Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

 

Bản lĩnh chính trị của Đảng với xây dựng Đảng về chính trị theo quan điểm Đại hội XIII

        Từ những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ những nội dung cơ bản trong xây dựng Đảng về chính trị và nhấn mạnh, trong bối cảnh đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế càng đòi hỏi không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. 


       1. Ngay từ những năm 20 thế kỷ XX, khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị với những quan điểm rất riêng và sáng tạo. Quốc tế Cộng sản chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa và cho rằng cách mạng thuộc địa chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản thắng lợi ở các nước tư bản (chính quốc). Tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng thuộc địa ở châu Á có thể chủ động giành thắng lợi và còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(1). Là người hoạt động quốc tế sôi nổi, nhất là trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ của đồng chí, bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Nhưng Người ý thức rõ ràng phải dựa vào thực lực của chính mình để tự giải phóng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(2). Ý chí tự lực, tự cường là rất rõ ràng và trở thành ý chí của toàn Đảng và toàn dân tộc.

      Ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu như Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ chính sách tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên và duy nhất viết Bản án chế độ thực dân. Ở xứ thuộc địa, mâu thuẫn dân tộc là cực kỳ gay gắt, vì vậy đấu tranh giải phóng dân tộc phải đặt lên hàng đầu chứ không phải đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bản phương Tây. Đó là điều rõ ràng trong quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Các giai cấp bóc lột ở Việt Nam (địa chủ, tư sản) đều nhỏ bé và phần đông họ có tinh thần yêu nước. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”(3); “nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”(4). “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(5).

       Với đặc điểm và mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp như thế, nên khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mục tiêu chiến lược là: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, để đi tới xã hội cộng sản. Đảng chủ trương lôi cuốn mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội vào thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, lôi kéo cả “phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam”. Quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc đã không được Quốc tế Cộng sản và một số đồng chí hiểu đúng, còn cho là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia, dân tộc. Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì giữ vững quan điểm nêu cao đấu tranh dân tộc và phải đến Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7-1935), một số đồng chí trong Quốc tế Cộng sản mới chia sẻ với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, và Quốc tế Cộng sản chủ trương các Đảng Cộng sản phải lập Mặt trận dân tộc, dân chủ chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới.

      Cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm 1930 đã chứng minh quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn, sáng tạo, không giáo điều. Hội nghị Trung ương Đảng (11-1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì (họp ở Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định) đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu. Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc. Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với mục tiêu giành cho được độc lập, với tinh thần độc lập trên hết, dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(6).

      Chủ trương đúng đắn đó đã đoàn kết và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc quyết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Trên tầm cao nhận thức, giành được độc lập, tự do cho dân tộc đã có lợi ích của bộ phận, giai cấp trong đó. Giải quyết đúng đắn lợi ích dân tộc và giai cấp thể hiện bản lĩnh chính trị, tầm trí tuệ của Hồ Chí Minh và Đảng ta. Những năm 1945-1946, cách mạng Việt Nam phải chống giặc ngoài, thù trong, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tỏ rõ bản lĩnh và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời có những quyết sách khôn khéo, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ngày 11-11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào bí mật, bảo toàn lực lượng. “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”(7). Trong lãnh đạo cách mạng XHCN, Hồ Chí Minh rất coi trọng tư duy sáng tạo, phân tích hoàn cảnh cụ thể của đất nước, học hỏi kinh nghiệm các nước nhưng không máy móc, giáo điều. Năm 1956, Người đã nhận thức “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(8). “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(9). “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước... cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”(10). Năm 1957, Hồ Chí Minh phân tích điều kiện của Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu: “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”(11). “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”(12).

      Trong quá trình lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cũng phạm một số sai lầm, khuyết điểm, hoặc trên những vấn đề lớn, hoặc trong phạm vi hẹp hay ở một số đồng chí. Sai lầm “tả” khuynh trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ (1931) và Trung ương đã kịp thời phê phán khuyết điểm của một số đồng chí trong hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử tờrốtkít và về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; việc tồn tại 2 Xứ ủy (Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải phóng) ở Nam Kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Khi Đảng nắm chính quyền, một số cán bộ, đảng viên đã phạm những lầm lỗi: Trái phép, Cậy thế, Hủ hóa, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời phê bình và yêu cầu sửa chữa. Sai lầm trong cải cách ruộng đất (1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tự phê bình trước nhân dân và quyết tâm sửa sai. Theo Người, tự chỉ trích, tự phê bình khi phạm sai lầm là yêu cầu đối với một Đảng chân chính cách mạng: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(13).

       Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và mãi mãi soi sáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng. Một là, Đảng nêu cao khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng bào, đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tuyệt đối trung thành với lý tưởng CNXH, chủ nghĩa cộng sản; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không xa rời những mục tiêu chiến lược căn bản đó. Hai là, độc lập tự chủ, luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của cách mạng, đất nước để vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh thích hợp và phương châm, con đường xây dựng CNXH có hiệu quả. Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả” khuynh, hữu khuynh, đồng thời chống giáo điều, nóng vội, duy ý chí. Ba là, nắm vững nguyên tắc cách mạng, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; chủ động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không hoang mang, dao động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, vững tin ở thắng lợi. Bốn là, thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc, cầu thị và quyết tâm sửa chữa. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền đều được Đảng sửa chữa có kết quả, củng cố được niềm tin của nhân dân, tăng cường thống nhất, đoàn kết trong Đảng và đồng thuận trong xã hội.

     2. Đại hội XIII của Đảng đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại hội XIII nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược.        Thực hành dân chủ trong Đảng, gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng"(14).

Từ những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:Đại hội nêu kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”(15).

       Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

      Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Cương lĩnh, đường lối là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ lịch sử. Luôn luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển một cách sáng tạo. Năng lực nhận thức quy luật khách quan bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn. Đường lối cách mạng XHCN trước đổi mới đã có lúc chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đường lối, chính sách phạm phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về CNXH và quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đường lối đổi mới không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) được bổ sung, phát triển năm 2011. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, nhận thức thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.

       Đại hội XIII cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, nhận thức. Trung thành mà không phát triển sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ. Phát triển mà không trung thành có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải được luôn luôn đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược có vai trò hoạch định đường lối.

       Có nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng gắn liền với hoàn chỉnh các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII nhấn mạnh quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng XHCN, giữa Nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì những chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực chính là hiện thực hóa đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII bổ sung mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa dân chủ và pháp chế, kỷ cương xã hội. Đó là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, nền chính trị vì dân, và do đó cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.

      Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị và không ngừng nâng cao trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược

       Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì CNXH, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người. Là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là phẩm chất chính trị, đức hy sinh, ý thức tổ chức và tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ ngày càng phát triển, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu cho trí tuệ.

      Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một Đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng lãnh đạo và cầm quyền phải được bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, chủ động, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có năng lực vượt qua khó khăn, thách thức.

         Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

      Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, là đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân

      Thực tiễn đổi mới đã ngày càng sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh việc đổi mới phong cách làm việc, khắc phục phong cách quan liêu, xa rời thực tế, xa rời nhân dân, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc và cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, các tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào, trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì mang lại nhiều thành quả cho sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức Đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực.

        Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh là điểm đặc biệt trong cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người. Hồ Chí Minh đã rèn luyện, không ngừng nâng cao bản lĩnh của Đảng chân chính cách mạng, bảo đảm cho Đảng vững vàng, chủ động vượt qua mọi khó khăn thách thức, đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Bản lĩnh chính trị của Đảng không những là yêu cầu của sự lãnh đạo của Đảng mà còn có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng.

Xây dựng Đảng về chính trị


     Chính trị hiểu ngắn gọn là toàn bộ tư tưởng, lý luận, tổ chức liên quan đến nhiệm vụ, nội dung, hình thức hoạt động của Ðảng; liên quan đến cuộc đấu tranh giai cấp và sự nghiệp cách mạng nhằm khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam và quan hệ quốc tế.

     Xây dựng Ðảng về chính trị được đặt lên hàng đầu bởi những nội dung thuộc chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Ðảng nhằm lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu.

     Xây dựng Ðảng vững mạnh về chính trị có nhiều nội dung, tập trung ở đường lối chính trị đúng, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng và tác phong cư xử chính trị chuẩn mực, có văn hóa của cán bộ, đảng viên.

     Đường lối chính trị đúng là một đường lối có chất lượng khoa học, cách mạng và nhân văn. Ðường lối đó được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới; tôn trọng quy luật khách quan; phản ánh đầy đủ khát vọng, lợi ích của quốc gia - dân tộc, vừa cơ bản trước mắt vừa có tính chiến lược, lâu dài.

      Ðường lối chính trị đúng của Ðảng trước hết phản ánh ở đường lối chung, kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. 

     Bản lĩnh chính trị vững vàng trong xây dựng Ðảng về chính trị hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Ðây là nền tảng tư tưởng, lý luận của cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 35 năm qua có nhiều nhân tố, nhưng phải nhấn mạnh nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

      Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ðây là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ khi có Ðảng. Chín mươi năm qua, nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà cách mạng Việt Nam đã tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học hàng đầu được Ðảng ta tổng kết trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua 35 năm đổi mới.

     Kiên định đường lối đổi mới, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðường lối đổi mới được hình thành và từng bước hoàn thiện, phát triển 35 năm qua, đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định đường lối lãnh đạo của Ðảng là đúng đắn, tạo tiềm lực to lớn để bảo vệ Tổ quốc. Ðổi mới ngày càng sâu rộng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới là con đường duy nhất đúng thể hiện bản lĩnh, ý chí kiên cường và quyết tâm đi tới của cả dân tộc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

     Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Ðảng. Ðó là lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh "làm cốt"; tập trung dân chủ; gắn bó mật thiết với nhân dân; tự phê bình và phê bình; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng; kỷ luật nghiêm minh, tự giác; đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung… Chín mươi năm qua, nhất là qua 35 năm đổi mới, nhờ kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, Ðảng ta trong sạch, vững mạnh, giữ vững được vai trò lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng, lãnh đạo nhân dân ta tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Trong khi kiên định những vấn đề nền tảng vững chắc của Ðảng ta thì phải luôn luôn đổi mới và sáng tạo theo tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cách mạng là sáng tạo, là đổi mới. Không sáng tạo, không đổi mới là lạc hậu, xã hội không thể phát triển. Xã hội, con người luôn luôn đổi mới. Ðổi mới là một cách thức để phát triển, làm cho sự vật ngày càng tốt hơn, tiến bộ hơn. Phát triển phải gắn liền với đổi mới. Ðổi mới phải nắm vững quy luật, xu hướng phát triển. Ðổi mới vô nguyên tắc sẽ dẫn đến chệch hướng, "đổi màu". Kiên định mà không đổi mới, sáng tạo thì không thể phát triển. Vì vậy, kiên định phải gắn liền với sáng tạo, đổi mới; sáng tạo, đổi mới phải trên cơ sở kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới.

    Về tác phong cư xử chính trị chuẩn mực, có văn hóa của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược phải thường xuyên nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, nhân cách văn hóa, đạo đức cách mạng, trình độ trí tuệ, phong cách và phương pháp công tác.

    Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng không chỉ thể hiện ở đường lối và bản lĩnh chính trị của Ðảng, mà còn thông qua tính chiến đấu của tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là vai trò tiên phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm, tự phê bình và phê bình của người đứng đầu. Xây dựng Ðảng vững mạnh về chính trị là thực hành dân chủ trong Ðảng, phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trong tham gia xây dựng Ðảng gắn liền với kỷ luật, kỷ cương của Ðảng.

     Xây dựng Ðảng về chính trị là một bộ phận quan trọng trong xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa Ðảng, cùng với xây dựng Ðảng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức là một chỉnh thể trong xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng./.

Giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức


     Các nghị quyết của Đảng đề ra nhiều nhóm giải pháp về xây dựng Đảng nói chung, xây dựng đạo đức trong Đảng nói riêng. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau.

     Một là, cần quan tâm tới công tác giáo dục tư tưởng, chính trị.

     Có quan điểm cho rằng chúng ta giáo dục nhiều, nhưng công tác giáo dục đó hiện nay không còn tác dụng. Nghĩ  như vậy là sai lầm.Trong đời sống kinh tế - xã hội, muốn thực hiện tốt mọi công việc đều cần phải đi “hai chân” là hiểu thấu và làm đúng. Không hiểu thấu thì không thể làm đúng. Hiểu sai, lệch lạc sẽ dẫn tới hành động sai. Cán bộ, đảng viên lại càng cần phải được giáo dục. Không phải chỉ nâng cao dân trí mà phải nâng cao “đảng trí”.Bởi vì, tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân. Nhất là cán bộ, đảng viên có quyền mà không được giáo dục, rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của nhân dân.

     Một mặt, nhiều cán bộ, đảng viên không hiểu thấu rằng, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, còn bổn phận của mình là đày tớ, công bộc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, khi chưa có quyền thì họ mua quyền, chạy chức; khi có một chút quyền hành trong tay thì họ thường hay lạm dụng, đè đầu dân, cưỡi cổ dân, vác mặt làm quan cách mạng, bán quyền, lộng quyền, tham quyền cố vị.

     Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không thấy hết sự nguy hại, tổn thất không lường được đối với Tổ quốc và nhân dân do sự tha hóa quyền lực. Họ chưa ý thức được rằng, nếu cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, cán bộ cao cấp không tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức thì sẽ làm “đổ vỡ tất cả”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(8).

     Nội dung giáo dục tập trung vào nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm. Cụ thể là, cần tăng cường giáo dục toàn Đảng về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về nhiệm vụ, trách nhiệm và đạo đức của người cán bộ, đảng viên, cao nhất là chí công vô tư.

     Hai là, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, cán bộ cao cấp phải tu thân, chính tâm, rèn luyện, tu dưỡng hằng ngày, suốt đời, tận tâm, tận lực, vì nước, vì nhân dân.

     Không tu dưỡng, không có tính liêm sỉ sẽ trở thành những con người phi nhân tính. Bởi lẽ, mọi việc đều do con người làm ra và một khi con người đã hư hỏng thì không một bộ máy, cơ chế nào có thể phát huy nổi hiệu lực, thậm chí còn biến thành công cụ của cái ác, cái tiêu cực. Sự tu dưỡng, tự giác của cá nhân vô cùng quan trọng. Đặc biệt là sự nêu gương, vì văn hóa phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

     Thực tế cho thấy, có việc pháp luật không cấm nhưng lương tâm, đạo đức, đạo lý không cho phép làm. Vì vậy, sự tu thân, chính tâm là điều hết sức thiêng liêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói pháp luật không trị hết được. Tự mình phải tạo ra pháp luật để trị mình. Mỗi người phải có tòa án lương tâm của riêng mình.

     Ba là, hoàn thiện cơ chế, tính khoa học của bộ máy, cơ bản nhất là xây dựng nền dân chủ.

     Sự tha hóa không thể chấm dứt chỉ bằng tu dưỡng đạo đức, mà nó bị đánh bại bằng cơ chế.Giáo dục và tu dưỡng là nói đến “đức trị”; cơ chế, bộ máy là nhấn mạnh mặt “pháp trị”. Chúng ta đã có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh. Các nghị quyết, quy định, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương liên quan đến công tác xây dựng Đảng cũng khá đầy đủ. Tuy nhiên, vì đời sống thực tiễn vô cùng phong phú, nên phải được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Nội dung “xây” và “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng cần được nghiên cứu bổ sung, đặc biệt là nhận diện biểu hiện quan liêu, kẻ dung túng cho tham nhũng, lãng phí.

     Quan trọng hơn là việc thể chế hóa, hiện thực hóa, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị. Muốn vậy, cần kết hợp nghiên cứu lý luận về xây dựng đạo đức trong Đảng với tổng kết thực tiễn, thường xuyên xem xét các nghị quyết, chỉ thị nói chung, liên quan đến đạo đức nói riêng đã thi hành đến đâu, thi hành như thế nào, nếu không sẽ chỉ là lời nói suông, gây tổn hại đến lòng tin của nhân dân.

     Đặc biệt nhất là phải thực hành dân chủ, phát huy thực sự quyền làm chủ của nhân dân.Dân chủ là dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng; pháp luật là tối thượng, nhưng phải dựa vào quần chúng thì mới thật sự vững chắc. Theo quan điểm của V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà chỉ xử chúng một cách pha trò, mềm mỏng, nhẹ nhàng, thì đó là một điều xấu hổ đối với những người cộng sản, những người cách mạng. Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh, bắt một tên trộm thì có nghĩa lý gì, vì còn có hàng nghìn, hàng vạn tên giặc như nó.Cần phải áp dụng biện pháp nghiêm ngặt hơn để trừng trị chúng. Theo Người, “biện pháp ấy là gây nên một đạo đức để ngăn ngừa trộm cắp, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống trộm cắp; làm cho lũ trộm cắp “đường hoàng” cũng như trộm cắp kín đáo - không sống còn được”(9).

     Nhân dân có nhiều tai, mắt, cái gì họ cũng nghe, cũng thấy, cũng biết. Họ có nhiều kinh nghiệm, hay so sánh và so sánh đúng. Họ tài trí, sáng tạo, sức mạnh, hăng hái. “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(10). Từ nhận thức khoa học đó, để chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(11).

     Quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị trường tồn, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Với tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”(12)./.

Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

     Nói đến Đảng là nói đến tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Vì vậy, xây dựng Đảng về đạo đức phải tập trung vào xây dựng đạo đức của tổ chức đảng và từng người. Tuy nhiên, tổ chức và cá nhân có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi cá nhân tồn tại và trưởng thành thông qua tổ chức, nhờ tổ chức. Ngược lại, tổ chức đảng lớn lên cũng là do mỗi đảng viên trưởng thành lên. Quan điểm xuyên suốt khi bàn về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng là Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Đảng phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tức là giành được độc lập và phải làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào hạnh phúc. Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đại biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc, nên Đảng phải là đạo đức, là văn minh.

     Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của nước ta; tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị.

     Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng phải kết hợp giữa “xây” và  “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Hủ bại, tha hóa làm đổ vỡ nhân tính của cán bộ, đảng viên là điều hết sức nghiêm trọng, làm cho nhân dân oán thán nhất, làm xói mòn bản chất của Đảng, gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. Mà mất niềm tin là mất tất cả. Vì vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm.

     Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nhấn mạnh nhiệm vụ chống quan liêu hiện nay. Cùng với chủ nghĩa cá nhân thì tệ quan liêu chính là nguồn gốc của mọi suy thoái về đạo đức và là thủ phạm nguy hiểm nhất. C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng cảnh tỉnh giai cấp vô sản rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các đảng cầm quyền tới chỗ đánh mất một lần nữa chính quyền vừa giành được, đi vào con đường tiêu vong như đã từng xảy ra đối với mọi loại hình nhà nước từng xuất hiện từ trước đến nay.

     V.I. Lê-nin nhiều lần khẳng định, nguồn gốc chủ yếu sức mạnh của Đảng là ở mối liên hệ mật thiết với nhân dân; đối với một đảng cầm quyền thì một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất là tự cắt đứt quan hệ với quần chúng. Ông viết: “Chúng ta khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”(6).

     Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, làm việc theo cách quan liêu, thì dân oán; cách xa dân chúng, chẳng khác gì đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại. Người viết: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”(7).

     Ngăn chặn, đẩy lùi những kẻ tham nhũng, lãng phí là cần nhưng chưa đủ. Đó mới chỉ là ngọn. Cái gốc là những người, cơ quan mắc bệnh quan liêu, vô trách nhiệm, giả đui, giả điếc, giả mù với “đường dây”, “sự ăn cánh” của một nhóm người, tạo ra lợi ích nhóm. Cán bộ có chức, có quyền, kể cả cán bộ cao cấp một mình không thể tham nhũng, mà là sự liên kết bè phái, lập nhóm với những lực lượng hậu thuẫn phía sau, chống lưng vô cùng tinh vi, phức tạp; vì vậy, phải đào tận gốc bệnh quan liêu.


Xây dựng Đảng về đạo đức là yêu cầu cấp thiết hiện nay

 

      Đã có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng trong đó có nội dung về đạo đức; nhiều chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quy định đảng viên không được làm, nhưng hiện nay vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, vì mấy lý do cơ bản sau đây:

      Một là, đạo đức cách mạng luôn luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

      Đây là bài học lớn, được đúc kết sâu sắc trong suốt quá trình 90 năm xây dựng và lãnh đạo của Đảng ta. Đạo đức là thước đo “chất người’, “trình độ người”. Trước đây, khi chuẩn bị cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bằng sự chuẩn bị kỹ lưỡng, qua tác phẩm Đường cách mệnh, một tác phẩm khai tâm, khai đức, khai trí cho thanh niên và nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tư cách của người cách mạng lên hàng đầu. Trong nhiều tác phẩm, Người chỉ rõ hai mặt trong mối quan hệ giữa quyền lực và đạo đức với một quan điểm căn cốt: “Có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(1). Người còn nói rõ có quyền mà “không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(2).

     Khi cách mạng thành công, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc - quốc bảo xây dựng đất nước theo tinh thần đổi mới  - Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

     Sự sụp đổ của Liên Xô có một nguyên nhân rất cơ bản là sự suy thoái đạo đức, biến chất do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng từng lưu ý: “Đây là bài học vô cùng sâu sắc và đắt giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần phải thấm thía, luôn luôn khắc sâu, ghi nhớ, đừng để đi vào “vết xe đổ” đó”(3).

     Thực tế hiện nay cho thấy, càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, lại càng phải xây dựng Đảng về đạo đức.Đây là một trong bốn mục tiêu bảo đảm thành công đối với công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Những năm qua nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác, ở các cấp khác nhau, cán bộ vẫn chưa nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này; có chỗ chỉ tư duy nặng về kinh tế, chưa quan tâm đầy đủ nội dung đạo đức trong xây dựng Đảng; hoặc xem nhẹ, làm chưa đến nơi đến chốn, làm chiếu lệ. Thậm chí có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế thị trường, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, mà kêu gọi cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm chính thì làm sao làm giàu được (?).

      Từ thực tiễn phong phú của cách mạng, một khía cạnh trong bài học xây dựng Đảng được Đảng nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là Đảng phải không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức; phải chống các nguy cơ của Đảng cầm quyền, trong đó là sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

      Hai là, nhiệm vụ chính trị của nước ta hiện nay rất to lớn, nặng nề, khó khăn, đòi hỏi Đảng không phải chỉ ngang tầm nhiệm vụ mà còn phải nâng tầm lãnh đạo, cầm quyền lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa.

      Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu một trong tám phương hướng để nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để bảo đảm được vai trò lãnh đạo của Đảng, cùng với sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phải tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Không đạt được mục tiêu này, Đảng sẽ suy yếu và không thể giữ được vai trò cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới.

     Ba là, bên cạnh mặt tích cực, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm; có những biểu hiện tiêu cực, phức tạp mới về đạo đức.

      Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và Khoá XIII của Đảng chỉ rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tình trạng “chạy chức”, “chạy tội”, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm” vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

     Cùng với tệ quan liêu, xa rời quần chúng, xuất hiện một căn bệnh vô cùng nguy hiểm là “lợi ích nhóm”. Lợi ích nhóm vừa là lợi ích cục bộ, vừa là sự móc ngoặc với nhau, thành đường dây, “ăn cánh” của nhiều bộ phận, nhóm người mưu lợi ích riêng. Nguy hiểm nhất là sự móc ngoặc, câu kết giữa kinh tế với chính trị, mà theo cách nói của C. Mác, đó là tư bản đầu sỏ tài chính cấu kết với quyền lực chính trị.

     Người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta hiện nay chỉ rõ: “Thực tế đã có một bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân… Đây là điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền như Lê-nin và Bác Hồ đã cảnh báo”(4). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

      Với những lý do trên, theo tinh thần của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng, không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nói chung, tha hóa quyền lực, sự suy thoái về đạo đức nói riêng. Nếu vì tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí mà đánh mất niềm tin của nhân dân, thì tất cả sự nghiệp của chúng ta sẽ sụp đổ. Tình hình hiện nay cho thấy, chúng ta có thể truy tìm thủ phạm, nhận diện những biểu hiện suy thoái đạo đức trong chúng ta. Có thể đưa ra một đúc kết rằng: Ở đâu Đảng cầm quyền và cán bộ, đảng viên xa rời nguyên lý tu thân, chính tâm, không luôn luôn tự hoàn thiện mình, vun bồi tư cách làm người, làm đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thì ở đó, sớm hay muộn, khó tránh khỏi tai họa.

Cần giữ vững bản chất cách mạng, tính tiên phong của Đảng


 
          Trong diễn văn kỷ niệm 90 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: "Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập; cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, thường xuyên phải đối mặt với những cám dỗ của tiền bạc, của cải vật chất, quyền lực, lợi ích cá nhân, chúng ta càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc điều này, nếu cán bộ, đảng viên không tích cực và kiên trì rèn luyện và học tập thì rất dễ bị thoái hóa, biến chất".
 
V         iệc xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề cấp thiết, sống còn trong bối cảnh hiện nay, quyết định sự hưng thịnh hay tồn vong của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người được giao trọng trách với dân, với nước, trước mỗi việc làm, mỗi lời nói, trước mỗi quyết định hãy luôn đặt lợi ích của tập thể, của tổ chức và của đất nước lên hàng đầu theo đúng tinh thần của Hồ Chủ tịch: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” và đừng bao giờ quên “dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”. 
 
         Lối sống xa hoa, cách làm việc hách dịch, nói không đi đôi với làm là những điều xa lạ với bản chất cách mạng của Đảng ta, làm cho cán bộ, đảng viên ngày càng xa rời với đời sống của nhân dân, tạo ra bức xúc trong xã hội. Thực tế cho thấy thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự bất bình của nhân dân đối với chế độ để khoét sâu thêm, làm Đảng ta suy yếu. 
 
          Phát huy tính tiên phong, mỗi đảng viên phải luôn có trách nhiệm với công việc hằng ngày, giữ gìn mối liên hệ mật thiết với nhân dân, thực hiện lối sống giản dị để lan tỏa những giá trị sống tích cực, để người dân luôn tin Đảng, yêu Đảng, và Đảng ta mãi trường tồn.

TIẾP TỤC XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" VỮNG MẠNH

 

         Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau:

     Một là, thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

     Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.

     Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

    Ba là, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

     Cùng với mở rộng dân chủ, cần tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; đồng thời, coi trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, đảm bảo mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, luôn đi đầu, đi trước, làm trước, làm có hiệu quả để nhân dân tin theo trong quá trình xây dựng “thế trận lòng dân” từ cơ sở. Chú trọng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng và nhân dân trong tổ chức triển khai, thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự tin tưởng, đồng thuận và ủng hộ của nhân dân đối với chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp.

     Bốn là, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết thực xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên; với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình thực chất kết hợp với mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, công khai minh bạch mọi vấn đề đối với từng cá nhân, tổ chức, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm công,… đảm bảo đủ sức phòng ngừa, răn đe, trừng trị để các đối tượng không thể và không dám tham nhũng.

     Đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương và phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong quá trình thực hiện, cần kiên quyết xử lý, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng; đồng thời, có chính sách khuyến khích, bảo vệ các tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí. Chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn nạn tham nhũng để kích động, xúi giục, chia rẽ đoàn kết nội bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

     Năm là, tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương, là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng về “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời, luôn kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng và Nhà nước.

     Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”. Gắn nhiệm vụ này với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

“THẾ TRẬN LÒNG DÂN" LÀ MỘT TRONG NHỮNG MẠCH NGUỒN SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA QUỐC GIA - DÂN TỘC

          Yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau; trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc sẽ có tác động tích cực, làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh và hướng tới thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Song, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” không tự nhiên trở thành “thế trận lòng dân” và “thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này nhưng cũng có thể không vững ở thời điểm khác, giai đoạn khác và không phải cứ xây dựng vững mạnh rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách hợp lòng dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đồng thời, thế trận này phải được đặt vào trạng thái được triển khai thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra, môi trường chính trị - xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của “thế trận lòng dân”.

          Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, không khó để nhận thấy việc “quy tụ lòng người” là bài học kinh nghiệm quý báu đóng vai trò quyết định đến thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc

          Ngay từ buổi đầu của lịch sử, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất kết dính muôn người và trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để dân tộc ta huy động sức mạnh tiềm tàng, giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Dưới thời nhà Trần, tư tưởng “chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” là nhân tố quyết định trong 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, là nét nổi bật về nghệ thuật đánh giặc giữ nước mang đậm tính minh triết của dân tộc ta.

          Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, nhưng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Và đúng là “dân không theo” nên công cuộc giữ nước của nhà Hồ khi đó thất bại.


          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí”(1). Nhân hòa ở đây thực chất là tinh thần hòa hợp, đồng lòng của toàn dân, biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”, được ví như “bức thành đồng” vững chắc, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được. Đó cũng chính là sức mạnh của cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước. Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, sáng tạo nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho sự đoàn kết, đồng lòng ấy không ngừng được tăng cường vững chắc, được bổ sung những yếu tố mới, độc đáo, hiệu quả, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

         Đến Đại hội lần thứ X, Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt. Bổ sung và phát triển quan điểm này, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”(2). Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng “thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

        Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”; đã ban hành nhiều chính sách sát thực tiễn, hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Đồng thời, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế là một bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, miễn giảm thuế nông nghiệp nhằm “an dân”, “dưỡng dân”. Nhờ đó, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân “thay da đổi thịt”, mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như ước nguyện của Bác Hồ.

          Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, đồng bộ hệ thống pháp luật, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; thực thi quyền con người, quyền công dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được chú trọng, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân; trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài cũng cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan, chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, làm xuất hiện những sai lệch về chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, trái với truyền thống của dân tộc và giá trị con người Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng “thế trận lòng dân”. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy, xây dựng “thế trận lòng dân” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải tăng cường đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương.


NGƯỜI ĐI, RỪNG NÚI TRÔNG THEO BÓNG NGƯỜI...!


Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi, rừng núi trông theo bóng Người...

Lòng ta ơn Đảng đời đời

Ngược xuôi, đôi mặt một lời song song.

Ngàn năm xưa, nước non Hồng

Còn đây, ơn Đảng nối dòng dài lâu

Ngàn năm non nước mai sau

Đời đời ơn Đảng càng sâu càng nồng.

Trích bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu




ĐỒ RẺ TIỀN

 

Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông có thể xem như công trình gần thập kỷ của nước ta. Mới đây, sau khi được đưa vào vận hành thì nó mang lại những dấu ấn, nét khởi sắc mới trong ngành giao thông, vận tải của nước ta. Tuy nhiên, đằng sau sự thành công đó lại là cả một âm mưu chống phá dưới ngòi bút của đám zận chủ và các đối tượng chống đối trong và ngoài nước.

Chúng ta không thể phủ nhận rằng những mặt lợi ích mà dự án này mang lại. Sự háo hức, chờ đợi của người dân sau gần 10 năm bắt đầu khởi công xây dựng. Công trinh ấy giúp góp phần quan trọng trong việc đảm bảo giao thông nước ta, đặc biệt là tình trạng ùn tắc giao thông – vấn đề nhức nhối từ lâu trên tuyến giao thông đô thị huyết mạch. Ngoài ra, công trình ấy cũng đã đánh dấu được bước trưởng thành trong ngành giao thông vận tải nước nhà, làm thay đổi diện mạo mới để từng bước hiện đại hoá đất nước.

Tuy nhiên, sự thành công của dự án là cả một vấn đề và âm mưu của các thế lực chống đối. Mặc dù có sự hạn chế nhưng cũng không đến mức như các đối tượng chống đối, cơ hội, có tư tưởng bất mãn….lên các trang mạng xã hội đòi kêu gọi “tẩy chay”. Những thông tin đấy làm ảnh hưởng đến tiến độ và thậm chí là làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào dự án này.

Chúng hả hê và liên tục tung cái chiêu trò, tập trung đánh vào những hạn chế của ta về dự án. Ngoài ra, chúng còn rêu rao cho người dân biết về mức độ nguy hiểm của công trình nhưng không biết rằng để có được như hôm nay thì Ban quản lý dự án đã phải đảm bảo được số lượng và chất lượng mới có thể vận hành được như ngày hôm nay. Thực ra, những lời xuyên tạc này đã xuất hiện từ lâu không phải là đến lúc vận hành các đối tượng này mới nói mà từ lúc khởi công và nghiệm thu. Và đó cũng là chiêu trò và “nghề” xuyên tạc của chúng.

Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông được vận hành là cú tát thẳng mặt tới các đối tượng và đã đánh bại hoàn toàn những thông tin xuyên tạc sai sự thật ấy. Và dự án này là niềm tự hào của người dân Việt, là bộ mặt mới và đánh dấu sự phát triển trong tương lai.


MNM