Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021

Tiếp tục đẩy mạnh, có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 

     Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

     Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

     Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

      Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

     Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

 

       Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

     Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

     Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

     Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…


Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam


      Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1). Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(2). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(3). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

      Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

       Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(5).


Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

Tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ


     Ngay từ khi mới có Đảng, Bác Hồ xem việc nêu gương là trách nhiệm của người cán bộ cách mạng, được đưa vào cuốn “Đường cách mệnh” làm tài liệu huấn luyện cán bộ. “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Từ đó đến nay, Đảng ta luôn xem nêu gương là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng và trong bối cảnh hiện nay, việc nêu gương của cán bộ, đảng viên hết sức cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ nêu gương của người đảng viên thời gian tiếp tục được phát triển và làm sâu sắc, toàn diện hơn trong các văn bản của Đảng trên cơ sở bám sát vào tình hình thực tế nhằm góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

     Cán bộ, đảng viên phải nêu gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, trở thành tấm gương của đạo đức liêm chính. Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, cán bộ, đảng viên thường đứng trước cám dỗ của tiền tài, danh vọng, dễ bị sa ngã, tha hóa, biến chất, nếu không giữ được đạo đức cách mạng sẽ không đủ uy tín để quy tụ, đoàn kết, tập hợp nhân dân thực hiện đường lối của Đảng. Lấy đức để cầm quyền vì thế là một nội dung trong phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta, mà hình thức cụ thể của nó chính là việc nêu gương của cán bộ, đảng viên trước nhân dân, của cấp trên trước cấp dưới, chức vụ càng cao càng phải làm tốt việc nêu gương. Đến lượt nó, khi nêu gương đã được quy phạm hóa thành chuẩn mực đạo đức cầm quyền thì sẽ trở thành một dạng thể chế buộc mọi cán bộ, đảng viên phải tuân theo, nếu vi phạm không chỉ phải chịu búa rìu của dư luận mà còn bị kỷ luật về đạo đức rất nghiêm khắc của Đảng.

     Chỉ có thông qua hành động nêu gương của cán bộ, đảng viên mới có thể tạo được niềm tin cho quần chúng nhân dân đi theo, làm theo, hướng tới những mục tiêu cao cả của Đảng. Nêu gương có sức mạnh rất lớn về mặt tinh thần, có tính lan tỏa mạnh mẽ, tạo động lực, niềm tin vững chắc cho quần chúng tự nguyện, tự giác làm theo để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng. Nêu gương của cán bộ, đảng viên là một sáng tạo của Đảng ta trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nó được kết tinh trên cơ sở phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, từ thực tiễn đấu tranh cách mạng phong phú của Đảng ta và từ chính sự đòi hòi của quần chúng để Đảng không ngừng hoàn thiện, xứng đáng với vị thế, sứ mệnh và trách nhiệm cầm quyền, đặc biệt là từ học tập tấm gương mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

     Thực tế cho thấy, nơi nào và lúc nào mà cấp ủy, tổ chức đảng chưa chú ý phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên thì nơi đó và lúc đó vai trò lãnh đạo của Đảng suy giảm rõ rệt. Khả năng thuyết phục, sức lôi cuốn quần chúng của Đảng vì thế mà bị ảnh hưởng. Chính vì thế, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên không bao giờ được xem nhẹ. Mặt khác, cũng phải thấy rằng, Đảng ta lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong rất nhiều trường hợp trách nhiệm cá nhân thiếu rõ ràng. Chính thông qua nêu gương mà cá thể hóa trách nhiệm, ít nhất là trách nhiệm chính trị và trách nhiệm đạo đức gắn với con người cụ thể, công việc cụ thể, trong đó việc nêu gương của cán bộ có chức vụ càng cao thì càng có ảnh hưởng lan tỏa rộng lớn để cho cấp dưới và nhân dân noi theo. Nó cũng giúp cho việc đánh giá và khen thưởng sát, đúng và thực chất hơn, khắc phục chủ nghĩa trung bình vẫn tồn tại bấy lâu nay.

     Để thực hiện sứ mệnh lịch sử và vai trò cầm quyền của mình, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn để đề ra đường lối cách mạng, xác lập hệ thống tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực để tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra. Trong ba nhiệm vụ trọng yếu đó thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định, vì việc hoạch định đường lối cách mạng có đúng hay không, xây dựng bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị như thế nào và kết quả thực hiện đường lối ra sao đều phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, trong những năm tới, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững. Để có được những kết quả như mong muốn thì phải có sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của nhân dân và nhất là sự cố gắng vượt bậc của các cấp ủy, tổ chức đảng, của từng cán bộ, đảng viên, trong đó có vai trò rất quan trọng của người đứng đầu.


Xây dựng và chỉnh đốn lề lối, phong cách làm việc của cán bộ


     Lề lối, phong cách làm việc là một bộ phận cơ bản cấu thành nhân cách con người, là một trong những thành tố quan trọng phản ánh chất lượng cán bộ. Vì vậy, xây dựng lề lối, phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp của cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

     Đảng ta xác định phải xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị[4]. Xây dựng lề lối, phong cách dân chủ, khoa học, chuyên nghiệp đối với cán bộ là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, mà sâu xa vẫn là thay đổi những nếp tư duy, tập tục, thói quen lạc hậu đã ăn sâu trong người cán bộ. Nó đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhưng sâu xa hơn là phải khơi dậy được ý thức tự giác, lòng tự trọng, tinh thần tự tôn của mỗi cán bộ để hoàn thiện nhân cách, xứng đáng với một nhà lãnh đạo chuyên nghiệp trong xã hội đang thay đổi. Để xây dựng lề lối, phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp đối với cán bộ, cần nhấn mạnh một số giải pháp cụ thể như sau.

     Một là, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, toàn xã hội, mọi cơ quan, đơn vị yêu cầu cấp bách đổi mới, chỉnh đốn lề lối, phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên. Phải xem công việc này không chỉ nhằm hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân con người mà là một giải pháp cơ bản xây dựng tổ chức, cơ quan, đơn vị vững mạnh. Bởi lẽ, lề lối, phong cách của mỗi con người là biểu hiện cụ thể, sinh động phương pháp công tác của tập thể, quyết định hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, là biểu hiện chất lượng cán bộ. Từng cấp ủy, đơn vị nhất thiết phải kết hợp giữa đẩy mạnh giáo dục với tăng cường kiểm tra, giám sát, uốn nắn, xử lý kịp thời những biểu hiện lệch lạc về lề lối, phong cách làm việc đang gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và niềm tin của quần chúng nhân dân. Cao hơn nữa là phải định hình được văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý, văn hóa cầm quyền, mà ở đó lề lối, phong cách lãnh đạo, quản lý là bộ phận rất cơ bản.

     Hai là, hoàn thiện hệ thống thể chế, quy định chuẩn mực về lề lối, phong cách làm việc của cán bộ, làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý cán bộ. Hệ thống thể chế phải cụ thể hóa một cách tường minh các nguyên tắc tập trung dân chủ, hiệp thương dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và chế độ thủ trưởng; các cơ chế phân quyền, trao quyền, ủy quyền, tản quyền; thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, cấp trên và cấp dưới... phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng loại hình hoạt động lãnh đạo và quản lý; phải bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng với luật pháp nhà nước và các thể chế xã hội.

     Ba là, đổi mới các khâu của công tác cán bộ hướng vào hoàn thiện lề lối, phong cách làm việc của cán bộ, đặc biệt là xây dựng phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp. Mỗi khâu khác nhau của công tác cán bộ đều tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào hình thành và điều tiết lối làm việc, phong cách lãnh đạo, quản lý của cán bộ. Coi trọng giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó bao hàm cả giám sát lề lối, phong cách làm việc, đặc biệt là quan hệ với người dân, với cấp dưới, với đồng cấp, với công việc, với chính bản thân cán bộ về những cam kết chính trị trước đó.

     Bốn là, hoàn thiện mô hình đào tạo hướng tới xây dựng lề lối, phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp đối với cán bộ. Cụ thể, phải sớm đổi mới căn bản mô hình đào tạo cán bộ, bao gồm cả đào tạo học đường và đào tạo ở nơi làm việc và đào tạo ở ngoài nơi làm việc. Chương trình, nội dung đào tạo cần tập trung hơn cho xây dựng thái độ, hành vi, tác phong chuẩn mực trong các quan hệ cơ bản của lãnh đạo, quản lý; định hình phương pháp công tác khoa học; rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, quản lý hiện đại... Cần coi trọng phương pháp đào tạo tại hiện trường, đào tạo trên thực địa, đào tạo gắn liền với giải quyết các tình huống thực tiễn, qua luân chuyển...

     Năm là, phát huy vai trò của người dân, báo chí và tăng cường áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ trong lãnh đạo, quản lý, hiện đại hóa lề lối, phong cách làm việc của cán bộ. Phát huy vai trò của nhân dân, báo chí tham gia giám sát lề lối, phong cách của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đồng thời, cần phải ứng dụng tốt hơn thành tựu khoa học - công nghệ vào lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa thái độ và hành vi công vụ của cán bộ, công chức khi thực hiện các quy trình giải quyết công việc, nhờ đó mà người dân có điều kiện giám sát cụ thể. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn giúp cho cán bộ, công chức có điều kiện giao tiếp, nắm bắt được thông tin phản hồi từ người dân một cách tốt hơn, trên cơ sở đó tự điều chỉnh hành vi, tác phong lãnh đạo, quản lý. Công nghệ thông tin ứng dụng trong lãnh đạo, quản lý còn giúp quản trị tốt hơn thời gian, kế hoạch công tác, nhờ đó điều hành một cách kịp thời, nhanh chóng và khoa học.


Đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ


     Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân sâu xa, chủ yếu trước hết là do bản thân cán bộ, đảng viên thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững, hoang mang dao động; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Đảng và nhân dân. Đồng thời, các tổ chức đảng chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong bồi dưỡng, giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, việc ban hành và thực thi cơ chế, chính sách vẫn còn bất cập, tạo môi trường thể chế thuận lợi phát sinh tiêu cực và những biến thái mới trong đời sống xã hội. Để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp như sau:

     Trước hết, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên với coi trọng khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung Nghị quyết, cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ ra những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên để có giải pháp kịp thời. Đây là một trong những biện pháp thiết thực, hữu hiệu nhất nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cũng phải tự giác, tích cực rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách lãnh đạo; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình; thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân...

     Thứ hai, bằng hành động cụ thể, thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cụ thể, phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả. Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

     Thứ ba, tạo đột phá trong đổi mới cơ chế, chính sách đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là xây dựng cơ chế theo hướng tăng tính tự chủ, phân cấp, phân quyền, bảo đảm nguyên tắc có quyền thì phải có trách nhiệm, dùng quyền thì phải chịu trách nhiệm, lạm quyền thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Đồng thời, rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, hạn chế môi trường cho tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, lợi ích nhóm; tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên. Hoàn thiện quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ.

     Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.

Công tác này phải được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, đạt hiệu quả thiết thực. Công tác kiểm tra, giám sát phải chủ động, toàn diện cả tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực công tác và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao... Cần phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là vai trò của cơ quan, ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và quần chúng đối với cán bộ, đảng viên; gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, những tổ chức đảng yếu kém trong thực hiện nhiệm vụ.


Nắm vững và triển khai hiệu quả “Hai trọng tâm”, “Năm đột phá”


       Tập trung thực hiện tốt, có hiệu quả 2 trọng tâm và 5 đột phá, việc triển khai hiệu quả để hoàn thành mục tiêu đã đề ra.

     Công tác cán bộ liên quan đến nhiều mặt, nhiều khâu, nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ; trong đó có mặt chủ yếu và mặt thứ yếu, khâu chính và khâu phụ, yếu tố cơ bản và yếu tố không cơ bản, mối quan hệ bản chất và mối quan hệ không bản chất... Xác định “cái trọng tâm” trong công tác cán bộ không chỉ là vấn đề khoa học mà còn là nghệ thuật lãnh đạo, nhờ đó bảo đảm nguồn lực được đầu tư tập trung tác động vào mặt cơ bản, khâu chính yếu, yếu tố cơ bản và quan hệ bản chất, khắc phục tình trạng “dàn trải” trong tổ chức thực hiện.

     Trọng tâm đầu tiên là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và siết chặt kỷ luật, kỷ cương cùng với việc phải tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển, đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Yêu cầu trước hết của “trọng tâm” trên đây đòi hỏi công tác cán bộ phải được tiến hành bằng quyết tâm chính trị cao nhất, không do dự, nửa vời, chiết trung, nhất là khi đụng chạm đến những vấn đề khó và phức tạp; phải tiến hành toàn diện, không bỏ trống bất cứ mặt nào, khâu nào, bộ phận nào trong khi phải tập trung cao độ cho các trọng tâm, trọng điểm; phải xác định phương pháp, cách thức phù hợp để đánh giá hiệu quả đầu tư. Đồng thời, bản chất của “trọng tâm” này là hướng vào giải quyết hai nhiệm vụ “kép”: vừa kiểm soát quyền lực, lập lại trật tự, kỷ cương ở một số khâu bị buông lỏng; vừa giải phóng các tiềm năng, thúc đẩy các năng lực đổi mới, sáng tạo và đột phá vì lợi ích chung của người cán bộ. Đây là hai mặt của một vấn đề, nếu xử lý không khéo sẽ dẫn tới cực nọ hay cực kia.

     Trọng tâm thứ hai là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời với việc tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Những bài học từ thực tế cách mạng nước ta cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ cấp chiến lược, bởi đây là đội ngũ hoạch định chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược, nếu đủ năng lực, phẩm chất, bản lĩnh sẽ đưa ra được đường lối đúng đắn, sáng suốt, mang tính đột phá và tổ chức thực hiện quyết liệt, nghiêm túc, bảo đảm thành công trong thực tiễn. Nguồn cho cán bộ cấp chiến lược phải trải qua một quá trình sàng lọc chặt chẽ ở cả khâu đào tạo, bồi dưỡng để phát hiện những người có tố chất tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đặc biệt là thử thách trong thực tiễn với kết quả có thể lượng hóa, bởi thực tiễn là thước đo của chân lý.  

     Trong năm đột phá thì công tác đánh giá cán bộ được đặt lên hàng đầu vì đây là khâu yếu, nhìn chung chưa phản ánh đúng thực chất, phương pháp, quy trình còn bất cập; việc lượng hóa các tiêu chí đánh giá chưa sát, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể. Vì thế, phải đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương. Để các cách thức và phương pháp đánh giá nêu trên đạt kết quả như mong muốn đòi hỏi phải xác định rõ vị trí việc làm, giao việc một cách rõ ràng theo vị trí việc làm và hình thành bộ công cụ đánh giá cụ thể, khoa học, phù hợp với từng vị trí việc làm. Cái cần nhất chính là quyết tâm chính trị, bản lĩnh của người đánh giá đối với đối tượng được đánh giá. Tiếp đến là phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời, chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền. Đây là một trong những giải pháp đột phá rất quan trọng để có được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, cụ thể hóa, hoàn thiện các hình thức kiểm soát quyền lực cho phù hợp với tình hình mới. Mấu chốt vẫn là tập trung hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế để ràng buộc trách nhiệm với quyền hạn được giao. Đột phá thứ ba là việc thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương. Chủ trương này nếu thực hiện tốt, có hiệu quả sẽ tạo nhiều thuận lợi cho cán bộ trưởng thành lành mạnh và bảo đảm đồng bộ với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Đột phá thứ tư cũng chính là một nội dung rất quan trọng được thảo luận riêng và thông qua tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Đó là việc cải cách chính sách tiền lương để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Đột phá thứ năm và cũng là vấn đề hết sức cấp bách trong bối cảnh hiện nay khi mà lòng tin của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên nói riêng và đối với Đảng và chế độ ta nói chung đang có nguy cơ bị suy giảm. Đó là việc phải hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân và thông qua đó nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.


Quán triệt thực hiện “Năm quan điểm” về công tác cán bộ


     Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới phải bám sát và quán triệt 5 quan điểm có tính nguyên tắc, xuyên xuốt, được Trung ương đưa ra tại Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII. Đặc biệt, là quán triệt một số nội dung mới trên cơ sở bám sát vào yêu cầu cách mạng trong giai đoạn hiện nay, có tính lý luận và thực tiễn cao. Cụ thể như sau:

     Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành một cách khoa học, thận trọng, thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả; đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững và quan điểm tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải xác định rõ, xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ là công việc khó, phức tạp, nhạy cảm, không thể làm một lần là xong; không chỉ là “công tác nhân sự” trước mỗi kỳ đại hội Đảng hay mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, mà phải tiến hành thường xuyên, liên tục, thận trọng, không cầu toàn và không nóng vội, làm có bài bản, làm đâu chắc đấy.

     Đặc biệt, phải quán triệt quan điểm lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra, đó là chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương phải đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; quan điểm phân công, phân cấp phải gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. Quan điểm này thể hiện tính thượng tôn pháp luật nhưng đồng thời không làm mất đi cơ hội sáng tạo, không làm thui chột tư tưởng đột phá của cán bộ.

     Tương tự như vậy, quan điểm xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó “xây” là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng; giữa đức và tài, trong đó “đức” là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể là một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về công tác cán bộ. Sự hài hòa, hợp lý trong công tác cán bộ vừa đảm bảo nguyên tắc chung nhưng đồng thời cũng quan tâm đến tính đặc thù, đơn lẻ, thể hiện tính biện chứng, phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ phải đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Phát huy mạnh mẽ vai trò của cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.


Tình hình thế giới và yêu cầu phát triển của thời kỳ mới trong công tác cán bộ


     Trên thế giới, hòa bình, hợp tác, ổn định và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo nhưng cục bộ vẫn có xung đột, căng thẳng, bất ổn, tiềm ẩn những yếu tố, những diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường vượt ra ngoài dự báo thông thường. Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên; việc điều chỉnh chiến lược và sự cạnh tranh gay gắt, toàn diện giữa các nước lớn (nhất là giữa Mỹ với Nga, Trung Quốc, EU) khiến các nước nhỏ liên tục bị chi phối và phải ứng phó với các biến động khó lường. Nói một cách khác, trật tự chính trị quốc tế đang chuyển dịch mạnh mẽ, vị trí, vai trò của các quốc gia không còn như trước, sự cạnh tranh ấy diễn ra trong cả quan hệ song phương lẫn đa phương, sự tập hợp lực lượng đan xen phức tạp, mâu thuẫn bùng phát ngay giữa các nước đồng minh, nhiều luật chơi đã định hình nhiều năm qua đã bị thay đổi hay đang đứng trước những thách thức mới. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ASEAN tiếp tục là khu vực phát triển năng động, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây chia rẽ, căng thẳng, mất ổn định, nhất là vấn đề Biển Đông. Cuộc đối đầu thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc, những chuyển dịch căn bản về chất và lượng của nền kinh tế toàn cầu, xu hướng hội nhập, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự xung đột về lĩnh vực tư tưởng của các nền văn minh, vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh (Covid-19) và sự phát triển của mạng xã hội, in-tơ-nét.. tiếp tục là những khó khăn, thách thức lớn đối với nước ta.

     Ở trong nước, tình hình chính trị tiếp tục được duy trì ổn định, sự nghiệp đổi mới, quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng tiếp tục được đẩy mạnh. Độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiện toàn hệ thống chính trị được đẩy mạnh; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt nhiều kết quả rõ rệt; mối quan hệ gắn bó mật thiết và lòng tin của nhân dân đối với Đảng không ngừng được củng cố, nâng cao. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó đã tạo nên cơ đồ, vị thế và uy tín của đất nước ta như ngày nay.

     Tuy nhiên, kinh tế - xã hội nước ta tuy đã có bước phát triển nhưng chưa thực sự vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, chưa phát huy đầy đủ giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và con người Việt Nam. Tình hình chính trị, an ninh quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vẫn còn một số yếu kém, bất cập; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế. Trong khi đó, việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường... đang là những vấn đề rất lớn đối với nước ta. Các thế lực thù địch, phản động ráo riết chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm hơn, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

     Trước đòi hỏi của thời kỳ mới, Hội Nghị Trung ương 7 (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết 26 đã đưa ra mục tiêu tổng quát được xác định là xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vào năm 2045. Ngoài việc xác định mốc thời gian đến năm 2030, mục tiêu tổng quát đã tính đến tầm nhìn 2045, thời điểm 100 năm kỷ niệm ngày thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời, Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu cụ thể theo ba mốc thời gian đến năm 2020, năm 2025 và năm 2030[3].


Tầm quan trọng của công tác cán bộ


Cán bộ và công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”. Đây là công tác đối với con người nên rất hệ trọng và nhạy cảm. Xây dựng Đảng là xây dựng tổ chức và xây dựng con người nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và đường lối chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng. Trong khi đó, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới hết sức to lớn. Đó là những yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh... Vì thế, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Từ những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn cũng như xuất phát từ nhưng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, Trung ương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, ban hành Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực... Nhờ đó, công tác cán bộ được đổi mới mạnh mẽ, ngày càng đi vào nền nếp, chất lượng đội ngũ cán bộ từng bước được nâng cao, cơ bản bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển.

Tuy nhiên, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ đang bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Công tác cán bộ đổi mới chưa tương xứng với đổi mới kinh tế, chưa gắn chặt với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo và cấp ủy viên là nữ, trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa lan tỏa sâu rộng... Bên cạnh đó, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị lợi dụng những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ để bôi nhọ, tác động xấu đến đội ngũ cán bộ, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước… gây hoang mang, chia rẽ nội bộ, làm ly tán lòng dân với Đảng và Nhà nước. Thực tế này đặt ra cho Đảng ta những yêu cầu mới và công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ càng trở nên cấp thiết.


Một số kinh nghiệm trong xây dựng Đảng về tổ chức


     Xây dựng Đảng về tổ chức phải luôn quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và nguyên tắc của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

     Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng cộng sản phải là đội tiền phong của giai cấp công nhân,  đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, có sứ mệnh lãnh đạo giai cấp công nhân làm cách mạng vô sản xây dựng CNXH. Đảng phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ. V.I.Lênin từng nói, trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, giai cấp công nhân không có sức mạnh nào khác là sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất, triệu người như một. Đảng của giai cấp công nhân không thể tập hợp lỏng lẻo của một nhóm, lại càng không phải là câu lạc bộ.

Vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tổ chức, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ đầu đã thể hiện là đội tiền phong và đại diện cho giai cấp công nhân Việt Nam và hơn thế còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và toàn dân tộc, đại diện cho lợi ích toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập và đi lên CNXH. Nhưng dù là Đảng của toàn dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải được tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là các nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc. Những nguyên tắc được ghi trong Điều lệ Đảng hiện nay chính là sự tổng kết cô đúc lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của Đảng suốt 90 năm qua mà dù có mở rộng dân chủ tới đâu, điều này cũng không thể buông lỏng.

     Xây dựng Đảng về tổ chức phải căn cứ bối cảnh, điều kiện nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ.

     Một mặt phải giữ vững bản chất của Đảng và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, mặt khác việc đổi mới về tổ chức bộ máy, thể chế của Đảng phải tùy theo điều kiện khách quan nhằm bảo đảm Đảng luôn phát huy được vai trò lãnh đạo, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân.

    Thời kỳ mới thành lập, trong điều kiện hoạt động bí mật, phương tiện thông tin, liên lạc vô cùng khó khăn, luôn bị đế quốc Pháp theo dõi và đàn áp tàn bạo, tổ chức đảng, cơ quan lãnh đạo ở các cấp được tổ chức theo kỳ, tỉnh, huyện, tổng, xã, chi bộ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổ chức đảng bộ theo Khu, tỉnh, huyện, xã (ở miền Bắc, duy trì tổ chức Đảng theo 2 khu tự trị Tây Bắc và Việt Bắc; ở miền Nam là đảng bộ các liên tỉnh, các khu 5,6,7,8,9 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ, tiếp theo là Trung ương Cục miền Nam). Thời kỳ cả nước cùng đi lên CNXH, tổ chức đảng về cơ bản theo đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã.

     Bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc các cơ quan lãnh đạo Đảng ở các cấp càng phải tùy bối cảnh, điều kiện khách quan và nhiệm vụ từng thời kỳ mà được tổ chức cho khoa học và phù hợp. Đã có thời kỳ bộ máy này phình to và hoạt động mang tính bao biện, làm thay cơ quan nhà nước, nhưng cũng có thời kỳ do nhận thức chưa đúng nên đơn giản hoá quá mức dẫn đến thiếu cơ quan tham mưu cho cơ quan lãnh đạo Đảng trên những mặt công tác quan trọng, chẳng hạn lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng và lý luận.

     Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội, không có đảng đối lập hoặc đảng tham chính nào khác, do đó về tổ chức bộ máy và thể chế, dù đổi mới ra sao phải luôn bảo đảm cho Đảng giữ đúng vị trí của người lãnh đạo cao nhất của xã hội.

Phải luôn bảo đảm sự đồng bộ giữa bộ máy và thể chế của Đảng

      Để cho các cơ quan lãnh đạo, điều hành cũng như cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng từ Trung ương tới địa phương hoạt động có hiệu quả, điều quan trọng hàng đầu là phải có cơ cấu hợp lý và thể chế rõ ràng, khoa học. Điều này đòi hỏi phải xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan cũng như mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan và các chức danh trong bộ máy. Từ sau Đại hội VII năm 1991 đến nay, Đảng ta đã làm khá tốt điều này.

     Dưới tác động của các nhân tố khách quan từ xã hội tới nhân tố chủ quan bên trong, xu hướng chung của bộ máy là ngày càng to về quy mô, phức tạp về thể chế, thậm chí vượt quá mức độ cần thiết. Do vậy, việc chỉnh đốn lại tổ chức bộ máy và thể chế là thường xuyên, định kỳ. Từ sau Đại hội VI, Đảng ta đã thực hiện nhiều lần sắp xếp lại bộ máy, biên chế, song cũng nhiều lần sau khi thu gọn, bộ máy, biên chế lại phình to và hiện nay vấn đề tinh gọn bộ máy, biên chế đang được đặt ra và giải quyết. Đồng thời với sắp xếp lại theo hướng tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, cũng cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện không ngừng về thể chế. Trong điều kiện đảng cầm quyền, phát triển kinh tế thị trường, việc hoàn thiện thể chế phải theo hướng vừa bảo đảm thống nhất, kỷ cương, kiểm soát chặt chẽ quyền lực, đồng thời tăng cường dân chủ trong Đảng. Đây là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, tương hỗ lẫn nhau. Càng dân chủ thì Đảng càng có thêm tai, mắt của quần chúng để kiểm soát quyền lực tốt hơn, ngược lại càng kiểm soát quyền lực tốt và tránh được độc quyền thì dân chủ trong Đảng ngày càng được phát huy thực chất hơn.

     Đổi mới tổ chức, nhất là tổ chức bộ máy cơ quan Đảng hiện nay cần tính tới xu thế toàn cầu hóa, mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế, sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ hiện đại và xu hướng dân chủ hóa, hiện đại hóa hệ thống chính trị

     Bộ máy của Đảng phải đủ bảo đảm cho Đảng thuận lợi trong giao lưu, hợp tác quốc tế, nhưng cũng không trở nên cồng kềnh, tiêu tốn nguồn lực của đất nước, có thể dẫn đến phản cảm của xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng phải được hiện đại hóa, tiếp cận với tiêu chuẩn Lãnh đạo thông minh. Điều này phải được thể hiện trong bộ máy, thể chế và con người của cơ quan lãnh đạo và cơ quan tham mưu. Việt Nam là quốc gia có tiềm lực về công nghệ thông tin, có hạ tầng viễn thông và internet phát triển mạnh mẽ, thì việc tiếp cận với công nghệ hiện đại trong tổ chức và vận hành của bộ máy lại càng thuận lợi. Với công nghệ thông tin hiện đại, các cơ quan tham mưu có thể dễ dàng cập nhật thông tin ở mọi nơi một cách nhanh chóng và đầy đủ để cung cấp cho người lãnh đạo. Năng lực sử dụng công nghệ thông tin của cán bộ tham mưu sẽ thay thế cho số lượng người làm tham mưu (và cả số lượng nhân viên giúp việc cho người tham mưu). Cũng nhờ công nghệ hiện đại, cơ quan lãnh đạo và người có thẩm quyền có thể đưa ra các quyết định bất cứ lúc nào và ở đâu. Như vậy, trong thời đại công nghệ số, Đảng cần phải đầu tư thích đáng vào nhân tố con người và cả công nghệ nữa.

__________________

Sự trưởng thành của Đảng qua hơn 90 năm về tổ chức


     Giai đoạn đấu tranh giành độc lập và kháng chiến chống thực dân Pháp (1930-1954)

     Thấm nhuần tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về nguyên lý tổ chức và hoạt động của Đảng cách mạng kiểu mới, học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Bônsêvic Nga, ngay sau Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10-1930 là Đảng Cộng sản Đông Dương), Đảng xác định nhiệm vụ hàng đầu là phát triển các tổ chức đảng ra khắp các địa bàn hoạt động.

Điều lệ vắn tắt tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930), quy định hệ thống tổ chức đảng bao gồm: chi bộ; huyện, thị, khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ, đặc biệt bộ và Trung ương. Tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Điều lệ Đảng quy định có thêm cấp Tổng bộ và cấp Xứ bộ (ở Bắc, Trung, Nam, Lào, Cao miên)(1). Những quy định này được kế thừa trong Điều lệ được thông qua tại Đại hội lần thứ nhất năm 1935(2).

Ở mỗi cấp, cơ quan lãnh đạo cao nhất là các Đại hội đại biểu, giữa hai kỳ đại hội là các ban chấp hành (cấp ủy). Ở cấp xứ trở lên thì có Ban Thường vụ. 

     Sau ngày thành lập Đảng, theo sự chỉ đạo của Trung ương và các cấp ủy Đảng, với sự lăn lộn của các đảng viên và phong trào cách mạng phát triển ở các nơi, tổ chức đảng được phát triển ở nhiều tỉnh, huyện, tổng, xã trong cả nước. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng cũng đã hình thành trong các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền của thực dân Pháp, trong các nhà tù của đế quốc. Tuy nhiên cho tới cách mạng Tháng Tám năm 1945, do điều kiện bị địch đàn áp, khủng bố, giao thông khó khăn, nhiều tỉnh,  huyện nhất là ở các vùng núi cao, xa xôi chưa hình thành được tổ chức Đảng và thành lập được cơ quan lãnh đạo, thậm chí chưa có đảng viên.

     Sau Cách mạng Tháng Tám, cùng với sự hình thành chính quyền cách mạng trong cả nước, các tổ chức Đảng tiếp tục phát triển ở các địa phương. Một số địa phương trước đó do điều kiện khách quan và chủ quan chưa có đảng viên và tổ chức đảng, đã xây dựng được tổ chức đảng, hình thành cơ quan lãnh đạo, kết nạp, phát triển đảng viên.

     Về tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng, trong Điều lệ và chủ trương, Đảng tổ chức các cơ quan tham mưu, giúp việc, nhất là ở cấp Trung ương, cấp xứ. Tuy nhiên, do điều kiện hoạt động khó khăn, thiếu cán bộ, trước Cách mạng Tháng Tám (1945), các cơ quan tham mưu, giúp việc chủ yếu chỉ tồn tại trên danh nghĩa cấp, do các cấp ủy viên trực tiếp phụ trách, thực hiện chứ không hình thành bộ máy tổ chức. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ II, bộ máy tham mưu, giúp việc mới hình thành và được củng cố. 

     Về mặt thể chế Đảng, ngay từ Hội nghị thành lập Đảng, Đảng đã chú trọng xây dựng và sửa đổi, bổ sung Điều lệ cho phù hợp với tình hình. Đó không chỉ là Tuyên ngôn về mục đích, lý tưởng của Đảng, là quy định về hệ thống tổ chức và bộ máy của Đảng mà còn quy định cụ thể về thẩm quyền, nhiệm vụ của các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp; quy định về nguyên tắc sinh hoạt của đảng; về quyền và nghĩa vụ của đảng viên.

     Giai đoạn vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc (1955-1975)

     Ở miền Bắc, theo Điều lệ được Đại hội III của Đảng (1960) thông qua, cho tới ngày thống nhất Tổ quốc (1975), hệ thống tổ chức của Đảng gồm: toàn quốc; cấp khu (liên khu), tỉnh, thành phố cấp quận, huyện, thị xã, khu phố, xí nghiệp, cơ quan... Tương ứng với các cấp đảng bộ có Ban Chấp hành (Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh, thành; Ban Chấp hành đảng bộ huyện, xã và chi ủy)(3).

Trong điều kiện thuận lợi hơn so với trước, các tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở) đã phát triển mạnh, có mặt ở hầu hết các đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong các đơn vị và cơ quan chính trị, xã hội, kinh tế. Các bộ của Chính phủ (bao gồm cả Bộ Quốc phòng, Bộ Công an) đều thành lập đảng bộ. Riêng với quân đội, Đảng bộ quân đội bao gồm nhiều đảng bộ quân chủng, binh chủng, quân khu với cơ quan lãnh đạo cao nhất và trực tiếp là Quân ủy Trung ương. 

     Thời kỳ này, từ Trung ương tới các Ban chấp hành đảng bộ ở cấp tỉnh, huyện, đều tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc cấp ủy với cơ cấu về cơ bản là: văn phòng cấp ủy, ban tổ chức, ban tuyên huấn, ban dân vận, ban kiểm tra. Biên chế của các cơ quan này đã nhiều hơn và phân định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ đã rạch ròi hơn. Ở Trung ương có thêm Ban thống nhất, đặc trách về công tác miền Nam. Điều đặc biệt là Điều lệ Đảng quy định chức vụ Chủ tịch Đảng và Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

     Ở miền Nam, cơ cấu tổ chức Đảng có nhiều thay đổi. Từ năm 1954 đến năm 1961 Đảng bộ Nam Bộ do Xứ ủy Nam bộ phụ trách. Dưới cấp xứ bộ có các liên tỉnh bộ, tỉnh bộ, huyện bộ...do các cấp ủy các cấp tương ứng lãnh đạo. Từ tháng 10-1961, thành lập Trung ương cục đặt dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng phụ trách các đảng bộ miền Nam. Trung ương cục miền Nam gồm các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương hoạt động ở miền Nam, do một Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam là Bí thư. Bên dưới Trung ương cục miền Nam có Khu ủy, Tỉnh ủy, huyện ủy... Trung ương cục miền Nam, các khu ủy, tỉnh ủy có các cơ quan tham mưu, giúp việc theo điều kiện và tình hình (như Ban thanh vận, Ban trí vận...). Ở các tỉnh có phong trào cách mạng phát triển đồng đều thì hầu hết các huyện của tỉnh đều có đảng bộ huyện và huyện ủy.

     Giai đoạn cả nước quá độ đi lên CNXH và tiến hành Đổi mới (từ 1976 đến nay)

Vấn đề tổ chức của Đảng thời kỳ này bao gồm các công tác trọng tâm là: tổ chức các đảng bộ trong toàn quốc theo mô hình chung, thống nhất; quy định thống nhất chức năng, nhiệm vụ các cấp ủy (từ đảng ủy trực thuộc Trung ương tới đảng ủy cấp trên cơ sở, đảng ủy và chi ủy cấp cơ sở); thống nhất bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy các cấp.

     -Tổ chức các đảng bộ trong toàn quốc theo mô hình thống nhất: Từ Đại hội IV (1976) đến trước Đại hội VI (1986) là thời kỳ tổ chức Đảng trong cả nước được hoàn chỉnh, thống nhất theo một mô hình chung, cơ bản theo đơn vị hành chính, bỏ cấp khu tự trị. Các tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương bao gồm các đảng bộ ở tất cả các tỉnh, thành phố (sau năm 1976 do sáp nhập một số tỉnh, số lượng đảng bộ giảm, nhưng sau khi chia tách tỉnh, số lượng lại tăng, đến nay là 63 đảng bộ tỉnh, thành phố) và 2 đảng bộ lớn là Đảng bộ quân đội và Đảng bộ công an. Bên cạnh đó là một số đảng bộ khối các cơ quan Trung ương (có lúc lên tới 7 đảng bộ khối nay còn 3 là Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương và Đảng bộ khối các doanh nghiệp, Đảng bộ ngoài nước).Tổng số hiện nay là 68 đảng bộ trực thuộc Trung ương.

Bên dưới đảng bộ trực thuộc Trung ương là đảng bộ cấp trên cơ sở, bao gồm đảng bộ cấp huyện và tương đương, đảng bộ ở cơ quan bộ, cơ quan ban đảng (ví dụ, Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là đảng bộ cấp trên cơ sở). Hiện cả nước có khoảng 800 đảng bộ cấp trên cơ sở.

Tính đến nay, cả nước có 54.349 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 25.699 đảng bộ cơ sở và 28.567 chi bộ cơ sở. Tổng số đảng viên trong cả nước là 5.097.747(4).

     - Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ cơ quan lãnh đạo, điều hành của Đảng: Theo Điều lệ Đảng, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội Đại biểu. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương. Trung ương bầu ra Bộ Chính trị và Ban Bí thư để lãnh đạo, điều hành công tác của Đảng giữa hai kỳ họp. Từ Đại hội IV, chức vụ Tổng Bí thư thay thế cho Bí thư thứ nhất như Đại hội III quy định.

     Một điểm đáng lưu ý là sau 20 năm ổn định với hệ thống cơ quan lãnh đạo, điều hành như trên, Đại hội VIII (1996) đã thông qua Điều lệ Đảng sửa đổi, theo đó, thay đổi cơ cấu của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, lập ra Thường vụ Bộ Chính trị thay thế Ban Bí thư như trước kia. Sự thay đổi này kéo dài trong một nhiệm kỳ, tới Đại hội IX (2001), Điều lệ sửa đổi lại tái lập Bộ Chính trị và Ban Bí thư như hiện nay.

     - Tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy theo mô hình chung và chuyên nghiệp hơn: Trong thời kỳ từ 1976 tới 1986, từ Trung ương tới cấp ủy đảng địa phương (tỉnh, huyện), bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc đã phình to hơn. Ở Trung ương, ngoài 5 cơ quan trước, có thêm các cơ quan sau: Ban Tài chính-Quản trị, Ban Đối ngoại, Ban Kinh tế, Ban Công nghiệp, Ban Nông nghiệp, Ban Nội chính, Ban Khoa giáo, Ban Văn hóa-Văn nghệ. Có thể nói đây là thời kỳ Trung ương Đảng có nhiều cơ quan nhất, hơn nữa nhìn chung cơ cấu bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, biên chế của mỗi cơ quan (nhất là các cơ quan mới) chưa được quy định rõ ràng, rành mạch nên số lượng cán bộ tuy đông song hiệu lực, hiệu quả còn nhiều hạn chế.

     Theo mô hình ở Trung ương, ở nhiều tỉnh, thành phố cũng có thêm các ban Nội chính, ban Khoa giáo, ban Kinh tế, ban Nông nghiệp (một số thành phố thay bằng ban Công nghiệp) trong bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy.

     Năm 1986, Đại hội VI đã mở ra thời kỳ Đổi mới đất nước. Đại hội đã chỉ ra những khuyết điểm nhiều mặt, trong đó có sự cồng kềnh, thiếu khoa học trong tổ chức bộ máy Đảng, Nhà nước và nêu yêu cầu tinh giản bộ máy, biên chế đi đôi với nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý đất nước. Sau Đại hội, một số tỉnh và huyện do sáp nhập trở nên quá lớn thì được chia tách, đương nhiên về tổ chức đảng cũng được chia tách theo. Do vậy cùng với số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện tăng lên thì số lượng đảng bộ cấp tỉnh, cấp huyện cũng tăng lên. Xu hướng này kéo dài cho tới sau năm 2000, nâng tổng số đảng bộ cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung ương trong cả nước lên 63.

     Thấy rõ nhược điểm của sự phình to bộ máy, các cơ quan Đảng ở Trung ương được sắp xếp lại, theo đó cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90, một số Ban được sáp nhập, ví dụ Ban Nông nghiệp, Ban Công nghiệp sáp nhập trở lại với Ban Kinh tế. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương sáp nhập vào Ban Tuyên huấn Trung ương. Từ sau Đại hội VII (1991), vấn đề sáp nhập các Ban của Trung ương Đảng và của cấp ủy địa phương được đặt ra nghiêm túc, được nhiều hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị cân nhắc. Sau Đại hội VIII (1996), trong khi ở Trung ương, Ban Tài chính - Quản trị, Ban Khoa giáo, Ban Bảo vệ chính trị nội bộ còn tồn tại, thì ở cấp tỉnh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết sáp nhập các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy chỉ còn 6 là: Văn phòng, Ban Tuyên giáo, Ban Nội chính, Ban Dân vận, Ban Tổ chức, Ủy ban kiểm tra.

     Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, sau Đại hội X (2006), các ban đảng Trung ương tiếp tục được sáp nhập: Ban Khoa giáo hợp nhất với Ban Tuyên huấn thành Ban Tuyên giáo; Ban Tài chính - Quản trị Trung ương và Ban Kinh tế nhập vào Văn phòng Trung ương; Ban Bảo vệ chính trị nội bộ và Ban Nội chính hợp nhất vào Ban Tổ chức Trung ương. Từ đây, số ban Đảng Trung ương chỉ còn Văn phòng Trung ương, Ban Tổ chức trung ương, Ủy ban kiểm tra trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương. Ngoài ra có Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương. Ở cấp tỉnh chỉ còn 5 ban.

     Sau Đại hội XI (2011), trước tình hình tham nhũng diễn biến phức tạp, đặc biệt liên quan tới lãnh đạo lĩnh vực kinh tế, Bộ Chính trị quyết định tái lập Ban Kinh tế Trung ương và Ban Nội chính Trung ương. Ở cấp tỉnh, tái lập lại Ban Nội chính.

     -Tăng cường xây dựng thể chế Đảng ngày càng đầy đủ, chặt chẽ.  Lần đầu tiên sau Đại hội VII (1991), trên cơ sở Điều lệ Đảng, Trung ương Đảng đã ban hành ngay Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trong phạm vi thẩm quyền, Bộ Chính trị các khóa cũng chú trọng và lần lượt ban hành các Quy chế quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của mỗi cơ quan tham mưu, giúp việc, giúp cho vấn đề tổ chức được đồng bộ giữa hai mặtbộ máy và thể chế, đặc biệt đối với các cơ tham mưu trong lĩnh vực nhạy cảm, động chạm sát sườn tới quyền và lợi ích của cán bộ là cơ quan tổ chức, kiểm tra của Đảng. Hiện nay trong bối cảnh đấu tranh chống tham nhũng, vấn đề bộ máy và thể chế của cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng trong lĩnh vực này đang được quan tâm hơn nữa.


 

Bản lĩnh chính trị của Đảng với xây dựng Đảng về chính trị theo quan điểm Đại hội XIII

        Từ những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ những nội dung cơ bản trong xây dựng Đảng về chính trị và nhấn mạnh, trong bối cảnh đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế càng đòi hỏi không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. 


       1. Ngay từ những năm 20 thế kỷ XX, khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị với những quan điểm rất riêng và sáng tạo. Quốc tế Cộng sản chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa và cho rằng cách mạng thuộc địa chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản thắng lợi ở các nước tư bản (chính quốc). Tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng thuộc địa ở châu Á có thể chủ động giành thắng lợi và còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(1). Là người hoạt động quốc tế sôi nổi, nhất là trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ của đồng chí, bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Nhưng Người ý thức rõ ràng phải dựa vào thực lực của chính mình để tự giải phóng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(2). Ý chí tự lực, tự cường là rất rõ ràng và trở thành ý chí của toàn Đảng và toàn dân tộc.

      Ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu như Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ chính sách tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên và duy nhất viết Bản án chế độ thực dân. Ở xứ thuộc địa, mâu thuẫn dân tộc là cực kỳ gay gắt, vì vậy đấu tranh giải phóng dân tộc phải đặt lên hàng đầu chứ không phải đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bản phương Tây. Đó là điều rõ ràng trong quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Các giai cấp bóc lột ở Việt Nam (địa chủ, tư sản) đều nhỏ bé và phần đông họ có tinh thần yêu nước. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”(3); “nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”(4). “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(5).

       Với đặc điểm và mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp như thế, nên khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mục tiêu chiến lược là: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, để đi tới xã hội cộng sản. Đảng chủ trương lôi cuốn mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội vào thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, lôi kéo cả “phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam”. Quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc đã không được Quốc tế Cộng sản và một số đồng chí hiểu đúng, còn cho là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia, dân tộc. Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì giữ vững quan điểm nêu cao đấu tranh dân tộc và phải đến Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7-1935), một số đồng chí trong Quốc tế Cộng sản mới chia sẻ với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, và Quốc tế Cộng sản chủ trương các Đảng Cộng sản phải lập Mặt trận dân tộc, dân chủ chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới.

      Cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm 1930 đã chứng minh quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn, sáng tạo, không giáo điều. Hội nghị Trung ương Đảng (11-1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì (họp ở Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định) đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu. Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc. Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với mục tiêu giành cho được độc lập, với tinh thần độc lập trên hết, dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(6).

      Chủ trương đúng đắn đó đã đoàn kết và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc quyết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Trên tầm cao nhận thức, giành được độc lập, tự do cho dân tộc đã có lợi ích của bộ phận, giai cấp trong đó. Giải quyết đúng đắn lợi ích dân tộc và giai cấp thể hiện bản lĩnh chính trị, tầm trí tuệ của Hồ Chí Minh và Đảng ta. Những năm 1945-1946, cách mạng Việt Nam phải chống giặc ngoài, thù trong, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tỏ rõ bản lĩnh và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời có những quyết sách khôn khéo, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ngày 11-11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào bí mật, bảo toàn lực lượng. “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”(7). Trong lãnh đạo cách mạng XHCN, Hồ Chí Minh rất coi trọng tư duy sáng tạo, phân tích hoàn cảnh cụ thể của đất nước, học hỏi kinh nghiệm các nước nhưng không máy móc, giáo điều. Năm 1956, Người đã nhận thức “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(8). “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(9). “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước... cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”(10). Năm 1957, Hồ Chí Minh phân tích điều kiện của Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu: “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”(11). “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”(12).

      Trong quá trình lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cũng phạm một số sai lầm, khuyết điểm, hoặc trên những vấn đề lớn, hoặc trong phạm vi hẹp hay ở một số đồng chí. Sai lầm “tả” khuynh trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ (1931) và Trung ương đã kịp thời phê phán khuyết điểm của một số đồng chí trong hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử tờrốtkít và về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; việc tồn tại 2 Xứ ủy (Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải phóng) ở Nam Kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Khi Đảng nắm chính quyền, một số cán bộ, đảng viên đã phạm những lầm lỗi: Trái phép, Cậy thế, Hủ hóa, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời phê bình và yêu cầu sửa chữa. Sai lầm trong cải cách ruộng đất (1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tự phê bình trước nhân dân và quyết tâm sửa sai. Theo Người, tự chỉ trích, tự phê bình khi phạm sai lầm là yêu cầu đối với một Đảng chân chính cách mạng: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(13).

       Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và mãi mãi soi sáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng. Một là, Đảng nêu cao khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng bào, đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tuyệt đối trung thành với lý tưởng CNXH, chủ nghĩa cộng sản; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không xa rời những mục tiêu chiến lược căn bản đó. Hai là, độc lập tự chủ, luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của cách mạng, đất nước để vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh thích hợp và phương châm, con đường xây dựng CNXH có hiệu quả. Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả” khuynh, hữu khuynh, đồng thời chống giáo điều, nóng vội, duy ý chí. Ba là, nắm vững nguyên tắc cách mạng, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; chủ động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không hoang mang, dao động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, vững tin ở thắng lợi. Bốn là, thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc, cầu thị và quyết tâm sửa chữa. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền đều được Đảng sửa chữa có kết quả, củng cố được niềm tin của nhân dân, tăng cường thống nhất, đoàn kết trong Đảng và đồng thuận trong xã hội.

     2. Đại hội XIII của Đảng đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại hội XIII nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược.        Thực hành dân chủ trong Đảng, gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng"(14).

Từ những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:Đại hội nêu kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”(15).

       Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

      Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Cương lĩnh, đường lối là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ lịch sử. Luôn luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển một cách sáng tạo. Năng lực nhận thức quy luật khách quan bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn. Đường lối cách mạng XHCN trước đổi mới đã có lúc chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đường lối, chính sách phạm phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về CNXH và quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đường lối đổi mới không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) được bổ sung, phát triển năm 2011. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, nhận thức thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.

       Đại hội XIII cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, nhận thức. Trung thành mà không phát triển sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ. Phát triển mà không trung thành có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải được luôn luôn đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược có vai trò hoạch định đường lối.

       Có nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng gắn liền với hoàn chỉnh các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII nhấn mạnh quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng XHCN, giữa Nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì những chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực chính là hiện thực hóa đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII bổ sung mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa dân chủ và pháp chế, kỷ cương xã hội. Đó là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, nền chính trị vì dân, và do đó cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.

      Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị và không ngừng nâng cao trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược

       Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì CNXH, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người. Là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là phẩm chất chính trị, đức hy sinh, ý thức tổ chức và tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ ngày càng phát triển, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu cho trí tuệ.

      Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một Đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng lãnh đạo và cầm quyền phải được bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, chủ động, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có năng lực vượt qua khó khăn, thách thức.

         Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

      Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, là đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân

      Thực tiễn đổi mới đã ngày càng sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh việc đổi mới phong cách làm việc, khắc phục phong cách quan liêu, xa rời thực tế, xa rời nhân dân, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc và cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, các tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào, trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì mang lại nhiều thành quả cho sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức Đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực.

        Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh là điểm đặc biệt trong cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người. Hồ Chí Minh đã rèn luyện, không ngừng nâng cao bản lĩnh của Đảng chân chính cách mạng, bảo đảm cho Đảng vững vàng, chủ động vượt qua mọi khó khăn thách thức, đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Bản lĩnh chính trị của Đảng không những là yêu cầu của sự lãnh đạo của Đảng mà còn có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng.