, chống dịch của chính quyền các cấp. Trên mạng xã hội đã từng lan truyền dòng trạng thái của một facebooker xuyên tạc phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Ðức Ðam tại cuộc họp Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 để đưa ra những thông tin suy diễn vô căn cứ như: “dịch bùng ra một cái, chắc chắn Việt Nam sẽ bứt lên Top 1 ngay”;  “không có việc Nhà nước lo và ra viện được tặng hoa nữa đâu”; “Hà Nội 11 triệu dân chỉ có khoảng 300 cái (máy thở)”... Hay mới đây, khi Quân đội huy động cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác phòng, chống dịch, hỗ trợ người dân TP Hồ Chí Minh bảo đảm nhu cầu cuộc sống trong thời gian giãn cách xã hội, một số đối tượng đã cố tình tung tin sai sự thật trên mạng xã hội về việc “Quân đội thực hiện thiết quân luật tại TP Hồ Chí Minh”. Cùng với thông tin này là hình ảnh “xe thiết giáp chắn đường”, “quân đội mặc đồ bảo hộ cầm súng”... Nhưng qua xác minh, các xe thiết giáp trong hình là những phương tiện tham gia buổi luyện tập Khu vực phòng thủ ở Hải Phòng từ nhiều tháng trước đó; còn hình ảnh “quân nhân ôm súng” lại là hình ảnh quân đội nước ngoài với những khẩu súng không phải là trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bên cạnh đó, còn là hàng loạt thông tin giả kết hợp với các luận điệu kích động người dân nhằm gây khó khăn cho công tác phòng, chống dịch; những tin giả núp dưới bóng những việc làm tích cực, nghĩa hiệp (không có thực) để định hướng dư luận một cách tinh vi hoặc nhằm mục đích trục lợi cá nhân. Điển hình là tin giả về việc “Người dân quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh bỏ về khi biết tiêm vắc xin Trung Quốc". Nhưng thực tế, tại thời điểm thông tin này được lan truyền (ngày 13/8), thì hoàn toàn không có việc tổ chức tiêm vắc xin phòng ngừa COVID-19 trên địa bàn quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay sau đó, cơ quan chức năng đã vào cuộc xác minh, làm rõ để xử lý hành vi vi phạm của chủ tài khoản đưa thông tin sai sự thật này. Hoặc tin về việc “Bác sỹ Khoa rút máy thở của mẹ để nhường cho sản phụ”. Đây là sự việc hoàn toàn không có thật. Hệ quả là, nhiều “anh hùng bàn phím” đã chia sẻ thông tin này kèm theo những bình luận sai trái, phiến diện như “Thành phố Hồ Chí Minh thiếu máy thở để điều trị bệnh nhân COVID-19”, “Nhiều bệnh nhân COVID-19 tử vong do không được cứu chữa kịp thời”...

Rõ ràng, với cách thức biểu hiện, nội dung, tính chất khác nhau nhưng tin giả liên quan đến dịch COVID-19 lan truyền trên mạng xã hội đã trở thành tác nhân gây hoang mang, tâm lý bất ổn, hoảng loạn trong nhân dân; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với các chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước. Sẽ càng nguy hiểm hơn, khi những tin giả này bị các đối tượng chống đối, thù địch, phản động lợi dụng nhằm mục đích tuyên truyền, kích động chống phá Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc nếu mỗi chúng ta không tỉnh táo và đủ sức đề kháng./.

LỢI DỤNG KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH – GIỌNG ĐIỆU CỦA “KẺ CÓ TÂM ĐỊA ĐEN”

 Từ khi đại dịch COVID -19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đã được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng bỏng tại các địa phương. Thế nhưng trên không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân thù địch, cơ hội chính trị lại cố tình bóp méo, xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trên tuyến đầu chống dịch COVID-19.

Thế nhưng trên mạng xã hội, Internet, một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những kẻ bất mãn mang tâm địa đen tối cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, những vidio, clip... bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Một số kẻ đã đăng phát trên mạng xã hội những bài viết có nội dung suy diễn, chủ quan, phiến diện cố tình xuyên tạc chủ trương đưa Quân đội, Công an vào tham gia phòng, chống đại dich COVID-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Đáng lưu ý, trong một bài viết trên BBC tiếng Việt, có kẻ vẫn nhai lại luận điệu cho rằng việc huy động Quân đội tham gia chống đại dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều chúng rêu rao rằng việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

Khi quân đội huy động các loại phương tiện kể cả máy bay, tàu thủy để vận chuyển lương thực - thực phẩm vào phía Nam giúp nhân dân thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch, thì có kẻ lại hoài nghi nói rằng: số lương thực – thực phẩm ấy phục vụ cho mấy nghìn quân ăn còn chưa đủ lấy đâu ra mà cung ứng, hỗ trợ nhân dân… Trên RFA (Đài Á Châu Tự Do), trong bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?” khi bàn về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân, có kẻ cho rằng: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”. Tác giả bài viết này lý giải: “Bộ đội, công an vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa…”. Khi xem những hình ảnh bộ đội đi chợ giúp dân, mang từng bao gạo, hộp mỳ tôm, chai dầu ăn, chai nước mắm.... đến trao tận tay từng nhà dân, có kẻ lại nói rằng quân đội “làm màu”, “đánh bóng”, “mỵ dân”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; hạ thấp uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội, chia rẽ tình đoàn kết giữa Quân đội với nhân dân. Nhưng chúng ta không vì những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt ấy mà giảm đi tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu chống dịch. Cùng với tuyên truyền đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức, cá nhân thù địch và kẻ xấu, thông qua hoạt động báo chí, truyền thông, cần đẩy mạnh tuyên truyền nhân rộng.

Nhân rộng, tạo sức lan tỏa những việc làm tốt, nghĩa cử cao đẹp của các lực lượng xung kích trên tuyến đầu chống dịch, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đâu vừa là việc làm cần thiết để xây dựng niềm tin cho nhân dân, tăng cường tình đóng kết quân - dân, vừa là biện pháp dùng cái đẹp, dẹp cái xấu, dùng dư luận tích cực để lên án, phản bác đấu tranh với những luận điệu tiêu cực, xấu độc, vô lương tâm của những kẻ mang tâm địa xấu xa trên không gian mạng ở trong và ngoài nước.

“ANH HÙNG BÀN PHÍM” LẠI “LỘNG NGÔN”

 Thời gian gần đây, khi dịch bệnh diễn biến phức tạp trở lại, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị tiếp tục vào cuộc mạnh mẽ, thần tốc triển khai nhiều biện pháp mới nhằm ngăn chặn kịp thời sự lây lan dịch bệnh COVID-19 trong cộng đồng thì một số tổ chức phản động ở trong và ngoài nước lại có những tiếng nói lạc lõng, đầy “hả hê” trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra tại một số địa phương ở nước ta.

Nếu như ở những lần bùng phát dịch trước đó, các tổ chức phản động như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Thanh niên Công giáo, Dân luận... đăng tải các thông tin xuyên tạc về tình hình phòng, chống dịch COVID-19 của nước ta với những luận điệu cũ rích được nhai đi, nhai lại như “Việt Nam giấu dịch”, “Cộng sản đã bán nước cho Tàu nên để người Trung Quốc thoải mái nhập cảnh vào Việt Nam làm lây lan dịch bệnh”… Thì với đợt bùng dịch mới này bọn chúng lại xuyên tạc theo kiểu phân tích về khả năng kiểm soát dịch bệnh tại Việt Nam và dĩ nhiên chúng sẽ không quên lồng ghép những quan điểm hằn học, đả kích, thậm chí “dạy bảo” chính quyền nước ta về cách phòng, chống dịch. Điển hình như bọn Việt Tân đăng tải bài viết với nhan đề “Việt Nam đã mất khả năng kiểm soát lây lan COVID-19 trong cộng đồng?”.

Thật nực cười cho các tổ chức phản động này, nhất là các tổ chức đang trú chân trên đất Hoa Kỳ, đất nước mà ngày ngày người dân đang sống với sự lo sợ không biết lúc nào COVID-19 sẽ ghé thăm lại mạnh mồm chê bai và “dạy bảo” một đất nước Việt Nam đang là điểm sáng trong phòng, chống COVID-19 trên thế giới. Ở Hoa Kỳ giai đoạn dịch bùng phát và lan rộng đã có nhiều bệnh viện, cơ sở y tế nói không với bệnh nhân COVID-19. Chẳng phải vì họ không nhân từ với công dân của mình, mà là vì sức chứa và phương tiện y tế không cho phép họ tiếp nhận bệnh nhân để chữa trị. Các cơ sở hỏa táng chạy hết công suất nhưng cũng chẳng đủ đáp ứng yêu cầu vì số người chết quá nhiều. Nhìn xác người chất đầy các xe đông lạnh ở Mỹ mà xót xa vô cùng! Còn các quốc gia châu Âu, nơi có nhiều người gốc Việt sinh sống cũng không khá hơn Hoa Kỳ là bao. Vậy mà một số thành phần chống đối cực đoan không biết tự lo cho chính mình và quốc gia đang nuôi dưỡng mình, lại suốt ngày xiên xỏ, moi móc quê cha, đất tổ. Thật trơ trẽn và bất lương.

Chứng kiến sự nhọc nhằn, vất vả của đội ngũ y, bác sỹ, đã không quản hiểm nguy, tận tụy cứu chữa các bệnh nhân; những cố gắng phòng dịch của các chiến sĩ Công an, Quân đội dầm mưa, dãi nắng nơi biên giới... ai mà không thấy xót xa, chia sẻ. Nếu còn có lương tri của một con người hãy thể hiện bằng hành động của mình vào công cuộc phòng, chống dịch. Đừng vì những đồng tiền nhơ bẩn mà bán rẻ lương tâm, trở thành các “anh hùng bàn phím”, lợi dụng tình hình dịch bệnh để bồi bút xuyên tạc, quy chụp, tư duy cực đoan, miệt thị chế độ./.

SAU ĐẠI DỊCH NGƯỜI DÂN VIỆT NAM NHẬN DIỆN RÕ HƠN BỘ MẶT GHÊ TỞM CỦA ĐÁM PHẢN ĐỘNG

 Khi người dân vừa tạm thở phào khi dịch bệnh tạm thời “hạ nhiệt” thì tổ chức phản động Việt Tân và một số tên phản động lưu vong lại gào lên rằng, “Covid-19 phơi bày tất cả sự thật về Đất nước đáng sống”.

Trong bài viết, Việt Tân đã trực diện công kích, bôi nhọ, xuyên tạc về thành quả chống dịch của Việt Nam. “Xấu xa, độc ác, giả tạo, phát xít, độc tài” là những từ mà một tổ chức khủng bố này đã sử dụng để nói về một đất nước đang kiên cường chống dịch; Một đất nước nỗ lực, dốc toàn sức ngoại giao để mang vaccine về cho dân; Một đất nước có những người lính gác súng để đi chợ hộ dân; Một đất nước mà có hàng vạn các y bác sĩ, công an, quân đội bỏ gia đình phía sau, bất chấp sự nguy hiểm của tính mạng sẵn sàng bước vào ổ dịch cứu chữa bệnh cho người dân…

Có đất nước nào “xấu xa” mà dù điều kiện kinh tế vẫn hạn chế nhưng đã nỗ lực phủ vaccine cho người dân một cách nhanh nhất. Ngay cả với lao động nước ngoài đang ở tại Việt Nam. Cho đến nay, tổng số người ở Việt Nam đã tiêm với tổng số liều vaccine đã được tiêm là 50.558.288 liều, trong đó tiêm 1 mũi là 36.901.468 liều, tiêm mũi 2 là 13.656.820 liều.

Có đất nước nào “độc ác” mà lãnh đạo ngày đêm phải điện đàm, công du để tranh thủ đem về từng liều vaccine cho người dân. Có đất nước nào “độc tài”, “phát xít” mà người lính đi phân phát nhu yếu phẩm cho từng hộ gia đình? Có đất nước “độc tài” nào mà cảnh sát giao thông dừng xe, phát gạo, phát xăng, dẫn đường cho người dân về quê? Có đất nước nào “xấu xa” mà lập đường dây nóng để tổ chức phương tiện đưa nhân dân về quê.

Dịch bệnh kéo dài, không chỉ Việt Nam mà toàn thế giới bị ảnh hưởng. Đại dịch đã làm suy giảm kinh tế toàn cầu, gây thiệt hại và thương vong lớn. Theo số liệu thống kê của trang mạng worldometers.info, cập nhật đến 6 giờ sáng 7/10 (giờ Việt Nam), tổng số ca mắc COVID-19 trên toàn cầu là 237.920.170 ca, trong đó có 4.855.262 người tử vong và Mỹ vẫn là quốc gia đứng đầu danh sách về số ca tử vong 731 nghìn người, trong tổng số 45.109.804 ca. Tiếp đó là Ấn Độ với 450.277 ca tử vong trong số 33.922.917 ca. Brazil đứng thứ 3 với 600.425 ca tử vong trong số 21.532.558 ca mắc.

Là một đất nước có nền kinh tế và hệ thống y tế đang phát triển, Việt Nam vẫn đang nỗ lực, làm tất cả những gì có thể để bảo vệ người dân. Những nỗ lực của Việt Nam thể hiện ở từng hành động, từng quyết sách, từng ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình. Như vừa mới đây, lực lượng chức năng đã cố gắng sắp xếp phương tiện để đưa người dân có nhu cầu về quê một cách an toàn nhất. Đây chỉ là những hành động rất nhỏ trong vô vàn hành động khác với phương châm tính mạng của người dân là mục tiêu được đặt lên hàng đầu.

Đúng, đại dịch đã thêm một lần nữa giúp toàn dân Việt Nam “sáng mắt”, “sáng lòng”. Nhờ đại dịch mà người dân hiểu thêm được những sự hy sinh thầm lặng, những mất mát lớn lao mà có lẽ khi bình yên quá chúng ta không nhận ra được. Nhờ đại dịch mà người dân lại cảm nhận được sự thấm đượm nghĩa tình từ hai tiếng “đồng bào”. Nhờ đại dịch mà người dân Việt Nam đã chứng kiến những điều vượt qua giới hạn bình thường từ các y bác sĩ, từ cán bộ chiến sĩ, từ Chính phủ…

Và cũng “sáng mắt” để nhìn lại những hành động phá hoại Việt Nam của một tổ chức khủng bố. Liên tục xuyên tạc, công kích chính quyền; Lợi dụng khó khăn của người dân để xúi giục, kích động họ bạo loạn, xuống đường biểu tình, gây nguy hiểm cho tính mạng của người dân và khó khăn trong công tác chống dịch; Và bây giờ là vô ơn, phủ nhận trắng trợn công sức chống dịch của toàn dân.

Trái ngược với luận điệu “choáng váng” và “run rẩy” mà Việt Tân lu loa, Việt Nam vẫn và tiếp tục kiên cường, vững vàng trước đại dịch. Dù có nhiều trường hợp xảy ra, người dân vẫn cùng nhau đoàn kết, vững tin. Không chỉ chiến thắng đại dịch mà còn chiến thắng âm mưu kích động, “chọc gậy bánh xe” của các đối tượng.

Đám Việt Tân và những tên phản động lưu vong nếu còn một chút lương tri thì hãy tôn trọng sự thật, bỏ trò xuyên tạc, bôi đen đi mà làm người./.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” TRONG NỘI BỘ

 V.I. Lênin từng dạy “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. Để ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, chúng ta phải xác định rõ các mức độ biểu hiện, các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những mức độ biểu hiện đó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc “tự soi”; trên cơ sở đó đề ra các biện pháp khắc phục.

Trong giai đoạn hiện nay, việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem như là nội dung, yêu cầu quan trọng trong vấn đề tự bảo vệ, nhằm ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự suy thoái” . Bởi vì, có khắc phục hiệu quả tình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái mới làm cho mỗi đảng viên và tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hơn, có sức đề kháng cao hơn trước các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người.

 Do vậy, yêu cầu đặt ra là, mỗi cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ lấy mình; phải nâng cao trình độ năng lực, lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị. Không ai có thể làm thay sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của từng cán bộ, đảng viên.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nhưng nó có phát triển đến mức nào, có làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta được hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào khả năng đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, khả năng tự bảo vệ và sức mạnh của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, không thế lực nào có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phải tập trung nâng cao khả năng tự bảo vệ, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ với xây dựng, xây dựng phải gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích phát triển tốt hơn. Không để vì một lý do nào đó rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu lý tưởng, đi ngược lại con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc./.

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

“Chó cứ sủa đoàn người cứ tiến”



Chiều qua, tại quảng trường ở Thủ đô Paris, một nhóm khoảng 10 - 20 người cờ vàng ba sọc biểu tình tại Pháp nhằm yêu cầu chính quyền Pháp cắt đứt quan hệ với Việt Nam, lên án Việt Nam thiếu nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến,...

NGƯỜI “TRUYỀN LỬA” PHẢI THỰC SỰ CÓ “LỬA”

 “Bệnh” ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Trung ương đã chỉ ra. Đây cũng là một thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngại học lý luận chính trị, trong đó có những bất cập trong công tác giảng dạy hiện nay...

Bất cập thứ nhất là không ít người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị chưa thực sự say nghề, chưa đầu tư nhiều trí tuệ, công sức vào việc chính của mình nên kiến thức chưa sâu, chưa đủ tầm để phân tích, chứng minh nội dung một cách thuyết phục; phương pháp truyền đạt chủ yếu là... đọc theo giáo án (hoặc có trình chiếu Powerpoint nhưng... toàn chữ như giáo án), người học chép mỏi tay! Kiểu giảng dạy như vậy khiến người học rất chán.

Cần làm gì để giảng viên lý luận chính trị thực sự say nghề, giỏi nghề? Trong rất nhiều giải pháp như: Lựa chọn người giỏi lý luận, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ... thì vấn đề có tính quyết định là phải thực sự quan tâm, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích, tạo động lực cho những người làm công tác này. Người xưa đã dạy “có thực mới vực được đạo”.

Thực tế những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị chỉ có thu nhập từ lương, phụ cấp (vì ít có dạy thêm, làm thêm); trong khi những cán bộ tuổi đời, trình độ tương đương (thậm chí thấp hơn, là học trò) thì có chức quyền và cuộc sống khấm khá... đã tác động không nhỏ tới động lực phấn đấu của không ít giảng viên, nhất là giảng viên trẻ.Thậm chí, có những thầy vốn rất tâm huyết, giỏi về lý luận chính trị, nhưng bị áp lực, nỗi lo "cơm áo, gạo tiền, đặc biệt là chuyện nhà đất"... khiến dần giảm nhiệt huyết. Người “truyền lửa” mà “thiếu lửa” thì không thể “tiếp lửa” cho người học. Chưa kể, điều rất đáng lo ngại là có những thầy còn bột phát “buông” lời thể hiện sự tủi thân, bất mãn trước học viên.

Bất cập thứ hai là nhiều giảng viên lý luận chính trị thiếu kiến thức thực tiễn nên ít có ví dụ, tình huống thực tế để liên hệ, chứng minh, vận dụng nội dung lý luận, khiến nội dung giảng dạy khô cứng, người học khó tiếp thu. Nhiều ví dụ cũ từ hàng chục năm trước được thầy nêu ra không còn phù hợp với hiện thời. Được biết, các học viện, nhà trường đều có quy định cử giảng viên lý luận chính trị đi thực tế, nhưng vì thời gian ngắn nên chưa nắm bắt được nhiều. Đặc biệt, việc đi thực tế ở nước ngoài thì... vô cùng hiếm, trong khi nhiều thầy phải giảng dạy các nội dung trực tiếp liên quan đến thực tế ở các nước.

Một trong những yêu cầu của nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị là phải gắn với thực tiễn, chống lý thuyết suông. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức cho đội ngũ giảng viên dạy lý luận chính trị đi thực tế cơ sở, luân chuyển làm cán bộ, nhân viên ở các cấp; cử đi công tác, tìm hiểu ở nước ngoài để phục vụ giảng dạy những nội dung liên quan... Bên cạnh đó, các học viện, nhà trường cần tăng cường mời chuyên viên, chuyên gia, nhà lãnh đạo có trình độ lý luận gắn với kiến thức thực tiễn tham gia giảng dạy một số nội dung cho phong phú, sinh động, hấp dẫn người học...

Bất cập thứ ba là nội dung giảng dạy lý luận chính trị có sự trùng lặp ở các cấp học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và một số nội dung trùng giữa các bộ môn, khiến người học ở các cấp học sau, môn học sau có cảm giác phải học lại, giảm hứng thú. Bên cạnh đó, khá nhiều giảng viên kết cấu bài giảng nặng về giải thích các khái niệm, các quan điểm liên quan và những nội dung có tính hàn lâm; trong khi thời gian dành cho bài giảng có hạn nên đến phần trọng tâm của bài mà người học rất cần (gồm những quan điểm, vấn đề cốt lõi và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công tác) thì thầy lại giảng lướt hoặc nhắc học viên tự nghiên cứu tài liệu vì đã hết giờ lên lớp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo rà soát lại các giáo trình lý luận chính trị để hạn chế sự trùng lặp giữa các cấp học, môn học. Các học viện, nhà trường cần rà soát nội dung bài giảng, giáo án theo hướng tăng cường phần liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn; giảm những khái niệm không cần thiết (nhất là khi giảng dạy cho học viên trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Vì những khái niệm đơn giản thì cơ bản đối tượng này đã nắm được) và giảm những nội dung nặng tính hàn lâm (chỉ những người nghiên cứu chuyên sâu về lý luận mới cần học kỹ nội dung này).

Bất cập thứ tư là không ít giảng viên lý luận chính trị thiếu nghiệp vụ sư phạm, giảng với giọng đều đều, động tác và lời giảng không có điểm nhấn, thiếu sinh động dẫn đến người học dễ... buồn ngủ! Nội dung lý luận chính trị vốn khô khan mà người giảng không có phương pháp sư phạm tốt thì không thể tạo hứng thú cho học viên, người học rất khó tiếp thu. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên lý luận chính trị, các học viện, nhà trường cần xem xét chuyển những giảng viên không thể có phương pháp sư phạm tốt (do cố tật, sở đoản) sang làm việc khác phù hợp hơn. Bên cạnh đó, một giải pháp hiệu quả các trường cần vận dụng là tổ chức ghi hình những bài giảng mẫu của giảng viên giỏi rồi trình chiếu cho học viên xem, sau đó tổ chức nghiên cứu, thảo luận... 

Bất cập thứ năm cần sớm khắc phục là tình trạng chưa coi trọng phát huy sự chủ động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học; quá trình giảng dạy lý luận thường thông tin một chiều kiểu thầy nói-trò nghe và thầy đọc-trò chép; giảng viên ít gợi mở để người học suy nghĩ, phát biểu ý kiến của mình dẫn đến người học thụ động, không hưng phấn. Cùng với đó, thời gian dành cho thảo luận còn ít nên số học viên được phát biểu không nhiều, những ý kiến phản biện chưa có điều kiện làm rõ, phần vì hết thời gian, phần vì không phải giảng viên nào cũng có khả năng giải thích, kết luận rõ ràng, thuyết phục. Thực tế, sau giờ thảo luận vẫn có những học viên băn khoăn, thắc mắc vì chưa được giảng viên giải đáp thỏa đáng, nhất là với những vấn đề thực tế đang diễn ra đã có những điểm khác so với nội dung giáo trình, giáo án. Vì vậy, việc giảm thời gian giảng dạy, tăng thời gian cho học viên nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và người dạy kết luận rõ ràng, thuyết phục đối với từng nội dung là rất cần thiết để tránh hiện tượng sau khi học xong mà học viên vẫn còn băn khoăn, chưa “tâm phục, khẩu phục”.

Cuối cùng là thời gian học lý luận chính trị cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cho hợp lý, không nên tổ chức học tập trung kéo dài và học theo kiểu “nhồi nhét” dẫn đến người học căng thẳng, hiệu quả không cao. Việc đào tạo lý luận chính trị ở bậc trung, cao cấp cần theo hướng gợi ý, nêu vấn đề và gửi các tài liệu cần thiết để người học tự nghiên cứu trước; các buổi học tập trung chủ yếu dành cho thảo luận, giải đáp những nội dung khó mà người học chưa hiểu rõ. Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học lý luận chính trị nên theo hướng đề mở, đưa ra các tình huống thường gặp, người học vận dụng kiến thức đã tích lũy được để giải quyết; hạn chế tối đa kiểu kiểm tra học thuộc lòng lý thuyết và không nên yêu cầu viết bài kiểm tra quá dài (kể cả viết bài thu hoạch, tiểu luận, luận văn); cần khuyến khích học viên hiểu bản chất vấn đề lý luận và biết vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác. 

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải học lý luận chính trị, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, để cán bộ, đảng viên nói riêng và người học nói chung không ngại học lý luận chính trị thì rõ ràng những bất cập trong công tác giảng dạy lý luận chính trị cần phải được khắc phục. Đặc biệt, việc quan trọng nhất là cần quan tâm chăm lo, có chính sách thỏa đáng để tạo động lực cho đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết với nghề, đồng thời thu hút người giỏi làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, vì người “truyền lửa” có làm tốt vai trò “tiếp lửa” thì người học mới nắm chắc, thấm nhuần lý luận và biết vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

TIA CHỚP

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

   Để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

   Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Theo đó, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và chủ trương: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

   Bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải được nâng cao; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được giữ vững.

   Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển.

   Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội;

   Thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; coi đó là công việc thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các địa phương, đơn vị và cần gắn với thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và khóa XIII về công tác xây dựng Đảng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

   Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

   Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

   Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

   Tăng cường thực hiện tổ chức trao đổi, đối thoại với nhân dân theo Quy định 11-QĐi/TW ngày 18-2-2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.

   Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, có hiệu lực và hiệu quả.

   Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

   Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, ngang tầm yêu cầu của giai đoạn mới. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.

   Thứ ba, tiếp tục củng cố, tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

   Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

   Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 217-QĐ/TW về giám sát và phản biện xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW về tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

   Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

   Để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, cần “tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

   Khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội. Để tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, cần hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

   Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhất là nội dung Nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân, đoàn kết được toàn dân, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội.

   Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

   Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng mô hình chính phủ điện tử./.

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

   Qua thực tiễn xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố; quyền con người, quyền công dân được bảo đảm tốt hơn; tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả.

      Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Từ khi giành được chính quyền, Đảng vừa là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động các tổ chức của hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín, vị thế, địa vị cầm quyền của Đảng.

   Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.

   Trên cơ sở kiên trì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Xây dựng Đảng về chính trị đã giúp giữ vững, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định các nguyên tắc nền tảng; tăng cường bản lĩnh chính trị; nâng cao chất lượng đường lối, chính sách. Công tác tư tưởng, lý luận được tăng cường đã tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội trước những vấn đề lớn của đất nước, của công cuộc đổi mới; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tìm tòi, bổ sung và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

   Tổ chức đảng và hệ thống chính trị có bước đổi mới quan trọng, từ thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược; chỉnh đốn lề lối, tác phong công tác; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng được đặc biệt coi trọng, có tác dụng quan trọng trong đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Qua thực tiễn xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố; quyền con người, quyền công dân được bảo đảm tốt hơn; tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả.

   Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 30 năm qua. Thông qua xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam trưởng thành hơn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng Đảng và quản lý Nhà nước.

   Tuy nhiên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm: năng lực dự báo, định hướng chính sách, thể chế hóa, cụ thể hóa để tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, còn khoảng cách với đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ. Quản lý, giáo dục đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức; sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao. Chất lượng sinh hoạt Đảng, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu, thực hiện trách nhiệm nêu gương của đảng viên nhiều nơi thiếu nền nếp, chưa trở thành ý thức tự giác. Chưa đạt hiệu quả cao trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; chưa phân định rõ vai trò lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân; thực hiện kiểm soát quyền lực chưa tốt. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” chậm được thể chế hóa một cách đồng bộ. Còn nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội, để nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài, chậm được xử lý, gây bức xúc trong nhân dân.

   Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá. Có thể khẳng định, trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, cùng với đổi mới nền kinh tế, từng bước đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị là đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp bách./.


Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 

    Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội (CNXH), trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

   Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

   Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

   Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. Chúng ta cần tập trung một số vấn đề sau:

   Nhận thức không thể phủ nhận thành tựu xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới.

   Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

   Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

   Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

   Nhận thức chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

   Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

   Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

   Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

   Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

   Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

   Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

   Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Leenin.

   Nhận thức phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

   Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

   Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

   Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước./.

Một số quan điểm của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến nay

 

        Kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở nước ta là quá trình vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để có mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện Việt Nam và hội nhập quốc tế.

   Khái niệm nền KTTT định hướng XHCN được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001). Đại hội IX xác định: “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”. Với mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất để từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, nâng cao đời sống của nhân dân và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

   Nhận thức về mô hình KTTT định hướng XHCN dần được sáng tỏ, được phát triển cả về lý luận và thực tiễn qua Đại hội X của Đảng. Đặc biệt là quan điểm về tính định hướng XHCN trong nền KTTT ở nước ta là: “Thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”; Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn”, đó là kim chỉ nam cho sự phát triển mô hình có tính đặc thù mà trong lịch sử chưa có tiền lệ.

   Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền KTTT định hướng XHCN: “Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”(3).

   Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đưa ra khái niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN về cả nội hàm, mục tiêu và cách thức thực hiện: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

   Đại hội XII đã có bước phát triển mới rõ nét, khẳng định trong giai đoạn hiện nay, cần thống nhất nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam: “Có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

   Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”.

   Tiếp tục làm rõ hơn, Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

   Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

   Đảng xác định mục tiêu xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là: “Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn”.

   Về mục tiêu cụ thể, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

   Trong Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng cũng yêu cầu “ hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển KTTT định hướng XHCN”, nhưng với nội dung và mục đích mới. Nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế nhằm “nâng cao hiệu lực” quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước về kinh tế, thì Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”. Đây là một cách tiếp cận vấn đề rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững./.