Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Sáng 7/11, ca Covid-19 cộng đồng tăng tại nhiều địa phương

          Hà Nội có 11 ổ dịch. Nghệ An, phát hiện 8 ca Covid-19 cộng đồng. Hà Tĩnh ghi nhận 13 ca cộng đồng, liên quan đến một quán lẩu nướng. Nhiều tỉnh miền Tây ca cộng đồng tăng cao.

11 ổ dịch mới tại Hà Nội

Trong ngày 6/11, Hà Nội phát hiện 93 ca dương tính SARS-CoV-2, trong đó có 54 ca cộng đồng. Thủ đô cũng  phát hiện ổ dịch mới tại Yên Xá, Tân Triều. Ca bệnh chỉ điểm là bệnh nhân Đ.V.M., địa chỉ tại Yên Xá, Tân Triều. 

Trước đó, Hà Nội đã có 10 ổ dịch trải khắp các quận huyện trên địa bàn thành phố.

Hà Nam ghi nhận 18 F0

Trong ngày 6/11 trên địa bàn tỉnh Hà Nam ghi nhận 18 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 đã được Bộ Y tế gắn mã bệnh, 8 bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh và xuất viện.

Nam Định phát hiện thêm 18 F0

Ngày 6/11 toàn tỉnh Nam Định phát hiện thêm 18 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, trong đó có 17 ca trong khu cách ly, phong tỏa. Một ca bệnh phát hiện trong cộng đồng mới chưa được cấp mã.

Thái Bình một ca dương tính trở về từ tỉnh phía Nam

Tính đến 20h20 ngày 6/11, tỉnh Thái Bình ghi nhận một trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 mới tại khu cách ly tập trung huyện Hưng Hà là công dân trở về từ vùng dịch phía Nam.

Thanh Hóa: Thêm 48 F0 đều đã cách ly từ trước

Trong 24h qua, Thanh Hóa ghi nhận 48 ca mắc Covid-19, trong đó có 35 trường hợp lây nhiễm trong tỉnh, còn lại là những trường hợp trở về từ các tỉnh, thành khác.

Nghệ An: 50 F0, ca cộng đồng xuất hiện ở 3 huyện

Trong ngày, tỉnh Nghệ An ghi nhận tổng cộng 50 ca mắc Covid-19 mới.

Các ca cộng đồng được phát hiện tại Nghi Lộc (5 ca), Quỳ Châu (2 ca) và Hưng Nguyên (một ca). Ca cộng đồng tại huyện Hưng Nguyên là một nữ công nhân 28 tuổi, sống trong khu ký túc xá có quy mô hàng nghìn chỗ ở của công ty thuộc Khu công nghiệp Vsip Nghệ An.

Trong ngày, địa phương này có 42 bệnh nhân Covid-19 được xuất viện.

    Quảng Bình: 12 ca mắc mới

Trong ngày 6/11, Quảng Bình ghi nhận 12 ca mắc mới, trong đó 7 trường hợp trong khu cách ly, 5 người về từ vùng dịch.

    Quảng Trị:  Thêm 4 người về từ phía Nam mắc Covid-19

Ngày 6/11, tỉnh Quảng Trị ghi nhận 4 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, là người về từ phía Nam. Trong ngày địa phương này có 9 bệnh nhân Covid-19 được xuất viện.

    F0 tại Cần Thơ giảm, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp tiếp tục tăng

Trong ngày 6/11, số ca mắc Covid-19 tại An Giang vẫn lập "đỉnh" F0, Bạc Liêu, Đồng Tháp... tăng so với ngày hôm qua; Sóc Trăng số ca mắc đi ngang; Cần Thơ giảm khá sâu.

    Cụ thể, Cần Thơ ghi nhận 181 ca nhiễm SARS-CoV-2 mới, giảm 172 ca so với ngày hôm qua. 

    Tại An Giang, trong ngày địa phương này ghi nhận 427 trường hợp. 

   Trong ngày, các địa phương ghi nhận nhiều trường hợp mắc Covid-19, như: huyện Chợ Mới (64 trường hợp), huyện Tri Tôn (86 trường hợp), huyện Tịnh Biên (56 trường hợp), TP Long Xuyên (78 trường hợp)… 

    Cùng ngày, Kiên Giang phát hiện 398 F0 trong đó có 77 ca cộng đồng, 104 ca trong khu cách ly, 217 ca trong khu phong tỏa. 

    Theo thông tin từ Sở Y tế Sóc Trăng, ngày 6/11, tỉnh này ghi nhận 289 trường hợp mắc mới Covid-19; trong đó có 97 trường hợp là F1 chuyển thành F0, 19 trường hợp về từ vùng dịch, tất cả đã được quản lý trước đó; 96 trường hợp phát hiện qua sàng lọc tại cộng đồng; 77 trường hợp phát hiện trong khu vực phong tỏa. 

    Trong 24 giờ qua, Bạc Liêu có 265 trường hợp có kết quả RT-PCR khẳng định dương tính với vi rút SARS-CoV-2. Trong đó có 72 trường hợp dương tính ghi nhận tại cộng đồng, tăng 18 trường hợp so với ngày 5/11.

    Cùng ngày, tỉnh Tiền Giang ghi nhận 229 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 37 ca trong cộng đồng, 191 ca trong khu cách ly và 1 ca trong khu phong tỏa. 

    Trong ngày 6/11, Đồng Tháp có 198 ca mắc Covid-19 mới (tăng 32 ca so với hôm qua), trong đó có 36 ca cộng đồng. 

    Trong ngày, tỉnh Vĩnh Long ghi nhận 97 trường hợp nhiễm SARS-CoV-2. 

    Trong ngày, Trà Vinh ghi nhận 73 ca mắc mới, gồm 49 ca cộng đồng, 13 ca trong khu cách ly, 11 ca là người ngoài tỉnh về. 

    Ngày 6/11, tỉnh Bến Tre ghi nhận có 67 ca mắc Covid-19. 

 

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA, THẾ MÀ ÔNG NÓI PHÁP KHÔNG XÂM LƯỢC NƯỚC TA MÀ MƯỢN ĐƯỜNG ĐÁNH TRUNG QUỐC CÓ ĐÚNG KHÔNG? HỠI ÔNG "SỬ GIA-LẬT SỬ"?

     Nhân việc Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm chính thức Cộng hòa Pháp. Tôi đăng lại vấn đề lật sử này cho mọi người đọc.

--------------------------------------

PHÁP KHÔNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM?!

Pháp không xâm lược VN, đó là lời khẳng định của Cử nhân sử học Dương Trung Quốc(DTQ) cách đây 3 năm trong cuộc Hội thảo trá hình về lịch sử nhân ngày Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến xâm lược VN.

Tại sao? Pháp lại "mượn đường" đến cả gần trăm năm chẳng thấy đánh Trung Quốc mà toàn thấy bắt dân đi phu đào mỏ, xây dựng đồn điền, khai thác tài nguyên và đưa quân đồn trú, giương súng đàn áp người Việt Nam...?

Tại sao? "Pháp chỉ mượn đường Việt Nam đánh Trung Quốc" mà nổ súng tấn công Đà Nẵng, sau đó đánh chiếm khắp nơi buộc nhà Nguyễn bạc nhược đầu hàng dâng 6 tỉnh miền Nam Việt Nam cho Pháp, sau cùng đặt sự đô hộ lên toàn Việt Nam.

Tại sao? "Pháp chỉ mượn đường Việt Nam đánh Trung Quốc" vậy hà cớ gì Thực dân lại đàn áp người Việt yêu nước, để dân tộc này phải tốn bao máu xương để trường kỳ kháng chiến mới đuổi được Thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi, sau gần 100 năm mượn đường đánh Trung Quốc?


Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét việc Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, cho các sĩ quan Pháp làm quan trong triều đình đã để lại tai họa cho đất nước:

“...đúng là sĩ quan Pháp đã giúp nhiều cho Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn. Cho nên trong triều đình Huế, đến khi Gia Long lên ngôi, vẫn còn thấy mấy quan đại thần mắt xanh tóc đỏ. Khỏi phải nói trắng ra, các quan đại thần đó như Dayot, Chaigneau, Vannier… đều là tai mắt của Paris.


Còn Paris thì các nhà cầm quyền từ Đệ nhất Đế chế đến Đệ tam Cộng hòa đều không lúc nào quên Hiệp ước Versailles 1787. Paris luôn nhắc nhở Huế cái hiệp ước “trời cho” ấy bằng đường ngoại giao và bằng đại bác của chiến hạm bắn lên Đà Nẵng.


Cầu viện Pháp, Hiệp ước Versailles đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình Nguyễn.”


Sử học Phạm Văn Sơn nhận xét:

“Khi suy bĩ, Gia Long biết cầu cứu nước Pháp, đã mục kích được dã tâm đế quốc của liệt cường Tây Phương trước thời của ngài và cả trong thời ngài, vậy mà không tìm nổi một kế sách giữ nước cho khỏi "Bạch họa", chỉ biết "bế quan tỏa cảng", các triều đại kế tiếp cũng chẳng sáng suốt hơn, làm gì mà không mất nước.”

P/s: Việt Nam gác lại lịch sử để cùng tiến lên tương lai, không có nghĩa là Việt Nam chấp nhận quên đi hay lật sử!!!

Yêu nước ST.

THƯỢNG TƯỚNG PHÙNG THẾ TÀI - NHỮNG DẤU MỐC LỊCH SỬ

    Thượng tướng Phùng Thế Tài là một trong những tướng lĩnh tài ba, trụ cột của quân đội nhân dân Việt Nam. Sớm theo Đảng, theo Bác Hồ từ những ngày cách mạng còn trứng nước, ông luôn có mặt trên tuyến đầu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đảm đương nhiều cương vị quan trọng ở các thời khắc lịch sử và có những đóng góp nhất định.

   Cuộc đời ông là một tấm gương sáng của người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam. Từ người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ, theo lời dạy của Bác, với ý chí, nghị lực và tài năng của mình, ông từng bước trưởng thành, trở thành Thượng tướng quân đội nhân dân Việt Nam, một vị tướng bản lĩnh, giàu cá tính, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, luôn đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trên hết để hoàn thành nhiệm vụ.

   Phùng Thế Tài được phong quân hàm Thiếu tướng (năm 1974), Trung tướng (năm 1980), Thượng tướng (năm 1986). Ông được tặng thưởng các Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

   Nhìn nhận toàn bộ cuộc đời ông, thấy rất rõ sự hội tụ đầy đủ các phẩm chất đáng quý nhất của lớp cán bộ, chiến sĩ đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và chiến thắng. Thượng tướng Phùng Thế Tài là một vị tướng độc đáo, một nhà quân sự tài năng, một trong những học trò trưởng thành nổi trội về năng lực quân sự của Bác Hồ. Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng tự hào có những vị tướng như ông.

ĐẾN VỚI CÁCH MẠNG

   Phùng Thế Tài tên thật là Phùng Văn Thụ, sinh năm 1920 tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Nhà nghèo, thuở nhỏ lưu lạc sang tận Vân Nam - Trung Quốc kiếm sống. Năm 1933, khi mới 13 tuổi ông làm giúp việc cho một nhà giàu ở thị trấn Chỉ Thôn tỉnh Vân Nam. Vốn là người có cá tính đặc biệt lại thông thạo võ nghệ, trong lúc phải bênh vực kẻ yếu, ông đã đánh lại lũ con chủ nhà rồi bỏ lên Côn Minh - thủ phủ tỉnh Vân Nam. Đang lúc đói rét chưa xin được việc làm, phải lang thang ở công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh, bỗng có một người đàn ông tới nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu mà đến đây?”. Thấy người đó nói tiếng Việt đàng hoàng, đáng tin cậy, Phùng Thế Tài kể hoàn cảnh của mình.

   Qua trò chuyện, người đàn ông đưa cậu thiếu niên Phùng Thế Tài về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường ở Côn Minh giao cho làm một số việc của hãng. Người đàn ông đó chính là đồng chí Vũ Anh với bí danh Trịnh Đông Hải. Thời gian này, đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc xây dựng cơ sở trong công nhân lao động người Việt. Qua thời gian thử thách, năm 1936, Phùng Thế Tài được vận động và tham gia tổ chức cách mạng tại đây.

   Thấy rõ năng lực, chí hướng của Phùng Thế Tài, năm 1939, đồng chí Vũ Anh và các đồng chí trong tổ chức đã kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, Phùng Thế Tài được tổ chức cử đi học ở trường Sĩ quan Hoàng Phố, ông tốt nghiệp với quân hàm Trung úy.

   THAM GIA BẢO VỆ BÁC HỒ

   Cách đây hơn 80 năm, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 30 năm bôn ba nước ngoài đã đặt bước chân đầu tiên trở về với Tổ quốc. Nơi đón Người trở về là mảnh đất bên cột mốc 108 cũ trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Mảnh đất địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc nay thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Thời khắc thiêng liêng ấy đã trở thành cột mốc lịch sử, đánh dấu sự mở đầu cho trang sử mới của cách mạng Việt Nam.

    Bảo vệ Bác Hồ về nước có một người thanh niên họ Phùng, người cận vệ trung thành đã từng làm công tác bảo vệ Người từ năm 1940. Đó là Phùng Thế Tài, người sau này đã rất gắn bó với Bác Hồ trong các bước đường trưởng thành của mình.

   Từ trước đó, năm 1940, tổ chức phân công Phùng Thế Tài làm công tác bảo vệ cho Bác Hồ thời gian Bác ở Côn Minh. Khi ấy Bác lấy bí danh là Trần. Trong khoảng thời gian làm công tác bảo vệ Bác Hồ, trò chuyện với Bác tuy không nhiều, phần lớn bằng tiếng Trung Quốc, nhưng Phùng Thế Tài đã thấy được nhiều vấn đề, đã có chuyển biến lớn về nhận thức trong các nhiệm vụ cách mạng. Điều này đã như một bước ngoặt để Phùng Thế Tài trưởng thành sau này.

   Năm 1941, Phùng Thế Tài bảo vệ Bác Hồ về nước. Đây là một chuyến đi gian khổ, không ít hiểm nguy nhưng bằng tài trí của Bác cùng sự trung thành, mưu trí của các chiến sĩ cận vệ, Bác Hồ về cột mốc 108 an toàn. Bao nhiêu năm xa đất nước, cảm xúc thật khó nói bằng lời. Bác cúi xuống ôm hôn nắm đất thiêng liêng.

   Năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách chuyển vũ khí từ Trung Quốc về nước. Phùng Thế Tài được đồng chí Vũ Anh giao nhiệm vụ ở lại Pắc Bó làm nhiệm vụ bảo vệ “Ké Thu” - bí danh khi ấy của Bác Hồ. Thời điểm này cuộc sống của “Ké Thu” và tổ bảo vệ thiếu thốn trăm bề. Anh em thương Bác luôn ốm yếu nên thay nhau đào củ rừng, mò cua, bắt cá và ưu tiên dành gạo để nấu riêng cho Bác.

   Bác Hồ dứt khoát không cho làm như thế. Bác bảo với Phùng Thế Tài và các đồng chí bảo vệ: “Các chú chịu được Bác cũng chịu được. Cách mạng còn nhiều khó khăn càng phải đồng cam cộng khổ”. Chính những điều giản dị ấy của Bác Hồ đã đi theo suốt cuộc đời của Phùng Thế Tài.

   RA MẶT TRẬN

   Đầu năm 1945, Phùng Thế Tài báo cáo xin Bác cho được đi chiến đấu trực tiếp. Bác đồng ý. Bác nhất trí cho Phùng Thế Tài làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội Giải phóng quân Thất Khê. Hôm tiễn Phùng Thế Tài đi nhận nhiệm vụ mới, Bác dặn: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu”.”

   Lắng nghe lời dặn của Bác, Phùng Thế Tài tham gia giành chính quyền tại Thất Khê, tháng 8 năm 1945. Tại nơi đây, trên cương vị Tiểu đội trưởng Giải phóng quân Thất Khê, ông đã cùng với quân dân địa phương giành chính quyền thắng lợi, mau chóng bắt tay vào việc ổn định đời sống của nhân dân.

   Sau khi giành chính quyền tại Lạng Sơn thành công, Phùng Thế Tài được cử làm Ủy viên Quân sự Việt Minh tại Lạng Sơn kiêm Chi đội phó Chi đội Lạng Sơn.

   Những ngày đầu mới giành được chính quyền, công tác quân sự mang nhiều trọng trách mà việc hàng đầu là tham gia củng cố chính quyền nhân dân, tạo niềm tin cho nhân dân vào chính quyền Việt Minh để có những bước chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ gian khổ sau này. Đó cũng là phương châm hành động của Chi đội Lạng Sơn trong những ngày xây dựng chính quyền non trẻ.

   Đầu năm 1947, Phùng Thế Tài được cấp trên điều từ Lạng Sơn về mặt trận Hà Nội làm Ủy viên Quân sự trong Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 37. Điều này cho thấy cấp trên luôn tin tưởng vào năng lực chỉ huy đa dạng của Phùng Thế Tài.

   Trên cương vị mới, Phùng Thế Tài chỉ huy bộ đội tập kích vào thị xã Hà Đông khiến địch vô cùng khiếp sợ. Giặc Pháp cho rằng ta không còn bộ đội chủ lực và cũng không đủ sức tập kích vào thị xã. Trận tập kích gây tiếng vang lớn đã tạo cho bộ đội ta có kinh nghiệm tập kích địch trong thành phố và cho Trung đoàn trưởng Phùng Thế Tài sự quả đoán, quyết thắng, đánh địch trong lòng địch, đánh địch để dân tin, đánh địch để trưởng thành.

   Năm 1950, Phùng Thế Tài được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội. Tiếp đó nhận mệnh lệnh từ cấp trên chỉ huy bộ đội tập kích sân bay Bạch Mai. Ta đốt phá, tiêu hủy 25 máy bay, các kho tàng, 60 vạn lít xăng dầu, 32 tấn vũ khí trang bị của thực dân Pháp làm chấn động cả Thủ đô Pa-ri. Từ trận thắng này đã nâng cao khí thế bộ đội ta, gây hoang mang cho địch ngay trong sào huyệt của chúng. Trận thắng thể hiện tài chỉ huy táo bạo, quả cảm của Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Phùng Thế Tài.

   Phùng Thế Tài tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Tham mưu trưởng Đại đoàn 320.

   Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Niềm vui vô bờ bến của nhân dân, của người chiến sĩ trong đó có Phùng Thế Tài.

CHỈ HUY “BỘ ĐỘI PHÁO BINH, PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN”

   Năm 1958, Phùng Thế Tài được phong quân hàm Thượng tá. Ông đảm đương nhiều cương vị quan trọng của bộ đội Pháo binh: Từ tháng 11 năm 1961 đến tháng 11 năm 1962, Phùng Thế Tài giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh. Thời gian này, ông cùng với bộ đội Pháo binh nghiên cứu nhiều cách đánh địch, nhất là cách bắn máy bay, tàu chiến Mỹ.

   Khi ở Điện Biên Phủ, pháo phòng không của ta đã chiến đấu kiên cường, bắn rơi nhiều máy bay địch nhưng đó là không gian hẹp, bắt buộc địch phải lao vào trận địa của ta. Đánh Mỹ sau này rất khác. Chiến trường rộng lớn. Máy bay, tàu chiến, thiết xa vận của Mỹ có nhiều lợi thế trong đó yếu tố hiện đại, vượt trội về kỹ thuật rất rõ ràng. Phải chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ trên chiến trường, trên không, trên biển là một bài toán khó. Những câu hỏi đó luôn nung nấu trong đầu Phùng Thế Tài trên cương vị chỉ huy bộ đội Pháo binh.

   Nhận rõ tình hình diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh và bản chất hiếu chiến của Mỹ, Bác Hồ chỉ thị thành lập Binh chủng Phòng không. Tháng 12 năm 1962, Phùng Thế Tài được bổ nhiệm là Tư lệnh Binh chủng Phòng không. Binh chủng Phòng không được thành lập đã cho thấy sự nhìn xa trông rộng của Đảng ta, Quân đội ta trong việc quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quân đội ta phải đánh giặc và phải thắng giặc ở trên không. Đó là mệnh lệnh mà Đảng, Bác Hồ giao cho bộ đội Phòng không.

   Nhận thức rõ Quân đội ta phải lớn mạnh về mọi mặt để đánh và thắng Mỹ, Bác Hồ chỉ thị thành lập Quân chủng Phòng không - Không quân trên cơ sở hợp nhất Binh chủng Phòng không và Cục Không quân. Ngày 22 tháng 10 năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập, Phùng Thế Tài được cử giữ chức Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng.

   Đầu năm 1968, Bác Hồ gọi Phùng Thế Tài, lúc đó trên cương vị Phó tổng Tham mưu trưởng, đồng chí Đặng Tính - Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân lên hỏi tình hình. Lúc này Bác không được khỏe. Ngay phút đầu tiên Người đã hỏi về B-52. Nét mặt Bác trở nên đăm chiêu: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Phải dự kiến tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

   CHIẾN DỊCH “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG LỊCH SỬ”

   Chiều ngày 18 tháng 12 năm 1972, tin từ Cục 2 báo cáo Bộ tổng Tham mưu Mỹ sẽ tập kích B-52 vào Hà Nội vào 18 giờ tối. Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài điện từ hầm chỉ huy tác chiến của Bộ tổng Tham mưu hỏi lại: “B-52 đến đâu rồi? Phải nắm cho thật chắc. Nó bay theo hướng nào phải báo cáo ngay”. Đồng chí Mạc Lâm, trực ban Cục 2 trả lời: “Vâng thưa anh, chúng tôi đang bám sát”. Phùng Thế Tài nói vui: “Tối nay, bộ đội ta bắn rơi B-52 thì Bộ sẽ thưởng Cục 2 một tấn lương khô và một con bò mộng”. Đồng chí Anh Lân, cán bộ Cục 2 vui mừng nói với anh em lời hứa của thủ trưởng Bộ tổng Tham mưu. Mới thấy rằng, cả những khi căng thẳng và quyết liệt nhất trong trận đấu trí đấu sức với giặc Mỹ, cán bộ chiến sĩ ta vẫn hết sức lạc quan.

   Trinh sát Cục 2 bám sát B-52 từng phút và báo cáo với Bộ tổng Tham mưu: “Có tín hiệu đặc biệt, B-52 gần đến đất liền”. Cục tác chiến thông báo: “Đã xuất hiện trên màn ra đa B-52”. Từng hồi còi báo động vang lên liên tục trong thành phố Hà Nội. Tại hầm chỉ huy tác chiến Bộ tổng Tham mưu, các thông báo được truyền đi liên tục xuống các đơn vị Phòng không - Không quân. Bộ đội ta đã sẵn sàng cho trận đánh lớn. 19 giờ 15 phút, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, Cục trưởng Cục tác chiến Vũ Lăng có mặt tại Sở chỉ huy “Tổng hành dinh” cùng cán bộ chiến sĩ trong kíp trực bước vào trận đánh lớn với không quân Mỹ.

   Cả thành phố Hà Nội vào trận. Các trận địa phòng không đều bắt được mục tiêu B-52. Tiếng bom ầm ầm dội đất bốn phía. Tiếng đạn pháo phòng không động trời, tiếng lao vun vút của tên lửa ta xé màn đêm đánh B-52 trên bầu trời Hà Nội. Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài trực tiếp cầm máy ra mệnh lệnh cho Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân và các đơn vị đang đánh B-52. Không quân ta cất cánh. Mọi căm hờn đều trút lên đầu ngọn súng. Trên đài quan sát đặt trên đỉnh cột cờ báo về; Trực ban Quân chủng Phòng không - Không quân thông báo gấp gáp: Một B-52 bắn rơi ở Đông Anh, lúc đó là 20 giờ 30 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972.

   Trận đánh B-52 đêm ngày 18 rạng ngày 19 tháng 12 năm 1972 kết thúc. Địch sử dụng 400 lần chiếc máy bay chiến thuật và 90 lần B-52 đánh hơn 100 điểm khu dân cư, chúng ném xuống khoảng trên 6.000 quả bom làm chết 300 người. Ta bắn rơi 3 máy bay B-52, 5 máy bay phản lực, bắt sống 7 phi công Mỹ.

   Rạng sáng ngày 19, Phùng Thế Tài lên máy bay trực thăng cùng đoàn kiểm tra đến thẳng cánh đồng Chuông thuộc xã Phù Lỗ huyện Đông Anh bên xác chiếc máy bay B-52 nằm chềnh ềnh. Xác siêu pháo đài bay B-52 - thứ vũ khí Mỹ vẫn khoe khoang là siêu đẳng nằm tả tơi trên một đám ruộng. Ông cùng đoàn công tác cho cưa một đoạn xác B-52 rồi lập tức trở về Tổng hành dinh tiếp tục cho trận đánh lớn.

   Đêm 20 rạng ngày 21 - 12 bộ đội tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội đã thực hiện trận đánh xuất sắc, chỉ 35 quả đạn bắn rơi 7 chiếc B- 52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội đánh tốt, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân. Đại tướng nói: “Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội”.

   Bộ đội Phòng không - Không quân trong 12 ngày đêm đã chiến đấu ngoan cường, mưu trí, dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ khiến nước Mỹ hoảng loạn. 7 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972, Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra Bắc và ngồi vào bàn đàm phán tại Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

   Trong 12 ngày đêm chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B- 52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

   Đúng như Bác Hồ đã tiên đoán, đế quốc Mỹ đã sử dụng máy bay B-52 và đã thất bại thảm hại trên bầu trời Hà Nội. Trong chiến thắng lịch sử, Người cận vệ của Bác Hồ đã góp một phần công sức. Phùng Thế Tài luôn tự nhủ: Giá như có Bác Hồ. Giá như Bác còn sống để mừng vui chiến thắng.

   MÁI ẤM GIA ĐÌNH NGƯỜI LÍNH

   Gia đình Thượng tướng Phùng Thế Tài trong chiến tranh, hòa bình luôn là một gia đình mẫu mực. Bà Bùi Thị Yến, người vợ tấm cám của vị tướng cũng vừa theo ông về thế giới của người hiền. Có thể nói, Phùng Thế Tài được như ngày nay người vợ hiền của ông đóng góp nhiều công sức lắm. Vốn là cán bộ ngành lương thực, lại là vợ của vị tướng đảm đương nhiều trọng trách, chưa bao giờ bà than phiền với ông về những khó khăn mà luôn lặng lẽ nuôi dạy năm người con trưởng thành. Đầu năm 2005, ông lặng lẽ cùng bà vào sống với người con út trong khu chung cư nhỏ nơi tầng cao ở Sài Gòn. Bà cũng như ông, chưa bao giờ đòi hỏi một cái gì về vật chất cho mình, cho gia đình, cho con cái. Ông bà mang tố chất của người hiền cũng là chịu sự ảnh hưởng của một nhân cách vĩ đại - Hồ Chí Minh từ những ngày Phùng Thế Tài còn là cận vệ cho Người.

   Ảnh hưởng của người cha, vị tướng Phùng Thế Tài với bước đường trưởng thành của các con cũng giản dị tự nhiên như chính cuộc đời ông. Ông bà sinh được năm người con: Phùng Thanh Đà, Phùng Thế Quảng, Phùng Thanh Ngọc, Phùng Thanh Lý, Phùng Thế Tám. Các con ông đều đã trưởng thành. Noi gương cha mẹ ai cũng chịu thương chịu khó lam làm, học hành, đặc biệt là tấm lòng luôn rộng mở với mọi người và chưa bao giờ dựa dẫm vào những thứ không phải của mình.

   Âu cũng là nét gia phong của tổ tông gia đình ông vậy.

   Hôm nay, khi đất nước đã sang trang sử mới, Thượng tướng Phùng Thế Tài cũng đã về với thế giới của người hiền. Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng đã đi xa nhưng Bác còn để lại bao lời dạy thiết thực. Bác từng nói: “Ngày trước, ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển, bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải giữ gìn lấy nó”. Ngẫm lời Bác dạy, suy nghĩ những bước trưởng thành của các học trò của Bác trong đó có Thượng tướng Phùng Thế Tài, chúng ta càng thấy rõ một điều, trọng trách bảo vệ vững chắc vùng biển, vùng trời Việt Nam trong bối cảnh quốc tế và khu vực đầy biến động, nhiều thách thức là một vấn đề lớn cần sự tâm huyết, tài trí và trên hết là sự đoàn kết thống nhất để quân đội ta mãi mãi là tường đồng vách sắt bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân./.



Yêu nước ST.

TỔNG THỐNG NGA VLADIMIR PUTIN: NHỮNG BÀI HỌC THÁNG MƯỜI!

     Không có gì bất biến, đặc biệt là thực tế xã hội và chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng, dù trở thành người đứng đầu nước Nga hơn 20 năm nay, Vladimir Putin vẫn không quên những nhân tố tích cực mà ông đã được thừa hưởng trong chế độ Xô viết. Và Tổng thống Nga đã càng ngày càng cố gắng nhìn nhận, đánh giá thấu đáo hơn những di sản vật chất, tinh thần mà Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 để lại. Ông hy vọng rằng, “những bài học Tháng Mười” sẽ ngày một hữu ích cho con đường phát triển hiện tại của nước Nga.


Đạt lý, phải thấu tình

Thực tế cho thấy, Vladimir Putin là người rất biết thích ứng với thời cuộc, nhưng cho tới hôm nay vẫn giữ nguyên được trong mình hệ thống tiêu chí tinh thần và đạo đức đã tự chọn lựa từ thuở thiếu thời. Ông không bao giờ giấu giếm thái độ chung thủy một cách tỉnh táo và hợp lý của mình đối với Tổ quốc Xô viết từng nuôi ông khôn lớn. “Ai không tiếc vì sự đổ vỡ của Liên bang Xô viết, người ấy không có trái tim; còn ai muốn tái lập nó giống y như cũ, người ấy không có khối óc”, ngay từ khi mới chỉ tạm thời được giao Quyền Tổng thống Liên bang (LB) Nga hơn hai thập niên trước, Vladimir Putin đã tuyên bố thẳng thắn như vậy (trích dẫn theo Báo Văn học, xuất bản ở Moscow, số 7, ra trong tuần từ ngày 16 đến 22-2-2000). Ông cũng từng nói trên các kênh truyền hình ở Nga khi người ta hỏi ông về lý do khiến ông kiên quyết ủng hộ việc sử dụng phần nhạc của Quốc ca Liên Xô vào trong bản Quốc ca mới của LB Nga: “Nếu chúng ta xóa bỏ mọi điều đã có từ trước và sau tháng 10-1917, thì có nghĩa là chúng ta đã công nhận rằng, cha ông chúng ta đã sống một cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa lý. Bằng cả trái tim và trí tuệ, tôi không thể nào đồng ý như thế được”. Nói theo cách của người Nga, ông không “láu cá với lương tâm” vì ông biết, đó không chỉ là suy nghĩ riêng của ông mà còn là tâm trạng chung của một bộ phận không nhỏ người dân Nga.

Phát biểu trong phiên họp của Câu lạc bộ thảo luận quốc tế Valdai tại Sochi ngày 21-10-2021, trước các nhà phân tích chính trị đến từ nhiều quốc gia, ông Putin đã nhấn mạnh rằng, tất nhiên, những người ở thế hệ như ông vẫn nhớ những vấn đề đã vấp phải trong giai đoạn đó, nhưng cũng không bao giờ quên những điều tích cực đã được thừa hưởng: “Tôi xuất thân từ một gia đình công nhân nhưng đã được tốt nghiệp đại học tổng hợp, được nhận một học vấn tốt ở Trường Đại học quốc gia Leningrad. Chẳng lẽ đó là ít ư? Thời đó, học vấn được coi và thật sự đã có tác động như một thang máy xã hội thực tế... Cha mẹ tôi đều là những người bình thường, họ không nói bằng những câu khẩu hiệu. Nhưng tôi nhớ rất rõ là, ngay cả khi ở trong nhà, trong điều kiện gia đình, sinh hoạt bình thường, khi thảo luận về vấn đề này hay vấn đề kia, họ luôn luôn, tôi xin nhấn mạnh, cách này hay cách khác, theo kiểu giản dị, dân dã, bày tỏ sự tôn trọng đối với Tổ quốc mình. Đó không phải là một chủ nghĩa ái quốc trình diễn, đó đã là những tình cảm thực trong gia đình chúng tôi”.

Tổng thống Nga cũng thẳng thắn chỉ ra: “Tôi nghĩ rằng tôi có quyền nói là những phẩm chất tích cực đã được đề cao trong đại bộ phận nhân dân Nga và các dân tộc khác của LB Xô viết. Không ngẫu nhiên mà ngay trước khi Liên Xô tan rã đã có tới hơn 70% người dân bỏ phiếu ủng hộ việc duy trì LB Xô viết. Nhiều người ở các nước cộng hòa liên bang giành được độc lập đã thực sự, chân thành tiếc nuối về những việc đã xảy ra”. Song ông Putin cũng tỉnh táo kết luận: “Nhưng bây giờ là một cuộc sống khác và chúng tôi xuất phát từ quan điểm là, nó đang phát triển như nó có và về mặt nguyên tắc, chúng tôi chấp nhận những thực tế đương đại...”.


Những bài học cũ và mới

Thực sự thì thế giới đã trở nên bất định hơn nhiều sau khi LB Xô viết tan rã. Và những kinh nghiệm quan trọng mới và cũ có thể rút ra được từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 luôn luôn cần được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc trên cơ sở những tài liệu còn lưu lại và bối cảnh lịch sử đã hình thành trong quá khứ. Còn nhớ, trong dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, ngày 5-11-2017, Tổng thống Putin trong cuộc gặp các nhà khoa học và giảng viên trẻ ở viện bảo tàng lịch sử đương đại đã nhận định: Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cần “một sự đánh giá chuyên môn sâu sắc và khách quan”. Ông nói thêm, rất tiếc là đã xảy ra nhiều sự kiện nặng nề và đẫm máu, nhưng đó là những gì mà đất nước Nga đã trải qua và thế hệ hôm nay cần phải biết tới. Trước đó, ngày 30-10-2017, Tổng thống Putin đã tuyên bố, trong phiên họp của Hội đồng Phát triển xã hội dân sự và nhân quyền, dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười sẽ được xã hội Nga đón nhận như một biểu tượng của sự vượt qua chia rẽ. Ông nhấn mạnh: “Tôi hy vọng rằng, ngày đó sẽ được xã hội chúng ta tiếp nhận như một sự đánh dấu hết những sự kiện bi thảm từng chia cắt đất nước và nhân dân, trở thành biểu tượng của quá trình vượt qua sự chia cắt đó, của sự tha thứ lẫn nhau và chấp nhận lịch sử đất nước như nó thực có, với những chiến thắng vĩ đại và những trang bi thảm”.

Ngày 19-11-2017, cũng tại phiên họp của Câu lạc bộ thảo luận quốc tế Valdai tại Sochi, Tổng thống Putin đã cho rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 tạo ra cho phương Tây nhiều ưu thế vì họ đã phải tự cố gắng vượt lên chính bản thân mình trong nhiều lĩnh vực, trước thách thức to lớn tới từ đất nước Xô viết. Theo ông, “cách mạng, đó luôn luôn là hệ quả của sự thiếu trách nhiệm của những ai muốn làm ngưng đọng, đóng băng cái trật tự đã lỗi thời của sự vật đang rõ ràng cần thay đổi và của cả những người cố sức thúc đẩy những thay đổi, không dừng lại ngay cả trước những mâu thuẫn công dân và sự đối đầu mang tính phá hủy”. Và dù lịch sử không thể làm lại được, nhưng Tổng thống Nga trong dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn đặt ra câu hỏi: Liệu sau này thế giới có thể phát triển được trên cơ sở tiến hóa để đỡ đi những xương máu phải đổ ra?... Có vẻ như ở giai đoạn hiện nay, ông Putin nghiêng về quan điểm cho rằng, những chấn động xã hội dẫn đến bạo động để thay đổi thể chế thường không phải là con đường giúp thoát khỏi khủng hoảng cùng cực mà chỉ là sự khủng hoảng gia tăng. Ông muốn thay đổi xã hội bằng những cải cách.

Cũng có thể thấy rằng, trong các bài viết hay phát biểu những năm gần đây, ông Putin không bao giờ quên rằng, những người đứng ở khởi nguồn Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tạo ra những tác động lớn lao đối với lịch sử nước Nga và thế giới. Nhìn từ góc độ này, có lẽ cách nói như của nhà văn, nhà báo Mỹ John Reed trong “Mười ngày rung chuyển thế giới” về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 tới nay vẫn không bị lỗi thời. Tuy nhiên, ông Putin cũng cho rằng, đã có những “quả mìn nổ chậm” được đặt vào nền móng của LB Xô viết ngay từ thời sơ khai do những tính toán chiến thuật và chiến lược còn chưa thấu đáo. Thí dụ, điều quy định trong hiến pháp về quyền tự do của các nước cộng hòa trong LB Xô viết được tùy ý rút ra khỏi một quốc gia thống nhất. Và đó cũng chính là nhân tố thúc đẩy quá trình tan rã LB Xô viết mau lẹ hơn sau hơn 70 năm tồn tại. Trong bài trả lời phỏng vấn báo Nga Krasnaya Zvezda ngày 13-7-2021, ông Putin đã lưu ý: “Tôi phải nói với các bạn rằng, khi LB Xô viết hình thành, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thì ngay trong ban lãnh đạo Bolshevik cũng đã có những quan điểm khác nhau về câu chuyện này. Và giữa Stalin, người phụ trách lĩnh vực này trong Đảng Bolshevik, cũng đã có những khác biệt nghiêm trọng đối với Lênin. Stalin đã bảo vệ quan điểm về tự trị, về nguyên tắc tự trị khi xây dựng LB Xô viết và cho rằng, tất cả các nước cộng hòa Xô viết còn lại, đã được lập ra trong không gian của đế chế Nga cũ, phải được nhập vào trong thành phần nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết LB Nga (RSFSR). Thế nhưng, Lênin lại có quan điểm khác. Lênin nói về quyền bình đẳng của tất cả các nước cộng hòa, không nhập vào trong thành phần của RSFSR, mà cùng với nó lập ra những quốc gia mới trong những điều kiện bình đẳng với nhau. Stalin gọi đó là chủ nghĩa tự do dân tộc và công khai tranh luận với Lênin. Cũng phải nói rằng, quan điểm của Lênin, nếu chúng ta đọc kỹ các tài liệu, là về nguyên tắc mà nói, Stalin có lẽ đúng, nhưng ở thời điểm ấy thì nói ra là hơi sớm quá. Và ông, như Stalin nói, đã nhượng bộ những người dân tộc chủ nghĩa. Chính bản thân Stalin cũng từng nói rằng, chủ nghĩa LB Nga, đó là giai đoạn chuyển tiếp tới chủ nghĩa trung tâm xã hội chủ nghĩa. Thực chất thì xét theo công việc, những người Bolshevik đã làm như thế vì LB Xô viết về hình thức đã là một quốc gia mang tính liên bang, nếu thậm chí không phải là mang tính liên minh với quyền được rút ra, nhưng về bản chất lại đã là một quốc gia mang tính tập quyền rất cao. Và vì thế nên quyền rút ra tất nhiên đã là một trong những “quả mìn nổ chậm...”.

Cũng theo ông Putin, “quả mìn nổ chậm” thứ hai là cơ chế liên bang đó chỉ phụ thuộc vào duy nhất vai trò bao trùm, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS). Ông Putin nhận xét, chính vì KPSS đã là sức mạnh duy nhất liên kết các nước cộng hòa trong LB Xô viết nên đảng bắt đầu suy sụp thì liên bang cũng đổ vỡ theo... Thực ra, nhận định như thế cũng chỉ là một cách nói ngược để cho thấy rõ hơn vai trò to lớn không gì sánh được của Đảng Cộng sản Liên Xô trong sự sống còn của LB Xô viết. Để mất đảng là mất luôn cả chế độ và tan rã luôn cả một siêu cường.../.

 Tổng thống Nga Vladimir Putin cùng các cựu chiến binh Nga trên Quảng trường Đỏ, ngày 9-5-2021. Ảnh: Kremli.com.

Yêu nước ST.


KHÔNG THỂ BỎ CỤM TỪ "NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN TRONG BỘ LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1954-1975" ĐƯỢC!"

ĐÔI ĐIỀU VỀ CỤM TỪ "NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN"

     Sắp đến kỷ niêm 47 năm ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975-30/4/2022 tôi xin có mấy điều nói về nên hay không nên bỏ cụm từ "Ngụy Quân, Ngụy Quyền".

Trước tiên xin khẳng định không thể bỏ được cụm từ "Ngụy Quân Ngụy Quyền". Tại sao tôi nói như vậy.

Thứ nhất tra từ điển tiếng Việt từ "Ngụy" có nghĩa là sự giả tạo, không có thật.

Chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam thực chất chống lại nhân dân Việt Nam tàn sát dân thường vô tội tội ác tầy trời trời không dung đất không tha. Mỹ đã dùng chính quyền Ngô Đình Diệm để chia cắt đất nước thành hai miền để thực hiện ý đồ biến Việt Nam thành bàn đạp tiến ra châu Á Thái Bình Dương do vị trí đắc địa của Việt Nam có thể tiến ra biển Đông, tuyến đường biển giao thông hàng hải quan trọng của thế giới giầu tài nguyên khoáng sản nhất là trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông mà Mỹ đã nhăm nhe từ lâu. Chính quyền tay sai Ngụy quân Ngụy quyền do Mỹ dựng lên hay còn gọi là Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho nhân dân Việt Nam cho nhân dân miền Nam mà nó chỉ là một chính quyền bù nhìn tay sai của đế quốc Mỹ.

Thứ hai không thể bỏ cụm từ "Ngụy Quân, Ngụy Quyền" là vì không thể coi Việt Nam cộng hòa như một chế độ nhà nước của miền Nam Việt Nam, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến của miền Bắc và miền Nam như Hàn Quốc với Triều Tiên. Không thể như vậy vì như đã nói ở trên cuộc chiến tranh Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giơ ne vơ 1954 đế quốc Mỹ nói đó là cuộc chiến tranh Việt Nam thì như nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã từng nói đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thống nhất hai miền Bắc Nam.

Hãy tôn trọng lịch sử dù chúng ta đã bình thường quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1997 khi Mỹ xóa bỏ bao vây cấm vận mở cửa cho Việt Nam hội nhập và phát triển với thế giới chúng ta bắt tay với Mỹ bỏ qua quá khứ chiến tranh để cùng phát triển có lợi cho cả hai bên nhưng chúng ta không thể quên chính Mỹ đã dải hàng ngàn tấn bom đạn trong chiến tranh ở Việt dải hàng trăm nghìn lít đi ô xin chất độc màu da cam hơn 1,2 triệu người Việt Nam chết, nỗi đau vẫn còn đó. Nhắc lại không phải để kích động gây thù hằn giữa hai nước mà để cho con cháu người Việt Nam chúng ta biết ông bà tổ tiên đã phải hy sinh phải chiến đấu như thế nào để có hòa bình độc lập tự chủ tự cường như hôm nay.

Chúng ta gác lại quá khứ nhưng phải tôn trọng lịch sử đừng để sự hy sinh của ông cha ta là vô ích. Đảng và nhà nước chủ trương hội nhập và phát triển kinh tế với tất cả các nước trên thế giới trong đó có Mỹ trên cơ sở hai bên đều có lợi, chúng ta khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngay cả với Mỹ.

Một lần nữa khẳng định không thể bỏ tư "Ngụy quân Ngụy Quyền" phải tôn trọng lịch sử đừng để sự hy sinh của ông cha ta là vô ích chẳng nhẽ bài thơ của Bác Hồ mọi người đã quên rồi sao...?

           " Năm qua thắng lợi vẻ vang.

             Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.  

             Vì độc lập vì tự do,

             Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào".

P/s:Ngụy thì mãi là Ngụy./.




Yêu nước ST.

Đằng sau lời kêu gọi từ bỏ điều 117, Bộ luật hình sự

 Các thế lực chống phá tìm cách đánh tráo bản chất các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó kêu gọi Nhà nước Việt Nam cần “huỷ bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự”

Pháp luật là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội loài người, phản ánh ý chí của Nhà nước, giai cấp thống trị. Sự xuất hiện của Nhà nước hay nói cách khác là giai cấp cầm quyền cũng chính là nguyên nhân cho sự ra đời của pháp luật, hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật dựa trên ý kiến tổng hợp, đóng góp của người dân, từ đó đưa ra các qui định chung điều chỉnh, quản lý xã hội. Như vậy, pháp luật ra đời gắn liền với lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của những người dân trong xã hội đó. Pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mang lại lợi ích chung cho toàn dân tộc. Thế nhưng, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số người dân, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước tìm cách tác động, hướng lái, tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ một số điều trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm thay đổi bản chất, giá trị; bình luận sai lệch một số điều luật và sự điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này. Điều 117, BLHS quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung từ Điều 88 BLHS năm 1999 với một số điểm mới về tên điều luật, nội dung điều luật theo hướng qui định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi khách quan của tội này. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLHS nói chung, Điều 88 của BLHS cũ nói riêng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, các mặt khách quan trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trước đó, Điều 88 BLHS năm 1999 cũng là điều luật mà các đối tượng chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, yêu cầu xóa bỏ. Sau khi điều luật này được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo Điều 117, BLHS 2015 thì các phần tử chống đối cũng không từ bỏ âm mưu, mà tiếp tục “bài ca” kêu gọi xóa bỏ nhằm đạt được âm mưu, ý đồ chống phá Nhà nước với mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Liên quan đến hoạt động kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, BLHS là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”.  Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS với nội dung qui kết rằng: “Điều 117  vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”. Đặc biệt, khi “nghe tin” phiên tòa xét xử các bị cáo Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang sắp diễn ra, số thành phần bất mãn, chống đối chính trị trong, ngoài nước lại tiếp tục kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS với luận điệu “Điều 117 là hạn chế và cản trở quyền công dân qui định tại điều 25 Hiến pháp…”. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các đối tượng chống phá Nhà nước không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xóa bỏ Điều 117, BLHS để đạt được các mục tiêu, ý đồ phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao các đối tượng phản động, chống phá lại kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS?

Kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, các đối tượng phản động, chống phá nhằm tác động trực tiếp đến nền tư pháp Việt Nam. Các lập luận, quan điểm xóa bỏ Điều 117, BLHS nhằm tạo ra kẽ hở về mặt pháp lý cho các phần tử phản động, chống phá có thời cơ để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Có thể nói rằng, muốn có cơ hội cho hoạt động tuyên truyền, tán phát các tài liệu chống phá Nhà nước mà không bị các cơ chế pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên các đối tượng cần phải kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS cũng là lý do để tuyên truyền, xuyên tạc, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, can thiệp vào quyền “tự do ngôn luận” nói lên tiếng nói của công dân. Các hoạt động kêu gọi xóa bỏ điều luật nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chống phá nhà nước tuyên truyền, can thiệp vào các lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội của Việt Nam trong vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những mục tiêu mà các đối tượng phản động, chống đối đặt ra là có thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, BLHS nói riêng, BLHS nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, BLHS đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, không thể cho rằng Điều 117, BLHS là “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, bởi lẽ trên thực tế ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ và đó cũng là quyền cơ bản của công dân theo qui định của Hiến pháp. Tuy nhiên, ở đây cần phải hiểu rằng, quyền tự do ngôn luận luôn gắn với nghĩa vụ của công dân, gắn với chế độ chính trị của từng quốc gia, do đó cần phải hiểu đúng các qui định về vấn đề này. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các giới hạn, quy định riêng về các quyền tự do ngôn luận để phù hợp với đặc thù của chế độ xã hội, tình hình chính trị, văn hóa của các quốc gia đó. Bàn về vấn đề này, năm 1993, Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna (Áo), đại diện các quốc gia đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”…

Các lập luận, viện dẫn các thông tin cho rằng Điều 117, BLHS “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” là hoàn toàn không có cơ sở, thiếu căn cứ để ràng buộc. Rõ ràng, đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống đối nhằm hướng đến mục đích, ý đồ xâm phạm an ninh quốc gia, đe dọa đến sự tồn tại của chế độ, của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Có phải Việt Nam kiểm soát thông tin trên INTERNET, mạng xã hội là vi phạm nhân quyền?

Theo luận điệu của một số thế lực thù địch cho rằng "Việt Nam kiểm soát thông tin trên Internet, mạng xã hội" là vi phạm quyền tự do của con người. Điều này, đã tác động không nhỏ đến một số người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin.

Vậy ta hãy xem các nước, kể cả Mỹ có phải kiểm soát người dùng Internet không. và người dùng ở các nước đó có thực sự tự do vô hạn độ khi đăng tin trên internet, mạng xã hội không?

Singapore đã thành lập một Ủy ban đặc biệt gồm 10 thành viên để nghiên cứu cách thức chống lại những đối tượng truyền bá thông tin sai lệch một cách cố ý có hiệu quả nhất, đặc biệt là trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý.

          Philippines, đích thân Tổng thống Rodrigo Duterte cũng đã có những hành động mạnh tay đối với những tờ báo thuộc sở hữu của nước ngoài cũng như các trang mạng xã hội trên Facebook, những tổ chức mà nhà lãnh đạo Philippines cho là chuyên phao và lan truyền tin giả chống lại chính quyền.

         Malaysia, vào tháng 4-2018, chính quyền nước này đã hình sự hóa tội tung tin giả trên mạng. Theo đó, các đối tượng cố ý tung tin giả có thể bị phạt tù tới 6 năm. Phạm vi áp dụng luật mới rất rộng, gồm cả ấn bản số và truyền thông xã hội. Đối tượng tung tin giả có thể sống tại Malaysia hoặc quốc gia khác, gồm cả người nước ngoài nếu hậu quả ảnh hưởng tới Malaysia hoặc công dân nước này.

          Chính phủ Thái Lan đã lập kế hoạch chi hơn 128 triệu Baht (tương đương 3 triệu USD) để trang bị công nghệ theo dõi mạng xã hội. Theo đó, hệ thống phân tích dữ liệu mạng xã hội sẽ theo dõi và lưu trữ tất cả dữ liệu trên mạng xã hội để phân tích và giám sát hàng triệu người.

          Trung Quốc thì không cho phép bất cứ mạng xã hội nào của nước ngoài được hoạt động, thay vào đó, Bắc Kinh hối thúc các công ty công nghệ của nước này sáng tạo và đưa vào sử dụng các mạng xã hội riêng vừa để kiểm soát an ninh mạng vừa coi đó là biện pháp hạn chế tin giả.

          Mỹ, dưới sức ép của chính quyền và dư luận, một số ông chủ các công nghệ lớn, điển hình là Mar Zu – ka-bớt của, Giám đốc điều hành của mạng xã hội lớn nhất hành tinh Facebook trong năm 2018 vừa qua cũng đã phải ra điều trần trước Quốc hội Mỹ, cam kết hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chức năng để điều tra về những chiến dịch tung tin giả từ nước ngoài trong đó có sử dụng dịch vụ quảng cáo có trả tiền và những dữ liệu người dùng mà Facebook đã cung cấp cho một công ty thứ 3 ở châu Âu trong chiến dịch tranh cử Tổng thống cuối năm 2016.

Tại Pháp, hãng thông tấn AFP đã ký một thỏa thuận kiểm chứng sự thật với Facebook để xác minh và vạch trần tin tức giả mạo được lan truyền trên mạng, theo đó các bài viết phải được đăng phát trên trang blog Fact Check của AFP trước khi được đăng lên Facebook cho người dùng…

Tại Nga: Tháng 3/2019, TT Nga ký Đạo luật nâng mức xử phạt đối với các hành vi phát tán tin giả, nâng mức phạt khoảng 1.600 USĐ đối với cá nhân; 3.200 USĐ đối với quan chức; với các tổ chức có thể phạt đến mức cao nhất 22.000 đô).

Một vài nét như vậy để chúng ta thấy, không có chuyện người dùng được tự do vô hạn độ, muốn phát ngôn gì cũng được trên môi trường mạng. Việc Việt Nam kiểm soát người dùng đăng tin trên Internet, mạng xã hội là đảm bảo một môi trường mạng lành mạnh, an toàn, tất cả vì sự phát triển, ổn định của đất nước, vì nhân dân.

Một vài nét về lực lượng, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

Theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng, để thực hiện mục tiêu “DBHB” đối với Việt Nam, được sự hậu thuẫn của Mỹ và một số nước phương Tây, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh các hoạt động nhen nhóm, xây dựng tổ chức lực lượng, kích động các cuộc biểu tình, xây dựng các kịch bản cho các “cuộc cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” nhằm lật đổ chế độ XHCN ở nước ta.

Chúng đã duy trì, sử dụng  63 Đài phát thanh chương trình Việt Ngữ, trên 400 báo, tạp chí, 88 nhà xuất bản tiếng Việt; hàng nghìn trang web, blog, mạng xã hội (trong đó có phát hiện 20 trang mạng blog, 02 kênh yotube, trên 200 tài trang, nhóm Facerbook bí mật với lượng thành viên lớn có sự tham gia của phóng viên báo chí, luật sư, văn nghệ sĩ, trí thức cực đoan có hoạt động phức tạp) tán phát hàng nghìn tin, bài, video clip chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Với các trang “chân dung quyền lực”, “quan làm báo”, “dân làm báo”, “cầu nhật tân”, “Hội nghị diên Hồng”… gần đây là các trang “bão lửa”, “Lê Nguyễn Hương Trà” (Cô gái Đồ Long), “thoibao.de”… đăng tài hàng nghìn tin bài xuyên tạc, vu cáo lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Chúng tập trung đào tạo, bồi dưỡng, phát triển lực lượng cốt cán: Sử dụng Interent, mạng xã hội kết nối huấn luyện, đào tạo, giao nhiệm vụ, tài trợ qua các giao dịch ngân hàng. Trong giai đoạn từ 2015 đến nay, chúng đã lôi kéo, móc nối hơn 3.000 trường hợp tại 63/63 tỉnh, thành phố; đưa hơn 400 đối tượng ra nước ngoài tham gia hơn 30 khóa huấn luyện về “đấu tranh bất bạo động”, để về nước làm “hạt nhân” chống phá (Nguyễn Quang A, Trần Vũ Hải, Phạm Thị Đoan Trang…).

Sử dụng Internet, mạng xã hội kích động biểu tình gây mất ANCT, TTATXH ở trong nước; lợi dụng biểu tình ở Hồng Công để kích động phong trào phản đối các dự thảo luật, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước.

Chúng kích động biểu tình trong nước để “kích hoạt” các cuộc biểu tình, các thế lực thù địch sử dụng tổng hợp các biện pháp, trong đó Internet, mạng xã hội được chúng triệt để khai thác sử dụng nhằm phát tán thông tin, hướng dẫn biểu tình; chụp ảnh, Livestream diễn biến thực địa, tán phát trên mạng, kích động dư luận, kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài vào Việt Nam. Vì vậy, các vụ biểu tình không chỉ gia tăng về số lượng mà ngày còn phức tạp về tính chất, mức độ nguy hiểm; từ tụ tập đông người đòi hỏi quyền lợi đến chuyển sang phản đối chính sách, pháp luật, nêu “yêu sách”, gia tăng hoạt động gây rối ANTT, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản.

Quân đội luôn là lực lượng đi đầu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ cao (Internet, mạng xã hội), nhất là các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài đẩy mạnh tuyên truyền phủ nhận Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xuyên tạc, kích động, bóp méo lịch sử, chống phá đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội; xuyên tạc bản sắc văn hóa dân tộc, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Lợi dụng các phương tiện truyền thông Ineternet để truyền bá những tư tưởng, quan điểm, thông tin xấu độc, kích động, lôi kéo, tổ chức biểu tình, bạo loạn; gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Khuynh hướng “chủ nghĩa dân túy”, “bất tuân dân sự” đang nổi lên; tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao... đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân, tạo cơ hội để các thế lực thù địch chống phá.

Để quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35 ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; chủ động phòng, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng, phương tiện đủ mạnh, để để xứng đáng với vai trò của Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt trong phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, hạn chế tác động từ hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

30 năm sụp đổ của Liên Xô- Bài học đau xót

 Cách đây 30 năm, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ. Sự kiện này thực sự là cú xốc, là cơ địa chấn đối với toàn thế giới. Từ một "thành trì" của hệ thống xã hội chủ nghĩa, một bức tường thành vững chắc, đối trọng với sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản. Hơn thế nữa, Liên Xô còn là một mẫu hình tiêu biểu, tấm gương khích lệ, cổ vũ, động viên các dân tộc, các nước nghèo nàn, kém phát triển noi theo.

Thế nhưng, thành trì ấy đã sụp đổ trong sự hỉ hả của các thế lực thù địch với chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ngỡ ngàng của những người cộng sản, những nhà hoạt động cho sự tiến bộ của nhân loại. Còn những người cộng sản chân chính trong nước thì căm phẫn, vì thành quả của biết bao thế hệ người cộng sản chân chính và nhân dân trong suốt hơn 70 năm đã bị xóa bỏ.

Nhìn lại nguyên nhân của sự sụp đổ, có thể cho chúng ta thấy có rất nhiều bài học. Trong đó, bài học đau xót nhất là chính từ công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng cầm quyền, xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; xây dựng đoàn kết nội bộ, lựa chọn người đứng đầu. Bên cạnh đó là một loạt các vấn đề của công tác bảo vệ Đảng, công tác tư tưởng...

 

 TÍNH TẤT YẾU LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA 


Cách đây 104 năm, ngày 07/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đây là cuộc cách mạng có giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc, phản ánh quy luật vận động, phát triển tất yếu khách quan của lịch sử xã hội loài người; là thắng lợi to lớn của chủ nghĩa Mác-Lê nin. Mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đã biến những mơ ước, khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do thành hiện thực sinh động ở nước Nga và phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945). Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại, đứng lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, vì sự tiến bộ xã hội.

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng và sụp đổ năm 1991, gây ra những tổn thất to lớn cho lực lượng cách mạng thế giới. Tuy nhiên sự kiện này không phải dấu chấm hết cho lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, càng không thể là sự “kết thúc lịch sử” của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, như một số người đã tuyên bố. Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là “một sai lầm của lịch sử” mà trái lại đó là sự lựa chọn đúng đắn của chính lịch sử và là một tất yếu lịch sử.

104 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, khoảng thời gian không dài so với lịch sử nhân loại, nhưng đủ để chúng ta nhìn nhận, đúng đắn tầm vóc, giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như những khó khăn thử thách trên con đường hiện thực hóa lý tưởng cao cả đó; giữ vững quyết tâm đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ những giá trị trường tồn mà Cách mạng Tháng Mười Nga mang lại. Đó là nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của những người cộng sản và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.

Hoàng Bách.                                                                 Theo : Bút Chiến

BH ...

Tư duy đống rác lại đòi phê phán chủ nghĩa xã hội



Thế kỷ 21, thế giới đã có nhiều biến đổi, cái mới tiến bộ đẩy lùi những cái xưa cũ cổ hủ, lạc hậu. Việt Nam từ một quốc gia nghèo, bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh đã vươn mình trỗi dậy với vị thế quốc tế ngày càng nâng cao, đời sống người dân ngày càng cải thiện. Con người Việt Nam cũng phát triển thêm về nhận thức, và lòng tự hào dân tộc cũng được nâng cao. Diễn đàn của các thế lực chống phá bây giờ trở thành nơi tấu hài, bị bao người vào chê cười. Cuộc sống thay đổi, nhưng những người mang tâm địa hẹp hòi thì không, họ ngày càng đuối lý, và quay đi quay lại chỉ còn biết bấu víu vào những lý lẽ sáo mòn như tờ giấy vò đi vò lại bao lần mà không nỡ vứt.

ĐỔ NƯỚC CHÂN TƯỜNG CHẾ ĐỘ” CỦA NHỮNG KẺ CƠ HỘI, PHẢN ĐỘNG!

     Về chính trị: chúng xét lại và đòi từ bỏ chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi bỏ nội dung trong Hiến pháp (hiến định) về vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam; đòi đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập theo mô hình phương Tây; đòi “phi chính hoá” Quân đội và LLVT.

Về kinh tế: chúng cổ suý cho tự do vô chính phủ, đòi xoá bỏ định hướng XHCN và vai trò của Nhà nước đối với kinh tế; chúng hình thành các nhóm lợi ích, tư bản thân hữu thao túng, tham nhũng để phá hoại kinh tế, bằng mọi thủ đoạn từ vi mô đến vĩ mô để triệt hạ các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước, thâu tóm tài sản quốc gia và tài nguyên thiên nhiên vào tay tư bản tư nhân trong và ngoài nước; thậm chí tiếp tay cho tư bản nước ngoài triệt hạ các doanh nghiệp trong nước.

Về các biểu tượng chính trị, quốc gia dân tộc: chúng đòi đổi tên Đảng, tên nước; đòi sửa lời Quốc ca; đòi hoả táng thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phản đối việc xây dựng tượng đài của Người và các anh hùng dân tộc; đòi sửa lời tuyên thệ của QĐND Việt Nam; đòi bỏ cả Tết Nguyên Đán của Việt Nam.

Về lịch sử: chúng xét lại, phủ nhận các triều đại anh hùng (nhà Trần, nhà Tây Sơn,...), các nhân vật lịch sử là anh hùng dân tộc, các tấm gương thương binh liệt sỹ; xét lại để đòi phục dựng và tôn vinh các chế độ phản dân hại nước (nhà Nguyễn, nguỵ quân nguỵ quyền tay sai Pháp - Mỹ); chúng đòi “lấp chỗ trống lịch sử” bằng cách moi móc hòng khơi dậy hận thù quốc gia, dân tộc, sắc tộc, giai cấp nhưng lại làm mờ đi tội ác của thực dân, đế quốc trong chiến tranh, hoàn toàn bỏ qua tội ác diệt chủng bằng bao vây cấm vận của phương Tây và tay sai của chúng trong khu vực hòng bóp nghẹt Việt Nam suốt 20 năm hậu chiến, lờ đi lịch sử tội ác của giáo triều Vatican đối với dân tộc Việt Nam.

Về văn hoá - giáo dục: chúng cổ suý cho các giá trị “văn minh” phương tây, tìm mọi cách phá hoại nền tảng văn hoá truyền thống dân tộc; tiêm nhiễm lối sống thực dụng, ích kỷ, tôn thờ đồng tiền và chủ nghĩa cá nhân; núp bóng “học thuật” để đánh phá quan điểm giáo dục Marxit; tiếp tay cho ngoại bang “săn đầu người” làm chảy máu chất xám của Việt Nam; đả phá truyền thống “tôn sư trọng đạo”, tuyệt đối hoá theo mô hình giáo dục phương tây nhằm xây dựng “đội quân thứ năm” cho các âm mưu lâu dài,...

Về ngoại giao: chúng tiêm nhiễm và kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, hoặc theo con đường “bài Nga, thoát Trung, đả kích phe XHCN”, phá hoại quan hệ truyền thống với các quốc gia anh em; nhưng lại ra sức đòi ngả theo, liên minh với phương Tây chống lại các nước không liên kết, các dân tộc bị áp bức.

Vv và vv...

Tất cả những âm mưu thủ đoạn, phương thức đó đều đang hàng ngày diễn ra, ngày càng tinh vi xảo quyệt và không kém phần điên cuồng dữ dội, dù nó xa lạ với truyền thống Việt Nam, trái với quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin, đi ngược lại con đường mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc đã lựa chọn. 

Nhận diện những âm mưu thủ đoạn, chỉ rõ những phương thức chống phá đó, không phải để bi quan, càng không phải để sợ hãi mà mũ ni che tai, khoanh tay đứng nhìn, mà để không ngừng hoàn thiện lý luận trong tình hình mới, tăng cường nhận thức và trang bị vũ khí đấu tranh nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chiến đấu cho mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân và toàn dân tộc.

Tổ Quốc XHCN hay là chết!









Môi Trường ST.

 

ÂM MƯU “BIẾN DỐI TRÁ THÀNH SỰ THẬT” CẦN PHẢI BỊ LÊN ÁN VÀ PHÊ PHÁN.

Phải khẳng định rằng; Cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Đế quốc Mỹ đã gây ra cho Nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến tranh tàn bạo và độc ác nhất trong thế kỷ hai mươi mà một Dân tộc phải gánh chịu. Tuy cuộc chiến đó đã chấm dứt cách đây 46 năm, nhưng các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn không ngừng xuyên tạc, phủ nhận một thực tế không gì lay chuyển nổi như lời của Bác Hồ kính yêu:

“VÌ ĐỘC LẬP VÌ TỰ DO, ĐÁNH CHO MỸ CÚT ĐÁNH CHO NGUỴ NHÀO”.

Từ việc; Xuyên tạc lịch sử, đánh tráo khái niệm, hạ bệ thần tượng, đến việc; xuyên tạc, đánh tráo khái niệm về công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng ta, của Nhân dân ta, tất cả cùng có chung một mục đích là thực hiện âm mưu DBHB trên Đất nước ta. Chúng tuyên truyền rằng; Đây là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm” theo học thuyết Domino của Mỹ, và là một cuộc chiến tranh “Huynh đệ tương tàn” Miền bắc đi xâm lược Miền nam.

Tuy rằng, những luận điêu xuyên tạc này không có gì mới, chỉ là “Bản cũ soạn lại”, nhưng đã không ít giới trẻ Việt Nam hiện nay hùa theo luận điệu này và cổ xuý cho chúng. Không khó để nhận biết qua các cuộc Hội thảo của các hội, nhóm phản động ở trong và ngoài nước, trong cái gọi là “Vì Dân chủ cho Việt Nam” nhưng trên thực tế là Họ vẫn đang cố tình tìm mọi cách xuyên tạc bản chất thực sự của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, qua đó phủ nhận tính chính nghĩa của Đảng ta, của Dân tộc ta.

Qua bài viết này, tôi xin đăng lại một số đánh giá và nhận định của các vị lãnh đạo, các tướng lĩnh, các chính trị gia, các sử gia, người trong cuộc chiến, người ngoài cuộc chiến, của ta, của địch, trên toàn Thế giới nói về cuộc chiến tranh này như thế nào:

• Đại tướng Maxwell D. Taylor, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, từng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam đã khái quát và khẳng định:

“Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta (nước Mỹ) không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này mà toàn là những kẻ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó”.

Đây là phán quyết mà tôi tâm đắc nhất. Vâng, xin cảm ơn Đại tướng đã nhìn nhận và nói thẳng nói thật. Sự “ngu xuẩn” đó đến từ Học thuyết Domino mà nước Mỹ cố vịn vào để gây ra một cuộc chiến tranh Tàn bạo và Độc ác này. 

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Truyền thông và sách vở chính thống của Việt Nam Dân chủ cộng hoà khẳng định rằng; Đây là kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhằm chống lại sự xâm lược của Mỹ và đánh đổ chế độ nguỵ quyền Sài Gòn, một chính phủ tay sai của Mỹ. Các nguồn tài liệu của Nhà nước Việt Nam khẳng định rằng đó là cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc chống lại âm mưu chia cắt đất nước Việt Nam của Chính phủ Mỹ và các lực lượng tay sai bản xứ.

• Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:

"Chúng tôi bắt buộc phải kháng cự lại lũ xâm lăng ấy để bảo vệ gia đình, Tổ quốc chúng tôi... Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam... Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

• Ngoại trưởng Xuân Thủy, Trưởng Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam tuyên bố:

"Mỹ không tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Miền nam Việt Nam mà trái lại đã tiến hành có hệ thống một chính sách can thiệp, xâm lược và chiến tranh, chà đạp lên các quyền đó".

• Ngày 20 tháng 9 năm 1969, Trưởng đoàn đàm phán của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1968-1970) tại Hội nghị Paris về Việt Nam Trần Bửu Kiếm tuyên bố:

"Sự can thiệp đơn phương của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc; sự có mặt của Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Genève 1954; cường độ và tính chất tàn phá của cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế; những hành động của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã vi phạm cả Hiến pháp của Hoa Kỳ... Nước Việt Nam là của người Việt Nam, Hoa Kỳ không có quyền đem quân đội tới và lại càng không có quyền bắt buộc người dân Việt Nam phải trả một cái giá nào đó cho việc triệt thoái hoàn toàn quân đội Hoa Kỳ".

• Năm 2002 tiến sĩ Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc và là cố vấn Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong buổi phỏng vấn với CNN và trong sách "Những Bí mật về Chiến tranh Việt Nam" đã viết:

"Không hề có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh - chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ... Cuộc chiến đó không có gì là "nội chiến", như nó đã không là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc - một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình - thì không phải là một cuộc nội chiến... Theo tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta (nước Mỹ) công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lược của Mỹ" Theo ông, nguyên nhân sâu xa của việc Mỹ áp đặt sự chiếm đóng lên miền Nam Việt Nam là để điều khiển và kiểm soát thị trường kinh tế, nhân lực, sức lao động và tài nguyên ở vùng Đông Nam Á.”

• Thượng nghị sĩ Công đảng (Úc) Gietzelt cho rằng:

"Nói miền Bắc (Việt Nam) cưỡng chiếm miền Nam (Việt Nam) vô lý không kém việc nói Queensland cưỡng chiếm New South Wales".

* Tờ báo Nhà kinh tế Luân Đôn nhận định chính xác :

"Một kẻ xâm lược là một kẻ xâm lược, trừ khi được mời bởi một Chính phủ hợp pháp, Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mà mình dựng lên là có quyền hợp pháp".

• Nhà sử học Stanley Karnow nhận xét:

“Tất cả những cựu chiến binh Việt Nam mà tôi có dịp phỏng vấn sau chiến tranh đều nói lên lý tưởng của họ. Họ nói rằng, bất chấp gian khổ hy sinh, nhiệm vụ của họ là “giải phóng Tổ quốc”. Khẩu hiệu nghe có vẻ rập khuôn sáo rỗng, nhưng tôi biết khá rõ về lịch sử Việt Nam đến mức tôi có thể hiểu được điều họ muốn nói. Đất nước này, bãi chiến trường trong suốt hàng ngàn năm, luôn tôn kính những vị anh hùng - những anh hùng có thật và anh hùng huyền thoại - những người đã chống lại sự xâm lăng của ngoại bang, chủ yếu là Trung Quốc. Bên cạnh việc sản sinh ra một quan niệm rằng trong mỗi con người Việt Nam tiềm tàng một chiến binh, ký ức về những trận chiến đấu ấy đã tôi luyện nên một ý thức mãnh liệt về bản sắc dân tộc vẫn đập đều đặn trong văn chương, kịch nghệ và nghệ thuật dân gian ở Việt Nam. Tôi nhận thấy hiện tượng này khi thăm một ngôi chùa gần Hà Nội, nơi trẻ con quỳ lạy và thắp hương trước tượng của những vị anh hùng truyền thuyết đã chiến đấu cho đất nước. Đại tướng Giáp nói với tôi: “Cái ý thức hệ sâu sắc nhất, cái tình cảm sâu rộng nhất của nhân dân chúng tôi là chủ nghĩa yêu nước".

• Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Frances Fitzgerald đã viết:

"Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam - người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội".

• Cựu Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia Nhật Bản, Chủ tịch Hội đồng Đảng Dân chủ Tự do (LDP), hiện là thành viên của Quốc hội Nhật Bản Yuriko Koike khẳng định: 

"Chiến thắng của nước này [Việt Nam] trước Pháp và Hoa Kỳ đã trở thành định nghĩa cho những cuộc chiến giành độc lập trong thời kỳ hậu thực dân".

• Cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mcnamara đã viết trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ” của mình, đã thừa nhận:

“Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa Dân tộc thúc đẩy một Dân tộc (trong trường hợp này, Bắc việt và việt cộng) đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”.

Đó là những nhận định chính xác về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam, qua đây bác bỏ những luận điệu xuyên tạc khi cho rằng, đây là cuộc “Nội chiến“, hay là cuộc chiến tranh “Ủy nhiệm“.


LỜI KẾT:

Bốn mươi mốt năm sau chiến tranh, tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát biểu về bài học mà Mỹ rút ra trong chiến tranh Việt Nam:

“Chúng ta (Việt Nam và Mỹ) là 2 nước độc lập và dù lớn hay nhỏ cũng đều có chủ quyền của mình, phải được tôn trọng tuyệt đối. Nước lớn không thể “ăn hiếp” nước nhỏ... Bài học của chúng ta trong chiến tranh, trong quá khứ cũng là bài học của cả nhân loại. Những chân giá trị của hòa bình đã được chỉ ra. Chúng ta cũng thấy một điều có tính nguyên lý là độc lập, không một quốc gia nào có thể áp đặt ý chí lên Việt Nam và số phận của Việt Nam là do người dân Việt Nam quyết định.”

Thế nên, những kẻ (cả ta lẫn tây) đang cố giao giảng về những giá trị Dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, thì hãy biết nhục mà câm miệng lại. Còn cứ tiếp tục giao giảng thì chỉ làm cho chính người Mỹ thêm hổ thẹn mà thôi. Khép lại quá khứ, hướng đến tương lai không đồng nghĩa với việc xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những giá trị chân chính của lịch sử hay lãng quên quá khứ.

Chính Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại cảm tưởng của mình:

"Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử".

Tôi xin mời các bạn xem và nghe băng hình của Đài truyền hình Nhân dân, trong chương mục Bình luận-phê phán với têu đề “ Mục đích duy nhất là giành Độc lập, thống nhất nước nhà”./.


Yêu nước ST.