Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Những điểm nổi bật về phương hướng đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

     Một là, “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đây là bước phát triển rất mới trong tầm nhìn chiến lược của Đảng ta, vừa là sự nhìn nhận vai trò quan trọng của đối ngoại, vừa đặt ra những nhiệm vụ rất nặng nề cho giai đoạn tới. “Vai trò tiên phong của đối ngoại” không chỉ có ngoại giao mà cả quốc phòng, an ninh và các binh chủng khác, trong sự phối hợp liên ngành dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước. Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 (tháng 8/2013): Trong thời bình, công tác đối ngoại sẽ tiếp tục là một mặt trận quan trọng, cùng với quốc phòng - an ninh đóng vai trò tiên phong, góp phần bảo vệ an ninh, độc lập và chủ quyền đất nước.

Hai là, đối ngoại phải “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Lợi ích quốc gia - dân tộc đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam, tiêu chí cao nhất trong triển khai hoạt động đối ngoại. Không những vậy, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII còn xác định đây là một trong những quan điểm chỉ đạo cao nhất nhằm thực hiện tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước. Đồng thời, Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi mà thúc đẩy lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Ba là, Đại hội nêu rõ nhiệm vụ “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”. Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. “Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” nghĩa là hội nhập đầy đủ trên các lĩnh vực, các tầng nấc khác nhau với mức độ tham gia, đóng góp thực chất hơn, cam kết và đan xen lợi ích cao hơn. Hội nhập quốc tế cũng phải bám sát, gắn chặt và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phục vụ phát triển với việc “tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế-xã hội”.

Bốn là, tư duy về đối ngoại song phương và đa phương có những bước phát triển mới. Về song phương, chúng ta cần tiếp tục đưa các mối quan hệ đối ngoại song phương đi vào chiều sâu, đồng thời cần “tạo thế đan xen lợi ích” và “tăng độ tin cậy”. Đối ngoại đa phương cần “chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế”, và “trong những vấn đề, các cơ chế quan trọng, có tầm chiến lược đối với lợi ích Việt Nam, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể”. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn từ Đại hội XII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư (8/8/2018). Điều này phù hợp với thế và lực mới của đất nước cũng như những đòi hỏi thực tiễn mới đối với công tác đối ngoại. Tư duy về không gian và các trọng điểm chiến lược của đất nước cũng được thể hiện rất rõ, đó là các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng Mekong, ASEAN, châu Á – Thái Bình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng…

Năm là, đối ngoại được giao trọng trách tham gia cùng quốc phòng, an ninh và cả hệ thống chính trị vào việc bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định của đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa. Về an ninh quốc gia, văn kiện nêu rõ “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Về bảo vệ chủ quyền, biển đảo: “Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc và Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng”. Đối ngoại cũng phải “tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu, chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bất ngờ”.

Sáu là, văn kiện khẳng định sự quan tâm và quan điểm của Đảng và Nhà nước về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Văn kiện nêu rõ “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hội nhập xã hội nước sở tại. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh… Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bào hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc, có chính sách thu hút nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đây sẽ là phương hướng để xây dựng những chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi cho bà con hội nhập với xã hội sở tại, đồng thời tiếp tục giữ gìn văn hóa, bản sắc dân tộc và đóng góp vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảy là, văn kiện nêu: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Tính “toàn diện” thể hiện trên các chủ thể, địa bàn, cả song phương và đa phương, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân…, qua đó phát huy hiệu quả sức mạnh của tất cả các binh chủng. Đặc biệt, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển của đất nước, ngoại giao sẽ không chỉ triển khai các nhiệm vụ chính trị lớn ở tầm vĩ mô, mà còn phục vụ trực tiếp các địa phương, doanh nghiệp, người dân, tranh thủ mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện để mở rộng địa bàn, thị trường, tranh thủ nguồn ngoại lực cho phát triển của đất nước. Đây sẽ là trọng tâm lớn của công tác đối ngoại những năm tới. Tính “hiện đại” của ngoại giao được thể hiện ở việc xây dựng ngành, phát triển và nâng tầm phương thức triển khai công tác đối ngoại, tổ chức bộ máy, cơ sở hạ tầng, công nghệ và trang thiết bị… đạt trình độ khu vực và vươn tầm quốc tế, qua đó phục vụ tốt mục tiêu phát triển của đất nước.

Tám là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Văn kiện Đại hội XIII đã nêu “Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, tính chuyên nghiệp, hiện đại, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình”. Qua đó nhấn mạnh phẩm chất, năng lực của cán bộ đối ngoại là yếu tố quyết định, mang tính đột phá nhằm bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ ngày một cao hơn trong tình hình mới.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là kim chỉ nam cho việc triển khai công tác đối ngoại, thể hiện mạnh mẽ tính kế thừa và tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn, cũng như với với thế và lực mới của đất nước. Tới đây, các cơ quan trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ tiếp tục phải làm rõ nội hàm đường lối đối ngoại, tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội sâu sát đến các cơ sở Đảng ở trong nước và nước ngoài. Chỉ với bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, đồng lòng nhất trí của toàn hệ thống chính trị và toàn dân, chúng ta mới thực hiện được thắng lợi đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước trong những năm tới./.

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong công cuộc đổi mới hiện nay

 Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan sát và phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế và thời đại, cách ứng xử của Người trên trường quốc tế đã hình thành nên hệ thống lý luận, quan điểm, nguyên lý thực tế, sâu sắc cũng như những hành động đối ngoại chuẩn mực, hiệu quả, định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Các tư tưởng, nguyên tắc và phương châm chỉ đạo đó được thể hiện trong các giai đoạn cách mạng và là nền tảng cho mọi thắng lợi của ngoại giao Việt Nam suốt 75 năm qua với nhiều bài học kinh nghiệm.

Độc lập tự chủ, tự lực tự cường. Chính sách đối ngoại của Việt Nam đã góp phần thực hiện mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, được thể hiện cô đọng trong câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Độc lập tự chủ, tự lực tự cường đi liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế là tư tưởng chủ đạo trong chính sách kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh”. Người cũng nêu rõ: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Ngoại giao Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng, vượt qua những thách thức của thời đại, phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang đó, chính sách đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

Ph.Ăng-ghen - Thiên tài và sự khiêm nhường

 

Ph.Ăng-ghen (1820-1895) là nhà lý luận chính trị và nhà khoa học người Đức, người đã cùng với C.Mác sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản. Ông và C.Mác là đồng tác giả bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác, nhưng Ph.Ăng-ghen lại đề nghị học thuyết của hai người được mang tên C.Mác, đó là sự khiêm nhường hiếm thấy của một thiên tài.    

Mặc dù học rất xuất sắc nhưng khởi đầu, Ph.Ăng-ghen chỉ có bằng tú tài vì ông vâng lời cha, nghỉ học để làm nghề kinh doanh. Từ thực tiễn, ông nhận ra sự bất công của xã hội tư bản, mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp tư sản với những người lao động làm thuê. Với trái tim nhân hậu và bầu nhiệt huyết của một thanh niên khát khao chân lý, ông đã từng bước nâng cao trình độ bằng cách tự học. Và ông đã vượt lên, đạt tới trình độ thực học của một trí thức tiêu biểu của giai cấp vô sản và nhân loại.


Trong những tác phẩm viết chung với C.Mác cũng như những tác phẩm của riêng mình, những luận điểm quan trọng nhất của triết học mác-xít đã được Ph.Ăng-ghen trình bày một cách có hệ thống, đầy sức thuyết phục. Đồng thời, Ph.Ăng-ghen cũng đã chỉ ra ý nghĩa lớn lao của triết học đối với hoạt động thực tiễn của con người. “Gia đình thần thánh” là tác phẩm lý luận viết chung đầu tiên của Ph.Ăng-ghen và C.Mác, có vị trí quan trọng trong quá trình hình thành các quan điểm triết học và chính trị xã hội của học thuyết Mác.Quan sát đời sống của giai cấp công nhân, Ph.Ăng-ghen đã phân tích các quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp trong xã hội lúc đó và chỉ ra mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở đó, Ph.Ăng-ghen lần đầu tiên đưa ra tư tưởng về tính tất yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; tính quốc tế của cuộc cách mạng này.

Trong tác phẩm này, Ph. Ăng-ghen đã cùng với C.Mác một lần nữa khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản và chỉ ra rằng, chính địa vị của giai cấp vô sản trong xã hội tư sản hiện đại đã quy định vai trò, sứ mệnh đó. Tiếp tục phát triển những tư tưởng đã trình bày trong “Gia đình thần thánh”, ở “Hệ tư tưởng Đức”, tác phẩm viết chung thứ hai của Ph.Ăng-ghen và C.Mác, thế giới quan và phương pháp luận mới - quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử đã được trình bày một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống dưới hình thức phê phán những quan điểm triết học của phái Hê-ghen trẻ.

Trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử, Ph.Ăng-ghen và C. Mác đã đặt ra những vấn đề về cách mạng vô sản, những nét cơ bản của xã hội cộng sản tương lai. Những kết luận khoa học được trình bày trong tác phẩm đó là cơ sở lý luận cho hoạt động thực tiễn cách mạng của hai ông.

Với sự chỉ đạo sát sao và sáng suốt của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Đại hội lần thứ II của Liên đoàn Những người cộng sản (29/11/1847) đã kết thúc thắng lợi với việc thông qua bản Điều lệ, trong đó, thể hiện toàn bộ những kế hoạch cải tổ Liên đoàn do C.Mác và Ph.Ăng-ghen đề xướng. Đại hội đã trao cho C.Mác và Ph.Ăng-ghen nhiệm vụ soạn thảo “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũng chính là cương lĩnh của Liên đoàn. Ph.Ăng-ghen đã cùng với C.Mác hoàn thành nhiệm vụ này một cách xuất sắc (1848).

Sau khi C.Mác từ trần (1883), Ph.Ăng-ghen đã tập trung sức lực và trí tuệ tiếp tục sự nghiệp tổ chức, giác ngộ giai cấp công nhân, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác. Một trong những cống hiến to lớn của Ph.Ăng-ghen là ông đã đảm đương một khối lượng công việc vô cùng nặng nề, khó khăn để chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản quyển II, quyển III bộ “Tư bản” - tác phẩm kinh tế - chính trị học vĩ đại nhất của thế kỷ.

Đánh giá công lao của Ph.Ăng-ghen đối với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân thế giới, V.I. Lê-nin viết: “Sau C.Mác, Ph.Ăng-ghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”. Tuy vậy, với đức tính khiêm nhường, đã nhiều lần Ph.Ăng-ghen tuyên bố ông chỉ là một “cây vĩ cầm nhỏ bé” bên cạnh C.Mác. Thực tế, với những tác phẩm viết riêng, cùng những tác phẩm viết chung và những tác phẩm viết sau khi C.Mác từ trần, chứng tỏ Ph.Ăng-ghen là “một nhà bác học thiên tài” (từ của C.Mác gọi Ph.Ăng-ghen).

Tài năng và đức độ của ông, tình bạn cao cả, vĩ đại của ông với C.Mác là tấm gương sáng cho những người cộng sản và nhân loại trên toàn thế giới.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – bài học từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga

 Cách đây 104 năm, ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra và giành thắng lợi, làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước và số phận của hàng triệu con người ở Nga từ kiếp làm thuê thành người làm chủ, đưa giai cấp công nhân Nga non trẻ bước lên vũ đài chính trị, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng và tổ chức xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Để có được thắng lợi trong Cách mạng Tháng Mười năm 1917, những người Bolshevik Nga đã có một quá trình lâu dài chuẩn bị lực lượng về mọi mặt tổ chức, chính trị, quân sự, tư tưởng. Dưới ánh sáng của Luận cương tháng Tư và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bolshevik đã xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất là phải lôi cuốn đông đảo nhân dân lao động về phía cách mạng, thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị. Đảng Bolshevik và V.I.Lênin đã linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng, đó là xây dựng khối liên minh công - nông - binh vững chắc. Sự sáng tạo, độc đáo ở chỗ Đảng Bolshevik và V.I.Lênin đã tập hợp được đông đảo quần chúng và binh sĩ, làm cho họ trở thành lực lượng to lớn của cách mạng, trong đó quân đội giữ vai trò nòng cốt...

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã "làm rung chuyển thế giới", phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử, những người lao động đã đứng lên giành lấy chính quyền về tay mình để xây dựng một xã hội hoàn toàn mới. Một nhà nước kiểu mới dưới hình thức các Xô viết đã hình thành và được V.I.Lênin đánh giá là "chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân... một chế độ dân chủ kiểu mới".

Giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như những quan điểm của V.I.Lênin về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, của liên minh công - nông - binh là cơ sở lý luận trực tiếp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”. Trong sức mạnh toàn dân đó, khối liên minh công - nông - trí vẫn là gốc của cách mạng. Người còn viết: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo được cách mạng đến thắng lợi”.

Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chú trọng và xây dựng được khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, trở thành lực lượng quan trọng, góp phần đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng hội nhập quốc tế. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải làm thế nào để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về tình hình trong nước và thế giới, về dân tộc và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học đoàn kết của Cách mạng Tháng Mười, Đại hội XII của Đảng ta đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Do đó, phải: “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức do Đảng lãnh đạo”.

Nhờ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Trong nhiều năm qua, các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động xã hội sâu rộng, như “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”... đã thu hút sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn được thể hiện rõ qua việc nhân dân Việt Nam chung sức, đồng lòng với Đảng và Chính phủ trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, được các nước trên thế giới đánh giá cao.

Thời gian đã lùi xa 104 năm, nhưng những bài học quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có bài học về xây dựng, củng cố, tăng cường liên minh công-nông-trí vẫn còn nguyên giá trị đối với cách mạng Việt Nam. Ngày nay, huy động được mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân, trong đó có công nhân, nông dân và trí thức có ý nghĩa quyết định để chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.

 

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC THEO LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế, họp ở Mátxcơva, tháng 11 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để đánh thắng kẻ thù chung, chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”.

Trong bối cảnh chủ nghĩa cơ hội xuất hiện, các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đang có sự chia rẽ, bất hòa trong nhận thức và giải quyết các vấn đề quốc tế. Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài phát biểu và kêu gọi sự đoàn kết thống nhất của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Lời khẳng định của Bác có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tư duy nhạy bén, tầm nhìn xa trông rộng của Người trước các vấn đề quốc tế, qua đó nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Thực hiện lời dạy của Người đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường đoàn kết quốc tế, đoàn kết với nhân dân lao động các nước, với các dân tộc, với nhân loại tiến bộ vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tư tưởng sô vanh, nước lớn.

 

Tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật

    Trước hết cần thấy, tự do báo chí là quyền tự do cơ bản, thiêng liêng, biểu hiện cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội. Mặt khác cũng cần hiểu tự do báo chí không phải là tự do chung chung, tự do vô bờ bến, tự do không có giới hạn mà bao giờ nó cũng phải gắn và nằm trong khuôn khổ pháp luật.Vấn đề có tính nguyên tắc trong tư tưởng lập pháp được mọi quốc gia thừa nhận, vận dụng, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật là tự do luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ.

    Mối quan hệ phổ biến này nhằm mục tiêu chính đáng, khoa học, khách quan, bảo đảm cho tự do của mỗi người không làm mất đi hay ảnh hưởng tiêu cực đến tự do của người khác và của cộng đồng, xã hội. Do vậy, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và bao gồm cả những quy tắc đạo đức xã hội. Trong khuôn khổ, quy tắc ấy, tự do báo chí được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; báo chí sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, tạo môi trường thông tin lành mạnh, là phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu tốt đẹp cho con người.

    Nằm ngoài điều đó, báo chí sẽ trở thành tự do vô chính phủ, trở thành công cụ chính trị chống phá lẫn nhau giữa các đảng phái, giai cấp, nhà nước, giữa các quốc gia, dân tộc, tác động tiêu cực đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Như vậy, tự do báo chí không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật.

    Thực tế,tự do báo chí ở phương Tây mà một số người ca ngợi, cổ súy có phải là thứ tự do không giới hạn, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật? Theo Hiến pháp Hoa Kỳ (năm 1791) thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo nhiều văn bản pháp luật khác, ví dụ đạo luật năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền.

    Ngay trong Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ: “Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực”.

    Hay như ở Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí thuộc thẩm quyền của các tiểu bang. Thí dụ, Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: “Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp”.

    Ðức còn có lực lượng của các cơ quan nhà nước theo dõi sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự… Như vậy, tự do báo chí ở phương Tây hay bất cứ quốc gia nào cũng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Hiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí như vậy sẽ giúp nhìn nhận, đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.

    Thực tiễn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng đã liên tục phát triển. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn coi đây là một chiêu bài để chống phá Việt Nam.

    Thủ đoạn của quan điểm, luận điệu này thể hiện ở chỗ: 

    (1). Lợi dụng vào vấn đề tự do báo chí, những điểm khác nhau trong quy định của luật pháp Việt Nam và các nước để xuyên tạc.Từ đó nhằmlàm mất niềm tin vào nền báo chí, những thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà báo chí chuyển tải.

    (2). Cố tình đánh đồng hiện tượng để quy kết thành bản chất. Lấy sự việc số đối tượng tự xưng là “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do”, blocger… vi phạm pháp luật hình sự để quy kết thành bản chất là Việt Nam không có tự do báo chí.

    (3). Kích động, cổ súy, bảo trợ cho những đối tượng lợi dụng tự do báo chí nói trên để chống phá Việt Nam. (4). Lợi dụng vấn đề tự do báo chí để công kích, lấy đó như một cái cớ để tổ chức phản động và tổ chức khác vốn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam báo cáo, suy diễn, xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh đất nước, con người, tình hình Việt Nam, từ đó gây sức ép lên nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao của Việt Nam.

    Đằng sau quan điểm, luận điệu xuyên tạc Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam; cố tình ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây. Do đó, vấn đề “tự do báo chí” cần được hiểu đúng và nhận diện rõ âm mưu, ý đồ xấu để lên án, đấu tranh.

Hướng tới kỷ niệm 201 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen (28/11/1820 - 28/11/2021)- Nhà lý luận và chiến sỹ cách mạng vĩ đại

 Ph. Ăngghen là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người đã cùng Các Mác xây dựng nên lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Ph. Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thành phố Barơmen, vương quốc Phổ (ngày nay là nước Đức). Ông sinh sống, thâm nhập thực tiễn vào phong trào cách mạng ở nhiều nước khác nhau để tìm hiểu cuộc sống người dân. Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph. Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C. Mác, đã cùng C. Mác xây dựng nên chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Trong nhiều thập kỷ, Ph. Ăngghen ra sức nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại, mà trước hết và trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp. Quá trình nghiên cứu lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Từ đó, Ông đã cùng với Mác, xây dựng nên một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, bao gồm triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Cái đặc sắc nhất là hai ông đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Đây chính là vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân; là những trụ cột của cả một hệ thống đồ sộ!

Rất nhiều tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Mác là do Mác và Ăngghen cùng viết. Tiêu biểu nhất là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Nhiều công trình nghiên cứu của Ăngghen là sự phát triển những tư tưởng hình thành trong quá trình trao đổi thường xuyên với C. Mác. Về phía mình, nhiều tác phẩm của C. Mác được viết với những ý tưởng và kiến thức của Ăngghen. Lênin cho rằng: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”. Ăngghen còn sát cánh cùng C. Mác trong truyền bá tư tưởng cách mạng, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Lênin kết luận: “Sau bạn ông là Các Mác, Ph. Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”.

Ăngghen được ngưỡng mộ, kính trọng không chỉ bởi trí tuệ của một nhà bác học, lòng dũng cảm, nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng vĩ đại, mà còn bởi phẩm chất cao cả thể hiện trong tình bạn, tình đồng chí khăng khít, thủy chung, cảm động, hiếm có với Mác. Người tự nhận mình là “cây vĩ cầm số 2” bên cạnh Mác. Lênin khẳng định: “Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”.

Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để thực hiện một công việc vô cùng nặng nề, hết sức khó khăn, mà chỉ Ông mới có thể làm được, đó là chỉnh lý, biên tập và cho xuất bản tiếp tục các bản thảo còn lại của bộ “Tư bản”- tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất của Mác. Lê-nin cho rằng, thông qua công việc quan trọng này: “Ăngghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỷ niệm trang nghiêm, trên đó Ăngghen cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình bằng những chữ không bao giờ phai mờ được”. Ngoài ra, Ông còn tiếp tục truyền bá sâu rộng những tư tưởng của Mác, đấu tranh bảo vệ và phát triển học thuyết Mác...

Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa Mác đã luôn bị các trào lưu tư tưởng đối lập phê phán, đả kích. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các thế lực thù địch coi đây là thời cơ lớn, đẩy mạnh tấn công, xuyên tạc, vu cáo, bác bỏ... Điều này không có gì là khó hiểu! Vì thế, phải bằng tinh thần khoa học và cách mạng, chúng ta tiếp tục đấu tranh bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của mình, phù hợp với tinh thần mác-xít, phù hợp với tính chất, đặc điểm mới của thời đại!

Ngày nay, mặc dù tình hình có nhiều thay đổi so với thời điểm đó, nhưng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái cẩm nang thần kỳ”; luôn vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là bằng chứng hùng hồn, khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng và tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vì vậy việc học tập, noi gương nhân cách người chiến sĩ cộng sản mẫu mực của Ph. Ăngghen càng có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao đạo đức cách mạng của người đảng viên, góp phần giữ vững bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản, vì nhân dân mà phục vụ./.

 

Hướng tới kỷ niệm 39 năm - Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

     Giáo dục là sự nghiệp quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại. Chính vì vậy mà nghề dạy học và các thầy giáo, cô giáo được xã hội hết sức quan tâm, tôn vinh và coi trọng. Trên thế giới, ngay từ năm 1946 tổ chức quốc tế của các nhà giáo tiến bộ với tên gọi “Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục” đã được thành lập. Năm 1957, Hội nghị Quốc tế các nhà giáo đã quyết định lấy ngày 20/11 là ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo. Tại Việt Nam, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 167/HĐBT chính thức lấy ngày 20/11 làm Ngày nhà giáo Việt Nam. Đó là Quyết định mang tính nhân văn sâu sắc và thực sự quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của nhà giáo trong sự nghiệp đào tạo lớp người mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó đến nay, ngày 20/11 hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội truyền thống của toàn dân và được tổ chức kỷ niệm trọng thể ở khắp các địa phương trong cả nước, nhằm tôn vinh các nhà giáo, tôn vinh sự học và ngành giáo dục nước nhà.

Dân tộc ta vốn có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, nghề thầy giáo được tôn vinh là một nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý. Từ ngàn xưa, vào dịp lễ tết hàng năm ông cha ta đã có câu: “Mồng một tết cha - Mồng hai tết mẹ - Mồng ba tết thầy”… Nghề thầy giáo đã rất được trọng vọng trong xã hội. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người thy giáo tốt thầy giáo xứng đáng là thy giáo là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang”. Người cũng đã dạy chúng ta “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Thực hiện lời dạy của Bác, giáo dục đã được Đảng ta coi là quốc sách hàng đầu và đội ngũ các thầy cô giáo - Nhân tố quyết định tới chất lượng và sự phát triển của giáo dục nước nhà đã được xã hội ta hết sức quan tâm.

Ngày nhà giáo Việt Nam (hay ngày lễ Hiến chương nhà giáo Việt Nam) là một ngày kỷ niệm được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 tại Việt Nam. Đây là ngày lễ hội của ngành giáo dục và là Ngày Nhà giáo, ngày "tôn sư trọng đạo" nhằm mục đích tôn vinh những người hoạt động trong ngành giáo dục. Việc tổ chức ngày Nhà giáo Việt nam 20-11 hằng năm đã sớm trở thành ngày hội truyền thống của giáo giới Việt Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, một dân tộc có mấy nghìn năm văn hiến và có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 – ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại

 Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng mang sứ mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực - một kiểu phát triển xã hội mới, công bằng và dân chủ hơn cho thế giới. Đến nay, dấu ấn 104 năm trôi qua vẫn không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng cho nhân loại.

 Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, một thời đại mới mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới” . Cách mạng Tháng Mười đánh dấu bước chuyển biến về chất chủ nghĩa xã hội khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động. V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp nămchâu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” . Như vậy, Cách mạng Tháng Mười có ý nghĩa khai mở một thời đại mới trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga “là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Bônsêvích lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” . Nhưng khoảnh khắc của sự thật là ở chỗ nó là một sự kiện thay đổi có ý nghĩa lịch sử thế giới, làm thay đổi nước Nga và toàn thế giới. Nghiên cứu về hiện tượng và những hệ quả của sự kiện này vẫn sẽ luôn là tâm điểm chú ý của các nhà sử học, các chính trị gia, công chúng rộng rãi của Nga và quốc tế.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng vĩ đại này, từ thực tiễn cách mạng đã làm sáng tỏ, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin là thống nhất về bản chất, về những đặc trưng, thuộc tính phản ánh bản chất - xét về mặt lý luận, học thuyết. Đó là bản chất khoa học,cách mạng và nhân văn. Đó là đặc trưng, thuộc tính biện chứng về phát triển. Cách mạng Tháng Mười Nga, thực tiễn lịch sử của đấu tranh cách mạng đã cung cấp những kinh nghiệm và bài học để khẳng định giá trị khoa học và ý nghĩa sáng tạo, cách tân, đổi mới trong các luận thuyết của Lênin. Hồ Chí Minh đã nhận xét, Cách mạng Tháng Mười là “một cuộc biến đổi long trời lở đất”. Và lịch sử thế giới đã xác nhận Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện lớn, chân dung lớn của thế kỷ XX, có ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Điều đó vẫn mãi mãi sẽ là như thế và do đó những giá trị của nó cũng trường tồn.

Cách mạng Tháng Mười Nga thức tỉnh hàng triệu quần chúng nhân dân lao động tự khẳng định mình, tự mình sáng tạo xây dựng một xã hội giàu có, công bằng, dân chủ và văn minh. Cách mạng Tháng Mười Nga ngay từ đầu đã phản đối các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, ủng hộ việc thiết lập hòa bình trên trái đất. Không có nghi ngờ gì nữa về một thực tế của những thay đổi thực sự mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nga vào năm 1917 và trong thời kỳ tiếp theo (sự thay đổi chế độ chính trị và hệ tư tưởng thống trị, sự tháo dỡ hệ thống kinh tế-xã hội và xây dựng một hệ thống mới không có sở hữu tư nhân, một cuộc "cách mạng văn hóa" và v.v..).

Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng Mười Nga. Qua đó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đem đến giá trị hiện thực bằng thành tựu nổi bật của một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự lớn mạnh nhanh chóng, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội và sự xuất hiện nhiều mô hình xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Chủ nghĩa xã hội từ sau chiến tranh thế giới II (1939 - 1945) đã trở thành một hệ thống thế giới mang tính đối trọng với chủ nghĩa tư bản đế quốc và là một con đường phát triển, một hình mẫu của tổ chức xã hội mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đã trở thành một xu thế lớn. Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới trong thế kỷ XX.       

Trong Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Tổng thống Nga V. Putin từng phát biểu: “Những ai muốn phủ nhận hoàn toàn những thành quả của chế độ Xô-viết, người ấy không có trái tim”. Khi được hỏi vì sao ông ủng hộ việc sử dụng phần nhạc của Quốc ca Liên Xô cho bản Quốc ca mới của Liên bang Nga, Tổng thống Putin đã trả lời: "Nếu chúng ta xoá bỏ mọi điều đã có từ trước và sau tháng 10/1917, thì có nghĩa chúng ta đã công nhận rằng, cha ông ta đã sống một cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa lý. Bằng cả trái tim và trí tuệ, tôi không thể nào đồng ý thế được". Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vĩ đại, thay đổi tận gốc nước Nga và có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới.

Hiện nay, kế thừa những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Việt Nam luôn kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và  lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân Việt Nam kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong thời kỳ quá độ.  Lý tưởng và tinh thần của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tiếp tục là ngọn cờ dẫn đường cho cuộc đấu tranh cho nhân dân lao động toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều chính phủ ở các quốc gia, nhất là ở Châu Mỹ Latin đã tuyên bố sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Hiện thực sinh động của những nước đang kiên định theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, càng khẳng định giá trị khai mở, tinh thần khai sáng và sức sống trường tồn của tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga trong hiện tại và tương lai./.   

 

Những bài viết vi phạm pháp luật của nhóm “Báo sạch”

    Phải khẳng định, các thành viên nhóm “Báo sạch” bị bắt và xét xử không phải vì lý do hoạt động báo chí điều tra chống tham nhũng, tiêu cực của xã hội. Ngược lại, các đối tượng đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để viết, đăng tải lên fanpage nhiều bài viết có nội dung không đúng sự thật, thông tin một chiều, thiếu sự kiểm chứng, xác thực thông tin, suy diễn sự việc theo ý chí chủ quan mà không có bằng chứng, từ đó tạo tâm lý hoang mang, tiêu cực, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân về vai trò quản lý nhà nước tại các địa phương, gây mất lòng tin của nhân dân đối với chính quyền.

    Nhóm “Báo sạch” đã tạo trang fanpage “Báo Sạch”, group “Làm báo sạch” và kênh Youtube “BS Channel” để viết, đăng tải nhiều tin, bài viết có nội dung xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, nhân phẩm và lợi ích hợp pháp của một số cá nhân ở các bộ, ngành Trung ương và nhiều địa phương trên cả nước. Trong đó Bảo, Danh giữ vai trò quản trị viên. Nhã, Giang và Thắng giữ vai trò biên tập viên.

    Cả 5 thành viên đều có sự thống nhất khi đăng các bài viết. Hành vi của các đối tượng phạm vào tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự. Việc làm của các bị cáo nhằm thu hút sự chú ý của người đọc, đưa ra nhận định chủ quan, suy luận cá nhân thiếu căn cứ nhằm hướng dư luận theo ý thức chủ quan, làm cho người đọc hiểu nhầm, hiểu sai sự thật, tạo điều kiện cho các phần tử cơ hội lợi dụng tham gia bình luận tiêu cực, kích động một số người có nhận thức lệch lạc tham gia chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Một điểm đáng chú ý là các bị cáo trong vụ án đều là người có trình độ học vấn, từng công tác hoặc đang là phóng viên của nhiều tờ báo trong nước nhưng lại vi phạm những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, lợi dụng tài khoản cá nhân trên các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin như một tờ báo điện tử mà không chịu sự quản lý, kiểm chứng thông tin của một cơ quan báo chí với tư cách pháp nhân hoạt động theo Luật Báo chí.

    Quá trình điều tra, các bị can đều thừa nhận việc sử dụng các thông tin chưa được kiểm chứng, không đúng sự thật, thông tin một chiều như đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh qua mạng xã hội, cung cấp thông tin của các cá nhân… để viết bài, đánh vào tâm lý, thị hiếu của người đọc đối với các vấn đề tiêu cực của xã hội.

    Về nội dung, các thông tin tổng hợp, được các chủ tài khoản “Làm Báo sạch” hay “Báo sạch” viết, đăng, phát tán trên trang thông tin điện tử đều vi phạm các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông, quy định tại khoản 1, 4, 6 Điều 12 Luật Viễn thông ban hành ngày 23/11/2009; vi phạm điểm a, b, c, d, e khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng; vi phạm điểm a, b, d khoản 1 Điều 5 và không chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội như quy định tại khoản 1, 3 Điều 26 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ.

    Nhà nước Việt Nam không hạn chế quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận đấu tranh chống các vấn nạn tiêu cực của xã hội, thậm chí tạo điều kiện, khuyến khích việc các cơ quan báo chí đăng tải các bài viết đấu tranh chống tham nhũng, phát hiện các tiêu cực trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

    Tuy nhiên, cũng như nhiều quyền tự do dân chủ khác, việc thực hiện quyền tự do báo chí cần tuân thủ các quy định của pháp luật với nguyên tắc tôn trọng sự thật, khách quan, đưa tin trung thực được kiểm chứng từ nhiều nguồn khác nhau và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các thông tin đăng tải.

    Thực tế, rất nhiều các vụ việc tiêu cực, vụ án tham nhũng lớn tại các cấp từ Trung ương đến địa phương được phát hiện, đưa ra trước công chúng và pháp luật có sự góp sức to lớn và đi đầu của lực lượng báo chí. Đây có thể coi là minh chứng rõ ràng nhất đối với chủ trương của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy hoạt động tự do báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tiêu cực trong các cơ quan công quyền.

 


Lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích quốc gia

    Cuối tháng 10 vừa qua, TAND huyện Thới Lai, TP Cần Thơ mở phiên tòa xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh, SN 1982, ngụ tỉnh Long An cùng các đồng phạm: Lê Thế Thắng, SN 1982, ngụ TP Hà Nội; Đoàn Kiên Giang, SN 1985, ngụ TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Phước Trung Bảo, SN 1982 và Nguyễn Thanh Nhã, SN 1980, cùng ngụ TP Hồ Chí Minh về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo điều 331 Bộ luật Hình sự.

    Kết thúc phiên tòa vào chiều 28/10, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo là thành viên nhóm “Báo Sạch” tổng cộng 14 năm 6 tháng tù giam, gồm: Bị cáo Danh 4 năm 6 tháng tù; Thắng và Giang cùng 3 năm tù; Bảo và Nhã cùng 2 năm tù… Ngoài ra, tòa còn tuyên phạt bổ sung cấm các bị cáo hoạt động trong lĩnh vực báo chí với thời hạn 3 năm.

    Một phiên toà hình sự xét xử công khai với chứng lý rõ ràng, tranh tụng dân chủ, các bị cáo đã thừa nhận và hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nhưng những kẻ cơ hội và các “nhà quan sát” từ hải ngoại vẫn tiếp tục gây sức ép, “bẻ lái” dư luận, cố tình bôi nhọ sự thật nhằm thúc đẩy các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

    Thực tế, những hành vi vi phạm pháp luật của nhóm “Báo sạch” đã được xác định một cách rõ ràng, cụ thể và được chính các bị cáo thừa nhận. Cụ thể, có ít nhất 5 vụ việc cho thấy các thông tin được viết, đăng, phát tán trên các tài khoản “Làm Báo sạch” hay “Báo sạch” tuy thể hiện hoặc mang danh nghĩa đấu tranh chống tiêu cực nhưng thực chất lại mang ý tiêu cực khi sử dụng thông tin một chiều, sai sự thật, thiếu sự kiểm chứng.

    Thứ nhất, tháng 8/2019, các đối tượng thành lập fanpage “Báo sạch” với mục đích là sân chơi cho các phóng viên báo chí viết bài vì tại thời điểm này nhận thấy xã hội có rất nhiều thông tin xấu, độc, sai sự thật nên các đối tượng thành lập nhóm nhằm viết bài đính chính các thông tin sai trên không gian mạng.

    Tuy nhiên sau đó, nhằm chạy theo lợi ích kinh tế, thu hút sự chú ý của độc giả, các đối tượng đã viết các bài viết với danh nghĩa phản biện xã hội nhưng lại chỉ sử dụng các thông tin một chiều, thiếu sự kiểm chứng, đánh vào tâm lý người đọc đối với các tin bài nêu các tiêu cực của chính quyền dẫn đến nhiều bài viết có nội dung sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhiều cá nhân, tổ chức trong cả nước.

    Ví dụ, bài “Cái kết bi thảm nhất tại Đồng Tâm” do Nguyễn Thanh Nhã viết nêu thông tin sai sự thật cho rằng Nhà nước lấy đất ở xã Đồng Tâm mà người dân không đồng ý là sự tranh chấp chứ không phải là đất quốc phòng, khiến người dân hiểu sai bản chất của vụ án.

    Thực tế, vụ việc tại Đồng Tâm, Thanh tra Chính phủ và nhiều cơ quan đã vào cuộc, ban hành kết luận trước khi tổ chức cưỡng chế, nhưng đối tượng Nguyễn Thanh Nhã vẫn cố ý viết bài với thông tin hoàn toàn sai sự thật.

    Tháng 3/2020, Trương Châu Hữu Danh đến ấp Thới Thuận B, thị trấn Thới Lai, Cần Thơ gặp Nguyễn Hoàng Trung Kiên (sinh năm 1990, trú tại ấp Thới Thuận B) và một số người dân ở ấp Thới Thuận B bị ảnh hưởng bởi dự án khu đô thị mới Thới Lai do Công ty Cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Cadif Cần Thơ làm chủ đầu tư.

    Tại đây, Danh đã thu thập một số thông tin, tài liệu liên quan dự án khu đô thị mới như đơn khiếu kiện, quyết định giải quyết đơn khiếu nại của UBND huyện Thới Lai, quyết định cưỡng chế thu hồi đất, quyết định về chủ trương đầu tư khu đô thị mới và quyết định điều chỉnh đầu tư của UBND TP Cần Thơ.

    Mặc dù chính quyền TP Cần Thơ đã công khai thông tin về việc điều chỉnh địa điểm thực hiện dự án (được hoàn thành từ năm 2018) trong cuộc họp báo vào tháng 7/2020, Danh vẫn cho rằng huyện Thới Lai thu hồi đất sai vị trí và xuyên tạc rằng UBND TP Cần Thơ bao che nên ban hành lại văn bản điều chỉnh để phục vụ lợi ích nhóm.

    Cùng thời điểm này, Nguyễn Hoàng Trung Kiên bị TAND xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tuyên 9 tháng tù do có hành vi hủy hoại tài sản của Công ty Cadif. Gần đến ngày chấp hành án, Kiên làm đơn xin hoãn nhưng không được chấp thuận nên đã uống thuốc xịt muỗi tự sát. Từ việc này, Danh viết bài xuyên tạc chính quyền ép lấy đất rồi đẩy Kiên vào tù.

    Sau đó, Danh viết bài và livestream với nội dung đả kích chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của địa phương, bôi nhọ, xúc phạm một số đồng chí lãnh đạo địa phương. Quá trình điều tra, Danh thừa nhận việc viết bài có nội dung phản ánh sai sự thật, dù có nghiệp vụ báo chí nhưng Danh chỉ sử dụng thông tin một chiều để viết, không có sự kiểm chứng, xác thực thông tin, đưa ra nhận định chủ quan, suy diễn mà không có bằng chứng.

    Đối với các bài viết liên quan đến cá nhân ông Bùi Văn Cường – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, Danh đã thừa nhận sử dụng nội dung không đúng sự thật, không kiểm chứng thông tin dẫn đến nhận định chủ quan, xâm hại đến lợi ích của nhiều cơ quan, tổ chức trong cả nước (gồm Thanh tra Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động, Tập đoàn Điện lực, Tỉnh ủy Đắk Lắk, TAND tối cao…).

    Chưa hết, Nguyễn Phước Trung Bảo đã đăng bài viết “Hằn lên những khắc khổ” có nội dung thể hiện sự ủng hộ đối với những kẻ chủ mưu, cầm đầu trong vụ án tại xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, khiến cho người đọc hiểu sai lệch bản chất của vụ án. Một số đoạn trong bài viết cụ thể: “điểm mờ trong cáo trạng, thấy sự bất phục của các bản án”, “nơi chôn cất ông Lê Đình Kình cũng là nơi họ chôn cất hy vọng công lý như cái cách cụ Kình mang theo niềm tin vào chế độ xuống tuyền đài”…

    Còn với bài viết “Bluezone có thể là một vụ trục lợi trên lợi ích của người dân thời dịch bệnh...”, đối tượng Lê Thế Thắng đã cho đăng tải trên fanpage đúng vào thời điểm Nhà nước đang khuyến khích người dân cài đặt ứng dụng này để phục vụ cho việc khai báo y tế, truy vết phòng, chống dịch bệnh. Không những kích động dân chúng, đối tượng Lê Thế Thắng còn cho rằng đơn vị phát triển ứng dụng đang lợi dụng tình hình dịch bệnh để trục lợi khiến người dùng bị đánh cắp dữ liệu, thông tin cá nhân… Bài viết đã xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của Công ty cổ phần BKAV và chủ trương của Nhà nước trong phòng, chống dịch bệnh.

 


Sự tin tưởng, kỳ vọng của nhân dân

    Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Trung ương 4, Đảng ta xác định: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ban Chấp hành Trung ương quyết định đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    Điểm mới trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XIII lần này là mở rộng đối tượng, phạm vi, Đảng ta gắn liền đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị, thực sự là đạo đức, là văn minh, ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân, ngày càng được nhân dân tin tưởng; đủ uy tín và năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Năm nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được Đảng chú trọng thực hiện là giải pháp căn cơ, theo đó: (1) Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình. (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. (3) Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách. (4) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. (5) Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Để thực hiện những giải pháp này, Tổng Bí thư chỉ đạo: “nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng và sự thống nhất cao từ Trung ương đến cơ sở, sẽ thúc đẩy những giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn nữa, thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần này”.

    Cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ, kỳ vọng quyết tâm chính trị cao của Đảng đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đồng thời tin tưởng bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền nhận rõ trách nhiệm, bổn phận, giá trị tự trọng bản thân, tự ý thức, tu dưỡng, rèn luyện. Từ đó đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Quyết tâm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

    Trong ba kỳ đại hội liên tiếp, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, Nghị quyết Trung ương 4 mỗi nhiệm kỳ, Đảng ta đều lựa chọn nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng để bàn và quyết định những định hướng chiến lược cho cả nhiệm kỳ. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với nhiệm vụ then chốt này, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục kế thừa, phát huy tinh thần ấy, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 khóa này, Đảng ta có tổng kết, đánh giá và kết luận cần đặc biệt coi trọng, đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên một tầm cao mới, thể hiện sự tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả của Đảng về công tác này.

    Đánh giá kết quả thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII và các quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta chỉ rõ: Trong thời gian qua, đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức bộ máy của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng… được Đảng ta đặc biệt chú trọng, triển khai thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và đạt được những kết quả rõ rệt.

    Thời gian qua, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cụ thể, thể chế hóa tư tưởng, quan điểm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định về xây dựng Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành 184 nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, kế hoạch, hướng dẫn… về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Điển hình Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chấp, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương… cho thấy Đảng ta quyết tâm thể chế hóa, tạo cơ chế, quy định, hành lang, chính sách để tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

    Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đến Đại hội XIII, các cấp ủy đã kiểm tra 264.091 tổ chức Đảng và gần 1.2 triệu đảng viên; Ủy ban Kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và gần 50 nghìn đảng viên. Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức Đảng và gần 70 nghìn đảng viên; Ủy ban Kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên, trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đặc biệt đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, tạo được bước tiến mới trong phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí. Cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu; trong đó có 3 Ủy viên Bộ Chính trị, 1 nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên Trung ương Đảng, 16 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 1 bộ trưởng và 4 nguyên bộ trưởng, 22 thứ trưởng và nguyên thứ trưởng, 12 bí thư và nguyên bí thư tỉnh ủy, thành ủy, 3 phó bí thư và nguyên phó bí thư tỉnh ủy, 15 chủ tịch và nguyên chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, 26 sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

    Những kết quả đó thể hiện sự quyết tâm Đảng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được kết quả toàn diện, tạo được niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những thành tựu đó, Đảng ta đánh giá: “Đấu tranh ngăn chặn, đầu lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực… kỷ luật, xử lý nghiêm những tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấp, không có ngoại lệ. Kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng đã góp phần rất quan trọng để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay, tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”.

    Tuy nhiên, nhắc tới những con số trên, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta rất đau lòng. Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình, không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí của mình mà rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật, kỷ luật vài người để cứu muôn người”(2). Từ những con số trên cũng cho thấy, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

    Chính vì vậy, Kết luận Nghị quyết Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương nhận thấy việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 vẫn còn hạn chế, khuyết điểm: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức Đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 


ĐỪNG LÀM SAI LỆCH SỰ THẬT ĐỂ BÊNH VỰC CHO NHÓM "BÁO SẠCH"!

     Ngày 29-10 vừa qua, sau khi tòa án ở Việt Nam xét xử công khai và tuyên án 5 đối tượng thuộc nhóm "Báo Sạch", thông cáo của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu ra những ý kiến thiếu khách quan, sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam để bênh vực cho những đối tượng vi phạm pháp luật.

     Những lập luận thiếu khách quan, thiếu thiện chí.

   Bản thông cáo có đoạn viết: “Một tòa án Việt Nam đã kết án các nhà báo liên kết với nhóm "Báo Sạch" (Clean Journalism), Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Lê Thế Thắng, kết án họ nhiều năm tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự”.

   Lạ lùng hơn, bản thông cáo còn nêu: “Chúng tôi hiểu nhóm nhà báo này tập trung đưa tin điều tra về tham nhũng, tất nhiên, không phải là tội phạm” để rồi “kêu gọi trả tự do cho 5 nhà báo này và tất cả những người bị giam giữ vô cớ”.

   Cái gọi là Tổ chức Phóng viên không biên giới cũng đã ra thông báo phản đối các bản án đối với “các nhà báo” của nhóm "Báo Sạch", vu cáo Việt Nam “gia tăng đàn áp truyền thông độc lập”. Còn cái gọi là Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) ngày hôm qua 1-11 cũng ra thông cáo có nội dung sai sự thật khi yêu cầu Việt Nam "ngưng đàn áp các nhà báo".

   Cái gọi là Sáng kiến pháp lý Việt Nam do hai đối tượng Trịnh Hữu Long và Trần Quỳnh Vi - những kẻ có quan hệ mật thiết với Voice ngoại vi của Việt Tân trước đó cũng ra tuyên bố, cho rằng việc điều tra, bắt giam và truy tố, xét xử đối với các thành viên nhóm “Báo Sạch” là vi phạm quyền tự do ngôn luận.

   Dư luận và người dân Việt Nam chẳng ai xa lạ gì luận điệu bổn cũ soạn lại của những tổ chức như Phóng viên không biên giới, Sáng kiến pháp lý Việt Nam hay những đối tượng như Trịnh Hữu Long và Trần Quỳnh Vi hay Phạm Đoan Trang. Đây là những tổ chức, cá nhân thường xuyên lợi dụng, xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, nhà nước Việt Nam.

   Cũng không lạ khi Trịnh Hữu Long bênh vực Báo Sạch bởi Long nằm trong bộ 3 với Nguyễn Anh Tuấn và Phạm Đoan Trang được Voice đào tạo để chống phá đất nước. Trong chuỗi hoạt động của những đối tượng này mấy năm qua, có nhiều sự việc từng được một vài thành viên nhóm "Báo Sạch" tham gia hoặc cổ xúy.

   “Tim đen” của họ thì đã rõ nhưng quả là đáng thất vọng khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một cơ quan có đầy đủ thông tin hơn, nắm rõ hơn về sự phát triển của tự do báo chí ở Việt Nam lại có thể đưa ra những lập luận thiếu khách quan, thiếu thiện chí như vậy.

     Xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

   Trong vụ việc này, TAND huyện Thới Lai (Cần Thơ) đã tuyên phạt các bị cáo là thành viên nhóm “Báo Sạch” tổng cộng 14 năm 6 tháng tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 2, Điều 331 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa XHCN VIỆT NAM.

   Quá trình xét xử, tranh tụng công khai, dân chủ. Chính các luật sư cũng cho rằng, việc truy tố các bị cáo là không oan sai vì có nhiều bài viết đã xâm phạm đến các cá nhân, tổ chức.Các bị cáo cũng đã nhận tội và tỏ ra ăn năn, ân hận.

   Cũng cần phải nói thêm rằng, tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam được bảo đảm theo đúng pháp luật quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam, không có cái gọi là nhà báo độc lập, nhà báo công dân như lập luận của một số tổ chức thiếu thiện chí.

   Còn xét về luật pháp quốc tế, theo những giá trị phổ quát nhất, tự do báo chí luôn mang tính lịch sử, cụ thể gắn với hoàn cảnh phát triển, văn hóa của mỗi quốc gia; không thể có tự do báo chí vô hạn độ đến mức có thể xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, xâm hại nhân phẩm, danh dự của người khác.

     Không nên để thông tin xấu “gây nhiễu”

   Trong bối cảnh quan hệ Việt - Mỹ đang được tăng cường, phát triển tốt đẹp. Trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, Việt Nam luôn nỗ lực nghiêm túc thực hiện cam kết, nghĩa vụ theo các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như các cơ chế nhân quyền quốc tế. Trong đó, đặc biệt coi trọng Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

   Phát biểu vào tháng 9 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ.

   Trên thực tế, những thành tựu mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước là những bằng chứng không thể phủ nhận cho các nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm thực thi quyền con người. Việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người luôn được Ðảng, Nhà nước ta thể chế hóa cũng như thực thi nghiêm túc trong thực tiễn. Việc thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được tuân thủ nghiêm túc theo những cam kết, nghĩa vụ trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như các cơ chế nhân quyền quốc tế. Chính vì vậy, Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, tiếp tục triển khai hiệu quả các Mục tiêu phát triển bền vững.

   Tại Hội thảo quốc tế về xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc do Bộ Ngoại giao phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức ngày 14-7-2021 với sự tham dự của hơn 150 đại biểu trong nước và quốc tế, thành tựu của Việt Nam về công tác nhân quyền tiếp tục được ghi nhận. Ông Kamal Malhotra - Ðiều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, hoan nghênh Việt Nam cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và bảo vệ quyền con người mà minh chứng là quyết định thực hiện Báo cáo giữa kỳ tự nguyện. Liên hiệp quốc đánh giá cao Việt Nam.

   Thiết nghĩ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nên thay đổi cách tiếp cận và khách quan hơn, toàn diện hơn khi đề cập vấn đề liên quan đến nhóm "Báo Sạch"; không để những thông tin gây nhiễu dẫn đến những bình luận sai lệch; không chỉ đối với vụ án nhóm "Báo Sạch" mà trong nhiều vụ án, vụ việc khác./.


Yêu nước ST.