Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín

Ngồi trên tàu hỏa leo núi ngắm lúa chín vàng dọc suối Hoa, hay ung dung trên cabin cáp treo lặng ngắm cả một thung lũng lòng chảo rực vàng... Nhìn từ góc độ nào, Fansipan, Sa Pa cũng quyến rũ lạ thường.

Hít một hơi thật sâu để hương lúa thơm chan đầy lồng ngực, Thu Dung (Hà Nội) nép sát mặt vào ô cửa kính tàu hỏa leo núi như thể nếu được gần hơn nữa thì chỉ cần với tay ra là cô đã chạm tới những bông lúa lưỡi câu căng mẩy kia rồi.

“Vừa cuối tuần trước mình lên tàu, lúa còn xanh mơn mởn. Đợi một tuần để lúa ngả vàng, lại lên đường đến Sa Pa. Bây giờ đường sá thuận lợi, cứ nhớ là có thể về Tây Bắc bất cứ lúc nào!”, Dung chia sẻ khi chìa khoe tấm ảnh chụp tàu hỏa leo núi qua mùa lúa xanh.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 0

Mùa lúa cũng là mùa cao điểm du lịch Tây Bắc. Từ đầu tháng 9, du khách khắp ngả đua nhau về Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang… chỉ để đón cho trọn một mùa vàng rực rỡ. Nhưng giờ, thung lũng Mường Hoa mới là điểm vàng của Tây Bắc.

Đi vào các xã Lao Chải, Tả Van, Hầu Thào, Bản Hồ, San Sả Hồ..., ngay từ điểm khởi đầu, du khách đã thấy những thửa ruộng bậc thang uốn quanh như sóng lượn dập dềnh dưới sâu thung lũng. Đặc biệt, ở Mường Hoa cũng có nhiều ruộng lúa hình mâm xôi đẹp không kém các “mâm xôi” nổi tiếng của Mù Cang Chải. Nhưng đi tới gần thì cũng chỉ có thể ngắm những bông, những thửa lúa vàng quen thuộc như bao vùng quê. Chỉ khi tìm được điểm ngắm nơi thế đất cao, tầm nhìn bao quát, không vướng bận, du khách mới được thỏa sức mà ngắm trọn vẹn biển lúa vàng.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 1

Bay lên cao, “khán đài” đẹp nhất để ngắm Mường Hoa chẳng phải từ cabin cáp treo Fansipan đó sao. Ngay vừa khi rời khỏi nhà ga, cả một thung lũng vàng óng, nên thơ mà kỳ vĩ đã hiện ra như Tây Bắc đang chào đón các vị khách phương xa bằng món quà quý nhất. Mở cửa chớp phía trên nóc mái cabin, cảm như du khách có thể hít hà thấy cả hương lúa, hương mây, hương thảo mộc hòa quyện, phảng phất trong không gian nên thơ ấy.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 2

Đợi cả năm chỉ có một mùa lúa xanh, lúa chín kéo dài chưa đầy tháng này thôi. Hiếm là vậy, nhưng đáng yêu, đáng quý như thế, nên hễ tháng 9 vừa về, thu vàng vừa chạm ngõ, người yêu Tây Bắc đã vội vã hẹn nhau dành hết những ngày cuối tuần ở Mường Hoa, ngắm cho đủ lúa gần, lúa xa, cho thỏa cơn thèm, nỗi nhớ.

Đi qua khung cảnh lúa vàng thơ mộng dưới nhân gian, vượt khỏi ba tầng mây phủ, du khách đã lên tới “cổng trời”. Ở nơi này, trời cao xanh vợi, mây bồng vấn vít mỗi bước chân, đưa du khách thưởng ngoạn quần thể văn hóa tâm linh vi diệu Fansipan.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 3

Cúi mình trước Đại Tượng Phật A Di Đà, tản bộ dọc Đường La Hán, cầu ước bình an trước tượng đồng Quan Thế Âm Bồ Tát, Kim Sơn Bảo Thắng Tự và “check-in” đỉnh cao kỷ lục 3.143m của nóc nhà Đông Dương, hành trình du ngoạn Tây Bắc trong tiết thu vàng như thế là trọn vẹn.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 4

Và khi đêm xuống, lúa đã ngủ say, bếp lửa bập bùng reo vui tí tách cũng là lúc người Tây Bắc mở tiệc đón khách phương xa. Tại chợ phiên Tây Bắc Sun World Fansipan Legend, bên những nồi thắng cố ấm nồng, rượu ngô thơm nức, các dãy hàng ẩm thực hấp dẫn là rất nhiều hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật bản địa đặc sắc, những hoạt động vui chơi giải trí mang đậm dấu ấn vùng cao được tổ chức, thu hút đông đảo du khách nhập cuộc.

Trải nghiệm những góc nhìn đẹp nhất của thung lũng Mường Hoa mùa lúa chín 5

Tây Bắc là chính đây thôi! Fansipan là như thế, điểm phải đến một lần trong đời – Đến để thưởng ngoạn, để say đắm, để rồi nhớ, rồi yêu như quê hương và mong ngóng ngày trở lại.

HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 Giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thường xuyên kết hợp được xây dựng đạo đức mới đi đôi với đấu tranh chống lại những hiện tượng phi đạo đức. Người ý thức sâu sắc rằng, cách mạng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, luôn luôn có những thế lực thù địch chống phá quyết liệt.


Suy đến cùng, đạo đức cách mạng mà chúng ta xây dựng là đạo đức tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình; còn cái phi đạo đức nguy hiểm nhất, trở thành "giặc trong lòng", "giặc nội xâm", cần phải chống là chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chủ nghĩa cá nhân là một loại vi trùng độc hại, làm tha hóa các quan hệ vốn có của mỗi đảng viên.

Với mình thì tự cao, tự đại, tự phụ, kiêu ngạo, lo thu vén lợi ích riêng; trong lãnh đạo, quản lý thì độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thích địa vị, quyền hành; đối với quần chúng thì coi thường, coi khinh, chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô... Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”.

Do vậy, chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính. Người cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết trên trán chữ “cộng sản” là được họ yêu mến”, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về bản chất, cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân đối với một Đảng cẩm quyền, vì khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm, thực hiện những giải pháp nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách có hiệu quả.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những giải pháp thiết yếu đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân là mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận đối với mỗi đảng viên trong Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, cũng như là để chống chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là nội dung quan trọng tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ: “Quan tham vì dân dại”. Do thiếu hiểu biết nên nhân dân không có khả năng thực hành với tư cách của người làm chủ. Ngược lại nếu họ hiểu biết nắm vững được pháp luật, nắm vững quyền làm chủ của mình, họ sẽ đấu tranh, bảo vệ quyền làm chủ của mình.

Thứ ba, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng, thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát cán bộ, đảng viên của các cơ quan nhà nước, thực hiện kỷ luật nghiêm minh, của các tổ chức Đảng. Bởi theo Người, nếu thiếu những điều đó thì con người dù làm bất cứ việc gì, ở bất cứ ngành nào cũng dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị suy thoái, hủ hoá.

Đấu tranh chống lại cái sai, cái xấu, cái ác phải đi liền với xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, hướng vào xây và lấy xây làm chính, là một nhiệm vụ chủ yếu, lâu dài. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới – cuộc sống XHCN.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chủ nghĩa cá nhân là sự biểu hiện tập trung nhất của suy thoái đạo đức, lối sống tha hóa nhân cách cộng sản, trở thành nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền. Quan niệm, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng có giá trị lâu dài và tính thời sự cấp thiết. Chính vì vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, học tập và làm theo quan điểm này của Người là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng với tư cách là giải pháp hàng đầu ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW4 (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ./.

Không thể xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

 

Chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu thâm hiểm, lâu dài của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, giai đoạn hiện nay, chúng luôn tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam....

Tuy nhiên, với động cơ chính trị đen tối và góc nhìn phiến diện, chủ quan, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tìm mọi cách xuyên tạc thành quả cách mạng, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Hàng loạt luận điệu sai trái đã được họ đưa ra như: “Chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời, lạc hậu”; “Chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp với Việt Nam”; “Chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả tiền”; “Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, kiên định với “chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” là “lạc nhịp”, “đi ngược xu thế”... Từ đó, các thế lực thù địch, phản động đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác.

Để biện minh cho những luận điệu nói trên, họ thường tạo dựng, xuyên tạc bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng; thông tin sai sự thật, bóp méo tình hình đất nước. Nhiều phần tử cơ hội chính trị cũng xuyên tạc về mô hình phát triển của Việt Nam. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách vin vào tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên rồi phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...

Thực chất, cái đích mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến là làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; mất niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Từng bước xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa và đưa Việt Nam đi theo con đường khác - con đường tư bản chủ nghĩa.

Cần nhấn mạnh, kiên trì con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã thu được những thành tựu vô cùng to lớn. Nổi bật là đã tạo ra “kỳ tích” về xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh xuống còn khoảng 2,75% (năm 2020). Năm 2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm. Nước ta cũng đang hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng khi tầng lớp trung lưu chiếm 10% dân số hiện nay sẽ tăng lên 50% vào năm 2035 theo như dự báo của Ngân hàng thế giới. Việt Nam cũng đặt mục tiêu, “đến năm 2030, ... là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” (1); “đến năm 2045, ... trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (2).

Đối với tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên,... cần thấy rõ đó chỉ là số ít; hoàn toàn không đại diện cho số đông cán bộ, đảng viên hiện nay. Những cán bộ thoái hóa, biến chất đó đã được Đảng ta kỷ luật nghiêm minh, với những hình phạt thích đáng. Chỉ tính trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã “có 87.210 đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có 49.400 đảng viên bị xử lý kỷ luật do liên quan đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; 3.260 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, trong đó có hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý, hơn 30 sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang” (3). Điều này thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng ta trong việc làm trong sạch đội ngũ, kiên quyết loại bỏ những đảng viên tha hóa, biến chất, để Đảng thực sự tiên phong trong sự nghiệp lãnh đạo dân tộc vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Rõ ràng, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hôi chủ nghĩa. Đó cũng là minh chứng sinh động để chúng ta bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các phần tử chống đối, thù địch. Vì vậy, dù được che đậy dưới những hình thức, thủ đoạn nào thì các thế lực thù địch, phản động cũng không thể xuyên tạc hay phá hoại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam hiện nay.

Kiên định, kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là định hướng đúng đắn; phù hợp với nguyện vọng của Đảng và dân tộc ta, là điều kiện để nhân dân có cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc./.

Tài liệu tham khảo:

(1), (2). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Dự thật, Hà Nội, 2021, tr. 326, 327.

(3). TS Nguyễn Xuân Trường, Những điểm mới trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phòng, chống tham nhũng và suy nghĩ bước đầu về giải pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định hiện nay.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần quan tâm đến 3 yếu tố cốt lõi là: con người, tổ chức và cơ chế hoạt động.

Về con người:

Lực lượng nòng cốt làm công tác này bên cạnh bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, am hiểu về công nghệ và kỹ năng truyền thông, cần phải rèn luyện “tinh thần thép” và có những nỗ lực vượt bậc. 

“Tinh thần thép” được hình thành dựa trên niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta; vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng; có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy được những khó khăn trước mắt chỉ là tạm thời, những tiêu cực chỉ là hiện tượng xã hội; nêu cao lòng yêu nước, tính tiên phong, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới, khó, lấy đó làm cơ hội để thử thách và trưởng thành, từ đó không chùn bước trong cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho chính nghĩa để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn ẩn danh, cuộc đấu tranh trên không gian mạng rất khó khăn, cam go, lâu dài, nên mỗi cán bộ, đảng viên cần giữ vững bản lĩnh chính trị, say mê lao động, không ngừng nghiên cứu, học tập, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn để có nền tảng lý luận vững vàng, không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt vai trò sứ giả truyền cảm hứng cho chính đội ngũ của mình và lan tỏa đến người đọc trong công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội.

Về tổ chức:

Tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng do ban chỉ đạo các cấp, các ngành về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Ban Chỉ đạo 35) chỉ đạo, quản lý. Trong đó, tại cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cần bố trí cán bộ chuyên trách, đáp ứng tính chất của công việc để bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, vừa điều hành, tác chiến thường xuyên, liên tục.

Làm tốt công tác định hướng, bồi dưỡng, phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt trong việc nắm tình hình, thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội và tác chiến bí mật.

Phát triển mạng lưới cộng tác viên trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú ý tập hợp cộng tác viên từ các địa bàn, cơ sở; từ đoàn viên, sinh viên, học sinh, cán bộ hưu trí... để tạo ra một kênh nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, những vụ việc nóng về cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành.

Về cơ chế hoạt động: 

Cần sớm thiết lập, ràng buộc trách nhiệm pháp lý, thống nhất và triển khai nghiêm cơ chế phối hợp giữa Chính phủ với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài, như: Google, Youtube, Facebook... trong việc quản lý, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu, độc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang fanpage, group, trang Facebook, kênh Youtube, blog,... Phát triển các trang fanpage, group, Facebook, kênh Youtube, blog... tuyên truyền bảo đảm bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động; xây dựng các chuyên mục thông tin chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng phát hiện thông tin xấu, độc, hình thành “thế trận toàn dân” trên không gian mạng, góp phần làm trong sạch môi trường mạng, giữ vững an toàn thông tin.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp, phát huy sức mạnh tổng lực của lực lượng ban chỉ đạo 35 trong cả nước. Thống nhất trung tâm điều hành hoạt động đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đến các ban, bộ, ngành và địa phương trong định hướng thông tin, tuyên truyền, bồi dưỡng nghiệp vụ (quản trị các nhóm, trang; điều hành, kỹ thuật tác chiến; phương pháp phản biện, đấu tranh ẩn danh;...).

Triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với các tổ chức, cá nhân có nhận thức khác hoặc chưa đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - nhất là đối với các cá nhân có uy tín, có trình độ, thái độ tích cực, có tầm ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên, nhân dân tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ trong xử lý tình hình nóng, phức tạp nổi lên tại các địa bàn, lĩnh vực giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương. Kịp thời phát hiện, phối hợp giáo dục, xử lý nghiêm, đủ sức răn đe đối với các đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội đưa, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật.

Nghiên cứu, sớm ban hành quy chế bảo vệ người tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để kịp thời xử lý những “sự cố” trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khi người tham gia đấu tranh bị đe dọa, bị xâm hại thân thể, uy tín, nhân phẩm, công việc, gia đình, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác./.

X.THUY10.21

 

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CÁN BỘ MIỄN NHIỆM, TỪ CHỨC: CẦN THIẾT, KỊP THỜI

 Ngày 3.11, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Quy định này thay thế Quy định số 260-QĐ/TW ngày 2.10.2009 của Bộ Chính trị.


Cần thiết, kịp thời

Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hữu Cường thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW, thay thế Quy định 260-QĐ/TW, là rất cần thiết và kịp thời, đáp ứng tình hình hiện nay.

Lý giải về điều này, theo tiến sĩ khoa học Nguyễn Hữu Cường, miễn nhiệm, từ chức không phải là vấn đề mới mà đã được Đảng ta đề cập từ nhiều nhiệm kỳ. Tuy nhiên, trong thực tế, việc miễn nhiệm, từ chức chưa được thực hiện tốt như chủ trương đã đề ra.

Tình trạng cán bộ yếu kém, không đủ năng lực, uy tín nhưng vẫn giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn phổ biến ở nhiều nơi, trong các lĩnh vực, gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội.

Vì vậy, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41 có nhiều điểm mới so với trước đây. Cụ thể, miễn nhiệm là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức. Từ chức là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Trong khi đó, theo quy định cũ, hai khái niệm này được định nghĩa như sau: miễn nhiệm' là việc cấp có thẩm quyền quyết định chấm dứt chức vụ đối với cán bộ do vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức, năng lực yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức hoặc bãi nhiệm. Miễn nhiệm gắn với yếu tố chủ quan do cán bộ gây nên. Từ chức là việc cán bộ tự nguyện, chủ động xin thôi giữ chức vụ và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Có thể thấy, theo quy định mới, miễn nhiệm được bổ sung thêm “khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm” để xác định cụ thể hơn về việc miễn nhiệm với các trường hợp: không đáp ứng được yêu cầu công việc (quy định cũ là năng lực yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ); uy tín giảm sút (quy định cũ là mất uy tín); có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức (quy định cũ bao gồm cả trường hợp chưa đến mức bị kỷ luật bãi nhiệm).

Quy định 41 bổ sung thời điểm cán bộ từ chức là “khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm." Ngoài ra, Bộ Chính trị cũng bổ sung hai khái niệm mới là "vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng" và "vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng" song song với việc bỏ các khái niệm “thôi giữ chức vụ," “cấp có thẩm quyền," "tập thể lãnh đạo” và “cơ quan tham mưu."

Đặc biệt, điểm mới nữa của Quy định 41 là không cho cán bộ từ chức nếu phải miễn nhiệm. Về nguyên tắc, Đảng sẽ kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ. Không thực hiện việc cho từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm. Quy định 41 quy định rõ đối với 6 trường hợp miễn nhiệm, 4 trường hợp xem xét cán bộ từ chức.

Thời gian quyết định miễn nhiệm, cho từ chức chậm nhất trong 25 ngày. Trước đây, tại Quy định 260, Bộ Chính trị quy định về quy trình xem xét cho cán bộ miễn nhiệm, từ chức theo quy định riêng và quy định thời gian giải quyết, xem xét miễn nhiệm, từ chức của cán bộ là trong thời hạn 30 ngày (theo Điều 19 Quy định 260).

Điểm mới nữa của Quy định 41 là về quy trình miễn nhiệm, từ chức của cán bộ đã được quy định ngắn gọn hơn, giảm bớt hồ sơ cũng như được quy định thống nhất, cụ thể hơn.

Trước đây, theo Quy định 260 yêu cầu hồ sơ của từng trường hợp khi xem xét miễn nhiệm và khi xem xét từ chức cho từng loại riêng. Nay theo Quy định 41, cả trường hợp từ chức và miễn nhiệm đều sử dụng thống nhất những loại hồ sơ như Tờ trình về công tác cán bộ của cơ quan tham mưu; Quyết định, kết luận, thông báo, ý kiến của cơ quan có thẩm quyền; biên bản hội nghị, đơn xin của cán bộ xin từ chức; Báo cáo đề nghị của cơ quan sử dụng cán bộ cùng các tài liệu liên quan khác.

Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hữu Cường nhấn mạnh với việc siết chặt quy trình công tác cán bộ, đổi mới đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí cụ thể, đồng thời đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng không có "vùng cấm," sự việc cán bộ "có lên, có xuống," "có vào, có ra” đã là thực tế được cán bộ, đảng viên và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao trong thời gian qua. Ngay cả những trường hợp tưởng đã "hạ cánh an toàn” cũng bị đưa ra xem xét, xử lý trách nhiệm nghiêm minh nếu có vi phạm.

Đồng quan điểm này, ông Phạm Tâm Hiếu, đảng viên ở phố Giảng Võ, quận Ba Đình (Hà Nội) cho biết Quy định 41 lần này đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn khi xem xét miễn nhiệm cán bộ so với Quy định 260. Đó là căn cứ vào một trong các trường hợp như: bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách nhưng uy tín giảm sút không thể đảm nhiệm chức vụ được giao. Bị kỷ luật khiển trách hai lần trở lên trong cùng một nhiệm kỳ hoặc trong thời hạn bổ nhiệm. Có trên 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định. Có hai năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ. Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến," "tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi đang công tác.

Đối với cán bộ xin từ chức, việc xem xét được căn cứ vào một trong các trường hợp sau: do hạn chế về năng lực hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; để cơ quan, đơn vị mình quản lý, phụ trách xảy ra sai phạm nghiêm trọng; có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định...

Đáp ứng tình hình mới

Tiến sĩ Phạm Quốc Sử, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau, chia sẻ thực tiễn tình trạng cán bộ mắc sai phạm đến mức phải kỷ luật, miễn nhiệm lại làm đơn từ chức để giảm bớt khuyết điểm của mình.

Hiện nay, Quy định 41 đã xác định rất rõ, những trường hợp đã xác định miễn nhiệm không được từ chức, điều đó đã lấp vá lỗ hổng, những khoảng trống để cán bộ có vi phạm lợi dụng.

Cụ thể, Quy định số 41-QĐ/TW của Bộ Chính trị vừa ban hành về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ đã xác lập hệ thống các nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình xem xét việc miễn nhiệm, từ chức với cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.

Quy định mới đã có kế thừa nhiều bài học kinh nghiệm, cụ thể hoá nhiều tiêu chí để xem xét, đánh giá trong việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Đồng thời, quy định này cũng mở đường để từng bước hình thành văn hoá từ chức đối với cán bộ mắc khuyết điểm.

Quy định này có kế thừa những kinh nghiệm quốc tế liên quan tới những vấn đề về cán bộ, về thể chế, về quản trị cán bộ, quản trị con người, cụ thể hoá những tư duy, quan điểm mới của Đảng về công tác cán bộ, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm tạo ra sự thay đổi trong nhận thức đánh giá cán bộ. Mục đích cuối cùng là tăng cường trách nhiệm cán bộ, để lựa chọn cán bộ, để rèn luyện cán bộ theo những yêu cầu về năng lực, phẩm chất đáp ứng với tình hình mới.

"Tôi cho rằng với việc ban hành quy định về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ này có thể mở đường để từng bước hình thành văn hoá từ chức đối với cán bộ mắc khuyết điểm. Việc từ chức cần được nhìn nhận một cách thoáng hơn trong chính các cơ quan, đơn vị và trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, cần nhìn nhận ở khía cạnh nhân văn với việc từ chức. Khi cán bộ nhận thấy khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm và có những cống hiến vươn lên cũng cần được ghi nhận một cách xứng đáng. Điều này sẽ giúp cán bộ khi mắc khuyết điểm sẽ không “ngoan cố” tới cùng, không cố gắng tìm đủ mọi cách đề “giữ ghế” đến cùng.

Để hiểu từng tiêu chí như thế nào vẫn cần có một hướng dẫn chi tiết, hướng dẫn thực hiện để các đơn vị áp dụng một cách thống nhất, đồng bộ. Công tác tổng kết vừa qua cho thấy, một số cán bộ thôi chức chủ yếu là thôi giữ một chức vụ cụ thể để nhận nhiệm vụ mới cao hơn, chứ không phải cho thôi chức vì mắc khuyết điểm, sai phạm. Vì vậy, Quy định mới của Bộ Chính trị đã bỏ quy định liên quan tới cho thôi chức mà tập trung vào miễn nhiệm và từ chức là vấn đề cần thiết về thực tiễn còn đang thiếu.

Cán bộ mắc khuyết điểm chưa đến mức phải kỷ luật nhưng uy tín giảm sút sẽ xem xét miễn nhiệm cán bộ, không đợi đến tuổi nghỉ hưu và cũng không đợi hết nhiệm kỳ, cũng không đợi kỷ luật. Việc từ chức là khuyến khích cán bộ từ chức khi thấy bản thân liên đới trách nhiệm khi để cơ quan, đơn vị mình quản lý, phụ trách xảy ra sai phạm nghiêm trọng... Đảng sẽ tạo điều kiện cho cán bộ từ chức để đảm bảo linh hoạt hơn trong quá trình giải quyết đối với cán bộ," tiến sĩ Phạm Quốc Sử nêu ý kiến.

DỄ NHẤT, THÍCH NHẤT

 Qua mấy năm tham gia vào cái mạng xã hội, tôi chiêm nghiệm được mấy điểm dưới dây:


Dễ nhất là truyền bá những điều tiêu cực trong xã hội, hoặc mặt chưa tốt của một người nào đó. Vậy ngược lại, cũng có nghĩa là rất khó để người này thấy được mặt tốt của xã hội hay của một người nào đó.

Trong hoạt động văn hóa nghệ thuật, thì dễ nhất là sáng tác những tác phẩm mà có người gọi là “mì ăn liền”, tức là tác phẩm đó chỉ sống được trong một thời gian ngắn. Kiểu như “Anh kia lừa dối chị này. Anh kia đánh đập chị này và chị ngã xuống đây!” (bài hát ‘Thật bất ngờ’). Các tác phẩm hài cũng trong tình trạng đó; coi hài kịch mà không sao cười nổi! Coi kịch coi phim của ta khác nào nghe “câu chuyện đêm khuya” mà đài phát thanh của ta đọc vào khuya thứ bảy hàng tuần.

Vậy ngược lại, cũng có nghĩa là rất khó để cho các nghệ sĩ sáng tác những tác phẩm để đời, như tác phẩm của Văn Cao và các nhạc sĩ tài hoa trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chẳng hạn. Vì không chọn được từ để gọi, chứ thực tâm tôi không muốn gọi những bài hát, vở kịch theo kiểu “mì ăn liền” đó là “tác phẩm”. Gọi như thế là xúc phạm những nghệ sĩ tài danh!

Còn người ta thích nhất điều gì ư? Thích nhất là nghe nói xấu người này người nọ. Những câu chuyện tốt rất ít được lan tỏa trong xã hội, song những điều bịa đặt, bôi bác… thì ôi thôi lan tỏa đến chóng mặt. Tỷ như có một kẻ nói, ông tổ trưởng dân phố nọ mang gạo cứu trợ về nhà mình, thế là có ngay hàng ngàn like, hàng trăm share; trong khi đó là gạo cứu trợ được phường xã gởi vào đó vì nhà ông tổ trưởng còn rộng chỗ.

Chính cái điều vô lý ấy là miếng đất màu mỡ cho những kẻ chống đối, kẻ phá hoại tận dụng để kích động nhân dân làm mất ổn định xã hội. Có những người có thái độ rất tích cực chống lại bọn phản động kiểu Việt Tân chẳng hạn, nhưng khi viết bài phê phán chúng thì lại bê nguyên si phần chúng viết để kích động. Tuy đã có hai gạch chéo, song cái đó có che được bài viết của chúng đâu. Vậy là chúng ta đã giúp chúng lan tỏa bài viết của chúng đến những người chưa biết.

Đã có lần tôi thấy trên kênh KBCHN của Nguyễn Phương Hùng có cách truyền bá những bài viết của bọn chống Cộng như vậy. Phần đầu ông ta viết trên “tút” của mình có tính phê phán sơ sơ, gần như gợi mở, phần trích dẫn là nguyên văn của bọn chống Cộng. Hay kênh NVTD lại có cách khác, kín kẽ hơn. Mỗi lần NVTD muốn chửi nhà nước ta thì gợi ý cho một cộng tác viên nói. Cả hai trường hợp này, khi bị tôi vạch rõ tim đen thì họ hủy kết bạn.

Để nguyên thì không mấy người biết bọn chống đối có những lời lẽ thô tục với lãnh tụ của ta và nhà nước ta, song do cần dẫn chứng, thế là vô tình bạn đã thay mặt đám chống đối lan tỏa những câu nói đó. Có khác nào anh A muốn chửi anh B nhưng lại bảo với B rằng thằng C nó chửi mày là đồ nọ đồ kia đó!

Hãy là một người dùng mạng thông minh các bạn ạ. Còn đối với những kẻ cố tình phá hoại, cố tình làm mất ổn định xã hội thì tốt nhất đừng bao giờ lan tỏa những bài viết của họ (bằng cách trích dẫn hay đăng lại), đã có lần tôi gọi đó là “tiếp sóng”, là cách chuyển tiếp những bài viết của nơi này đến nơi khác.

Có một bài thơ chỉ có bốn câu mà là triết lý cuộc đời (tôi không biết tác giả là ai?):

“Nửa cốc nước đủ làm vơi cơn khát
“Nửa vầng trăng đủ cho kẻ mộng mơ
“Nửa sự thật không còn là sự thật
“Nửa tình yêu không ai nhận bao giờ!

Vì vậy chỉ mới nghe một nửa sự thật thì bạn đừng tìm cách để nó lan tỏa khắp nơi, vì “nửa sự thật không còn là sự thật” bạn ạ./.

Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành cùng thực tiễn

 Lý luận có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng; chỉ đảng nào có được lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới làm tròn vai trò của người chiến sĩ tiên phong.


Giữa lúc cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, chìm trong bóng tối; Nguyễn Văn Ba (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi bôn ba khắp các châu lục, vừa nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, nhất là đọc Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Người đặt ra câu hỏi và tự trả lời là: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì”.

Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như “người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3/2/1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây không chỉ là sự vận dụng sáng tạo mà còn là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin về Đảng Cộng sản; là kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý luận chiến tranh nhân dân, nhân dân ta đã giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định tầm nhìn chiến lược và lộ trình, bước đi để phát triển đất nước trong 5 năm, 10 năm, 25 năm tới. Yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi không thể để kéo dài tình trạng lạc hậu của lý luận so với sự vận động và đòi hỏi của thực tiễn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn, phải có tầm nhìn vượt trước; phải tạo được những bước đột phá về lý luận phát triển, khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm phục vụ cho việc hoàn thiện thể chế, xây dựng đường lối, chủ trương, định hướng, chính sách phát triển.

Để lý luận vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn cần phải thực hiện đồng bộ một hệ thống giải pháp, nhất là những giải pháp sau:

Thứ nhất, nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn và thực hiện nghiêm túc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng ta về vị trí, vai trò của lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (3). Điều đó đòi hỏi, các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp, trong nhận thức và hành động cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn và thực hiện nghiêm túc những chỉ đạo; kiên quyết khắc phục thái độ xem nhẹ, thậm chí coi thường lý luận, “coi khinh lý luận” như Bác Hồ đã lưu ý.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”. Đại hội VI của Đảng nêu rõ “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy… Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”. Đại hội XIII của Đảng xác định các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó định hướng thứ nhất nêu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Thứ ba, gắn tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Đại hội XIII đề ra yêu cầu: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”.

Thứ tư, thực hành dân chủ, khuyến khích tìm tòi sáng tạo trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó cũng là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.

Thứ năm, đẩy mạnh nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của thế giới. Đảng ta luôn coi trọng nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của thế giới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã chỉ rõ: Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó.

PHÓ THỦ TƯỚNG VŨ ĐỨC ĐAM: KHÔNG CÁCH LY NHƯ CŨ, BÌNH THƯỜNG MỚI NHƯ CÁC NƯỚC

 Chia sẻ về công tác phòng chống dịch tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn liên quan đến lĩnh vực y tế chiều 10-11, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cho hay "có nhiều điều để nói" khi đây là một cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn, số ca nhiễm vẫn tăng.


Lắng nghe ý kiến của các đại biểu về công tác phòng chống dịch, với những bất cập được nêu ra, ông Đam nhìn nhận là "rất đúng" như việc hệ thống y tế quá tải, bất cập trong quản lý điều hành, bao gồm ngành y tế… nên sẽ nghiêm túc tiếp thu, từng bước chắc chắn, khẩn trương khắc phục, vì không thể để đợt dịch gây đau thương, tổn thất lớn như vừa rồi.

Ông chia sẻ, không chỉ lực lượng y tế, công an, quân đội, mà lực lượng cán bộ chính quyền, ở TP.HCM hay các địa phương có ca nhiễm nặng là vô cùng vất vả và đều quá tải. Có những phường ở Bình Dương có tới 18.500 người nhiễm. Cả Đồng bằng sông Cửu Long nhiễm ít nhưng căng hơn dây đàn vì không có vắc xin, hệ thống y tế yếu…

"Chúng ta không phải xã hội lý tưởng, quản lý như máy tính, hằng đêm chúng tôi vẫn phải giải quyết hàng trăm bà con đi từ TP.HCM, Bình Dương về các tỉnh. Giải quyết thông thoáng cho đi cũng không được vì hôm sau bà con về nhiều hơn, mà giữ bà con lại, người già, trẻ con, có khi là mưa gió, day dứt lắm. Tất cả đồng chí lãnh đạo các tỉnh đều vô cùng day dứt, không có ai yên lòng được đâu. Giờ chúng ta phải giữ vững được thành quả này", ông Đam chia sẻ.

Theo đó, Phó thủ tướng cho rằng những việc cần tập trung là tiêm khi có vắc xin về, chấp nhận còn lây lan, song tốc độ lây chậm đi và tỉ lệ nhiễm nặng sẽ thấp hơn, cho phép chúng ta bình tĩnh hơn sau khi tiêm xong vắc xin.

Thông tin thêm, ông Đam khẳng định vắc xin hiện nay đã đủ. Theo báo cáo của Bộ Y tế, để tiêm đủ cho người lớn 2 mũi thì miền Bắc thiếu 23 triệu liều, tuần thứ 4 tháng 11 sẽ phân bổ đủ, tiêm phủ hết các tỉnh phía Bắc; miền Trung cần thêm 5 triệu liều, tuần thứ 3 tháng 11 đủ vắc xin; Tây Nguyên cần thêm 2,5 triệu liều, tuần thứ 2 tháng 11 đủ hết; các tỉnh ĐBSCL và miền Nam thiếu 4 triệu liều thì tuần này sẽ đủ hết.

"Bây giờ chúng ta sẽ tiêm và tiêm, tiêm cho an toàn", ông Đam khẳng định.

Ông nói thêm là tiêm vắc xin rồi nhưng vẫn lây nhiễm, nên phải đeo khẩu trang. Theo đó, Quốc hội làm gương đeo khẩu trang, toàn dân chúng ta vẫn phải 5K. Bởi nếu không thực hiện, lây nhiễm nhiều người, sẽ quá tải hệ thống y tế. Dẫn chứng, hiện ta mới tiêm 100% người từ 12 tuổi trở lên thì cũng chỉ được 80% dân số, vắc xin bảo vệ cũng chỉ được 80%, nên chỉ 64% được bảo vệ. Do đó, ta không làm tốt an toàn trong sinh hoạt, sản xuất thì sẽ dẫn tới quá tải, khi mấy chục triệu người vẫn còn nguy cơ.

Để chung sống được, khi tiêm vắc xin rồi thì thực hiện giám sát y tế, chủ động nguồn cung công nghệ và sinh phẩm xét nghiệm. Ông nói, Thủ tướng, các phó thủ tướng bàn về nguyên tắc Chính phủ mua tập trung kit xét nghiệm với giá rẻ hơn, sau đó cách ly theo phương thức mới, không cách ly như cũ, để mọi người thực sự bình thường mới như các nước đang làm.

Tiếp đến, ông Đam nói chúng ta cần sẵn sàng thuốc. Thuốc điều trị các triệu chứng đã có đủ, dự trù thuốc, nhưng quan trọng là cho điều trị sớm và thực hành dần điều trị tại nhà, như trước đây nói tập xét nghiệm và tập cách ly tại nhà. Tiếp tục giám sát với người có bệnh nền, trẻ em, vì các cháu vẫn chưa được tiêm vắc xin, có triệu chứng là phải giám sát ngay.

Cuối cùng là tập huấn, nâng cao năng lực chỉ huy. Thực tiễn ta làm tốt, nhưng ở TP.HCM bước vào tình trạng đặc biệt nghiêm trọng, hay có ý kiến cho rằng thảm họa y tế, cần phải tập huấn cho cán bộ y tế, làm tốt việc này thì tránh được. Do đó, nếu tiêm nhanh thì sẽ có độ phủ lớn nhất thế giới, nên một tháng tới đây là vô cùng quan trọng.

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG LƯỜI HỌC, NGẠI HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

  “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị...” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Đảng đã chỉ ra. Do đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phải “Khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.


   QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

   Theo Hồ Chí Minh, lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước; là khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản..

   Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là “để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”. Người cũng chỉ rõ, một trong những nhược điểm lớn của Đảng là “trình độ lý luận còn thấp kém… cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”; đối với cán bộ, không học lý luận sẽ khiến cho “chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”, “...vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”, do không nắm vững lý luận, nên nhiều cán bộ mắc bệnh ba hoa, kết quả là “… một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác”.

   Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ, trong Đảng còn nhiều người “chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập..”, “...chúng ta đã áp dụng một số kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo, không có kết quả, cho nên thiếu tin tưởng đối với sự cần thiết phải học tập lý luận”.

   Từ thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên còn lười học, ngại học lý luận chính trị, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận”, “Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng”.

   NHẬN DIỆN THỰC TRẠNG

   Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có biểu hiện thứ ba: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

   Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phải “Khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

   Qua thực tế công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, có thể nhận diện những biểu hiện ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay là: 1) chỉ chú ý đến học tập chuyên môn, nghiệp vụ mà ít hoặc không quan tâm đến học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị; chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị. Không ít cán bộ, đảng viên cho rằng việc học tập lý luận ít mang lại hiệu quả, dẫn tới học tập đối phó, nghiên cứu qua loa, đại khái, chiếu lệ, hình thức...2) Chưa chấp hành tốt kỷ luật, kỷ cương trong học tập, rèn luyện như trong học tập còn làm việc riêng, vừa học vừa giải quyết công việc của cơ quan, đơn vị; chưa tích cực tham gia trao đổi, thảo luận; không nghiên cứu tài liệu; bài thi, bài thu hoạch thiếu đào sâu suy nghĩ, tìm tòi gắn lý luận với thực tiễn… 3) Học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn liền với thực tiễn. Nội dung, tri thức lý luận chính trị chưa được vận dụng thiết thực vào thực tiễn công tác với tư cách là “cẩm nang” định hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh.

   Thực trạng nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

   Đối với người học, việc xác định mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính trị chưa đúng, chưa rõ ràng (coi việc học tập lý luận chính trị cốt để lấy bằng cấp nhằm “hợp lý hóa” điều kiện đề bạt, bổ nhiệm, cất nhắc, thăng tiến); vì chưa có động cơ trong sáng nên thiếu ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện.

   Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, việc mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn liền với quy trình đảm bảo chất lượng. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn chậm được đổi mới; việc bổ sung, cập nhật nội dung chương trình còn trùng lặp, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, phong cách lãnh đạo, quản lý. Phương pháp giảng dạy, học tập chậm được đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của người học. Thiếu sự liên thông giữa các cấp học, các hệ đào tạo dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Quản lý đào tạo còn có mặt yếu kém, nhất là quản lý tự học của học viên. Chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo còn có mặt hạn chế. Điều kiện vật chất, kỹ thuật ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn lạc hậu, chưa được nâng cấp, chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị.

   Đối với đơn vị cử cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng, còn có tình trạng chưa chọn, cử đúng, trúng đối tượng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Việc quy hoạch, lựa chọn cán bộ cử đi học ở một số nơi còn biểu hiện thiếu dân chủ, không khách quan. Còn có sự chồng chéo trong sử dụng cán bộ thực hiện công việc tại cơ quan, đơn vị với tạo điều kiện để học viên toàn tâm, toàn ý trong học tập đối với những cán bộ được cử đi học tập, bồi dưỡng. Chưa có các biện pháp, cách thức kiểm tra, đánh giá việc sử dụng, vận dụng tri thức, kỹ năng, tư tưởng của người được chọn, cử đi học sau khi hoàn thành các khóa đào tạo, bồi dưỡng vào phục vụ công việc thực tiễn của cơ quan, đơn vị.

   MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

   Để khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay, Đảng ta đã xác định: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trong và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Nhằm cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, xuất phát từ thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị thời gian qua, thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

   Thứ nhất, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ, lâu dài để khắc phục “bệnh” lười học, ngại học lý luận chính trị. Chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, hiểu và xác định việc học tập, bồi dưỡng lý luận vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mình; là nhu cầu tự thân; học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, bền bỉ, không bao giờ là đủ. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để kiên quyết khắc phục nhận thức coi việc học lý luận chính trị chỉ nhằm mục đích đề bạt, bổ nhiệm.

   Thứ hai, đổi mới toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là giải pháp quan trọng, tác động trực tiếp đến các chủ thể của công tác giáo dục lý luận chính trị. Những năm gần đây, chương trình, nội dung cũng như các giáo trình, tài liệu giáo dục lý luận chính trị của Đảng đã có nhiều đổi mới, song, vẫn còn nặng về lý luận chung và những kiến thức tổng quát, mang tầm vĩ mô, trong khi đó, những kiến thức về các chủ trương mới, cách làm hay, sáng tạo ở các địa phương, các cơ quan, ngành nghề, nhất là các kỹ năng giải quyết công việc thực tế của cán bộ, kỹ năng xử lý tình huống chính trị... thường chiếm dung lượng nhỏ. Để giải quyết vấn đề đó, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng, học viện, nhà trường, đội ngũ giáo viên, báo cáo viên cần chú trọng nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung theo hướng thiết thực, gắn với thực tiễn sinh động. Theo đó, lý luận chính trị phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới và khó đặt ra từ thực tiễn, cả ở tầm vĩ mô và vi mô cũng như việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể.

   Thứ ba, coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, giảng viên lý luận chính trị các cấp về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn. Đây là vấn đề quan trọng, góp phần trực tiếp nhất để khắc phục tình trạng ngại học, lười học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Theo đó, đội ngũ cán bộ làm công tác này phải là những người có đủ phẩm chất đạo đức và tài năng, chuyên môn. Mỗi cán bộ, giảng viên phải là tấm gương “tự học và sáng tạo”, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, am tường lý luận sâu sắc, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn.

   Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ đối với cơ sở đào tạo lý luận chính trị, song phải đảm bảo bản chất trường Đảng, cụ thể là:

   1) Nhận thức sâu sắc về sứ mệnh, mục tiêu của trường Đảng với sứ mệnh ưu tiên hàng đầu là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho Đảng và toàn hệ thống chính trị thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ngang tầm nhiệm vụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

   2) Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng các mặt:

   Về đối tượng đào tạo. Đối tượng đào tạo ở trường Đảng phải là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu, tiên tiến; luôn trung thành, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Việc tiếp cận về đối tượng đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong xác định tiêu chuẩn xét tuyển và xác định những tố chất cần được bổ sung khi được tham gia đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện ở trường Đảng.

   Về đổi mới nội dung chương trình đào tạo lý luận chính trị. Bên cạnh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc, việc dạy - học ở trường Đảng phải rút ra được lập trường, quan điểm, phương pháp để giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra; học tập quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; những kinh nghiệm, tổng kết cách mạng trong nước cũng như thế giới; tinh hoa văn hóa nhân loại, những lý thuyết mới, mô hình thành công trên thế giới để áp dụng sáng tạo, tránh “mò mẫm” trong thực hành, khắc phục “bệnh” giáo điều, xa rời thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

   Về đổi mới phương pháp đào tạo, huấn luyện cán bộ. Chú trọng nguyên tắc lý luận phải gắn liền thực tiễn. Tăng cường thảo luận, đối thoại, định hướng tư tưởng. Tăng cường sử dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình, tránh dạy - học truyền thụ, nhồi nhét, giáo điều. Đổi mới phương pháp rèn luyện phong cách, bản lĩnh người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là bản lĩnh chính trị; cách thức giải quyết những tình huống khó, phức tạp trong công tác lãnh đạo, quản lý; phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời.

   Về xây dựng đội ngũ giảng viên. Giảng viên trường Đảng phải là đội ngũ những người tinh hoa nhất, đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ. Bằng những quyết sách của Đảng, có thể tuyển chọn những cán bộ giỏi theo các tiêu chí: mẫu mực về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng; đảm bảo sự “tổng hòa” sư phạm - khoa học - tổng kết thực tiễn. Căn cứ vào yêu cầu về đối tượng, nội dung và phương pháp đào tạo, cần xây dựng bộ tiêu chí cho giảng viên trường Đảng...

   Thứ năm, người học phải xác định đúng động cơ, mục đích học tập lý luận chính trị; gắn tri thức lý luận với thực tiễn công tác; không ngừng phấn đấu, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trình độ - kỹ năng - phương pháp luận.

   Thứ sáu, các cấp ủy địa phương, cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ đi học cần: 1) Quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị và các cơ sở đào tạo. 2) Tiếp tục đối mới tư duy, nâng cao nhận thức về mục tiêu, yêu cầu và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. 3) Gắn việc xây dựng quy hoạch cán bộ với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh của từng giai đoạn. Chọn, cử cán bộ đi đào tạo đúng đối tượng, thiết thực, tránh tốn kém, lãng phí. Thực hiện nghiêm việc phân cấp đối tượng đào tạo gắn với thẩm định tiêu chuẩn cán bộ cử đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn. 4) Phối hợp chặt chẽ với đơn vị đào tạo tiến hành kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, thực chất quá trình và kết quả học tập của cán bộ, đảng viên được cử đi học; coi trọng và có kế hoạch bố trí, tạo điều kiện để cán bộ vận dụng kết quả học tập vào thực tiễn công tác. Lấy kết quả học tập, ý thức rèn luyện trong quá trình học tập là một tiêu chí để đánh giá cán bộ./.