Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2021

NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC!

     Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản.

    Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản. Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.

   Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.

   Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.

   Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

   Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản.

   Một là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.

   Hai là, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

   Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.

   Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.

   Thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng là những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ từ một nước nghèo kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị ổn định. Văn hóa, xã hội phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, từ 58% hộ nghèo năm 1993, nay còn dưới 3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Nam là một điểm sáng trên thế giới. Cả hệ thống chính trị và toàn dân tập trung hành động vừa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát dịch bệnh. Lực lượng các ngành y tế, quân đội, công an thật sự là “lá chắn thép” bảo vệ nhân dân. Điều đó tỏ rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

   Bản chất của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ tốt với hơn 200 đảng cầm quyền, đảng chính trị trên thế giới, trong đó có những đảng cầm quyền ở các nước tư bản hàng đầu. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước trong 193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ kinh tế, thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối 192/193. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhận được hơn 500 điện, thư chúc mừng của các đảng, các tổ chức, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới. Việt Nam đang từng bước sánh vai với các cường quốc trên thế giới như ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

   Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa./.


Yêu nước ST.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

TƯ DUY PHẢN BIỆN - GIẢI ĐỘ TÀN DƯ HẬU DUỆ 3///!

❤️🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳❤️

Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia Bettmann chụp ngày 5.2.1968, ghi lại trung thực cảnh nhân dân HUẾ bị bắt bớ 2 tay giơ hàng, trong đó có rất nhiều trẻ em. 


Có vẻ mọi người rất sợ hãi trước họng súng của lính Mỹ, không biết số phận họ sẽ ra sao ? Ôi !quá khứ là chiến tranh tàn khốc, khổ nhất là phụ nữ và trẻ em. 


May có Bác dẫn đường chỉ lối mới có được tự do hp ngày hôm nay!

                 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳




Yêu nước ST.

HẬU DUỆ BA SỌC LẠI "PHONG THÁNH" CHO NGÔ ĐÌNH DIỆM!

     Ngô Đình Diệm: "Biên giới của Mỹ... tới sông Bến Hải".

Mấy bữa nay BBC, RFA,VOA liên tục có các bài viết so sánh ngang bằng Ngô Đình Diệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh, hòng biến Diệm từ thân phận hủi nô, từng tàn sát hàng ngàn phật tử (đêm 20/8/1963), giết hại hàng ngàn đồng bào yêu nước, rồi từng tuyên bố dâng lãnh thổ Việt Nam cho Mỹ... thành anh hùng dân tộc. Ngắn gọn lại là tìm cách chạy tội và tô vẽ cho Ngô Đình Diệm.

Thật nực cười, "Công rãnh cứ đòi sóng sánh với đai dương".

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc người dân: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Câu nói này cho thấy quyết tâm bảo vệ lợi ích, giá trị dân tộc, lãnh thổ quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: 

- "Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được";

- "Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất";

- "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được"; 

- "Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"


Còn Ngô Đình Diệm thì sao?

Kevin Trần đã dẫn 3 câu nói của Ngô Đình Diệm trên Sách Hiếm, qua đó thấy rõ bản chất của ông ta:

1Về quan điểm dùng người cai trị đất nước của Ngô Đình Diệm:

"Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền".

Đây là câu nói được trích từ đề mục “Ngô Đình Diệm”, tiểu mục “Trở thành Tổng thống” trong Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt. Nguyên văn như sau:

“Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: "Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền". Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Đệ nhất Cộng hòa là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông.” 

Rõ ràng, chỉ có đầu óc cục bộ, hẹp hòi mới phát biểu như thế. Vì thế sau này khi làm tổng thống, với tâm phân biệt như thế, Ngô Đình Diệm đã dựng lên quanh mình những vòng rào khu biệt phân cách rạch ròi: Trong cùng là vòng rào anh em dòng họ Ngô Đình như 5 con chuột đục khoét miền Nam mà họa sĩ Phạm Tăng vẽ trên bìa báo Tự Do Xuân Canh Tý 1960, rồi đến vòng rào Công giáo di cư 1954 mà Sử gia Tạ Chí Đại Trường gọi là đám “kiêu dân”, rồi đến vòng rào đảng Cần Lao với một lực lượng Mật vụ sắt máu, và cuối cùng là vòng rào đồng hương gốc miền Trung của hai tỉnh Huế và Quảng Bình. Còn bên ngoài mênh mông là bàn dân thiên hạ thuộc thành phần “buôn bán” và “võ biền”.

Trên đỉnh quyền lực ở trung tâm 4 vòng đồng tâm này, Diệm đặt lòng tin và ban phát đặc quyền đặc lợi theo đúng độ gần xa của mỗi vòng. Cơ chế hành chính quốc gia và các công cụ chính trị an ninh của Diệm, do đó, cũng theo một mô hình hướng tâm (centripetal) độc tài như vậy. Đến nỗi chỉ cần nhắc đến cụm từ “gia đình trị” hay “Công giáo trị” … thì ai cũng biết là nói đến chế độ nào rồi. Và chính ông bố vợ của Ngô Đình Nhu là Trần Văn Chương, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, cũng đã phải lên án chế độ Ngô Đình Diệm là một "chế độ toàn trị" (FRUS 1961-1963 Volume IV, Doc.118).


2. Tuyên bố "Dâng miền Nam cho Mỹ"

Ngô Đình Diệm hùng hồn: “Liên quan tới vấn đề an ninh, biên giới của Mỹ không ngừng ở bờ biển Đại Tây dương và Thái Bình dương mà kéo dài, tại Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, vốn chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến thứ 17, tạo thành cái biên giới đã bị đe dọa của Thế giới Tự do mà chúng ta đều trân trọng”.

Đây là minh chứng rõ nhất cho bản chất tay sai, phản bội lại lợi ích dân tộc của gia đình họ Ngô. Tuyên bố của Ngô Đình Diệm đã tự dưng "Dâng miền Nam cho nước Mỹ" bằng cách cắt toàn bộ đất đai mà tổ tiên để lại từ sông Bến Hải trở vào trong cho Mỹ.

Tuyên bố này trích từ bài diễn văn Ngô Đình Diệm tại khách sạn Waldorf-Astoria ở New York City ngày 13/5/1957, trong bữa tiệc trưa mà vị Thị trưởng Thành phố New York chiêu đãi.

Nguyên văn tiếng Anh như sau: “With regard to security, the frontiers of the United States do not stop at the Atlantic and Pacific Coasts, but extend, in South East Asia, to the Ben Hai river, which partitions Viet-Nam at the 17th parallel, and forms the threatened border of the Free World, which we all cherish”.

Toàn bộ bài diễn văn, sau đó, được Tòa Đại sứ Việt Nam (2251 R Street N.W., Washington DC) in lại và phổ biến cho báo giới, các cơ quan chức năng và công chúng.

Trong tuyên bố này, cụm từ “biên giới của Mỹ … tới sông Bến Hải” đã làm cho nhiều người sửng sốt và tức giận vì thấy Diệm muốn biến miền Nam Việt Nam thành "Tiểu bang thứ 49" của Mỹ. Nó cho thấy bản chất tay sai bán nước và lươn lẹo của Ngô Đình Diệm khi nói tới "độc lập và dân tộc chống Cộng của chính nghĩa miền Nam trong nhân dân" (Hồi ký chính trị của Hoành Linh Đỗ Mậu, Chương 16).

Lý giải vì sao Ngô Đình Diệm lại phát biểu câu này, Kevin Trần viết: "Đơn giản là tại vì sự hình thành của Đệ nhất Cộng hòa cũng như chức vụ Tổng thống mà ông nắm giữ đều do người Mỹ vận động, dàn xếp và thậm chí có khi trực tiếp can thiệp (như Đại tá Tình báo Mỹ Edwards Lansdale trong thời gian khai sinh chế độ) mới có ngày hôm đó của năm 1957 cho ông đứng đọc diễn văn ở New York City. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đúng theo truyền thống dòng họ Ngô Đình thời phục vụ cho Thực dân Pháp xảy ra chỉ mới 13 năm trước đó (xem truyền thống này trong Lá thư của Giám mục Ngô Đình Thục gửi Toàn quyền Decoux ngày 11/8/1944). Đúng là “Hễ đã phi Dân tộc thì thế nào cũng phản Dân tộc".


3. Độc tài

Tuyên bố "Tôi là Hiến Pháp, còn Hiến pháp nghĩa là có tôi". Đây là câu tuyên bố về tương quan quyền lực giữa Ngô Đình Diệm và Bộ luật cao nhất của VNCH là Hiến Pháp: “Không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết các vấn đề, sau lưng Phật giáo trong nước hãy còn có Hiến Pháp, nghĩa là có tôi”.

Tuyên bố nầy là một đoạn trích từ thông điệp sáng ngày 14/6/1963 của Diệm, sau một loạt các biến cố dẫn đến bế tắc giữa hai Ủy ban Liên Phái (của Phật giáo) và Ủy ban Liên Bộ (của chính phủ) trong quá trình đàm phán giải quyết những đòi hỏi tự do và bình đẳng tôn giáo của tín đồ Phật giáo. Cao điểm của những biến cố đó là cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 trước thái độ và động thái sắt đá để đối phó với Phật giáo của vợ chồng Ngô Đình Nhu.

Hai ngày sau Thông điệp này, hai Ủy ban ra được một Thông Cáo chung (16/6/1963), nhằm giải quyết 5 nguyện vọng của Phật giáo. Nhưng Thông Cáo chung đó đã không bao giờ được chính quyền thực thi vì vợ chồng Nhu đã có sẵn quyết sách riêng, dẫn đến kế hoạch Nước Lũ tàn bạo, tổng tấn công chùa chiền và bắt bớ 1,426 Tăng Ni vào đêm 20/8/1963 [FRUS 1961-1963, Volume IV, Doc. 274].

“… có Hiến Pháp, nghĩa là có tôi”. Tôi là Hiến Pháp! Nền dân chủ và nguyên tắc “Tam quyền phân lập” của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa bị vứt vào sọt rác chỉ với một lời tuyên bố của Ngô Đình Diệm. Bốn Luật gia là Nguyễn Hữu Châu, Đoàn Thêm, Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Văn Bông đã phải kêu trời vì Hiến Pháp 1956 của Đệ nhất Cộng hòa tạo cơ hội cho Diệm làm vua, thiết lập nền độc tài toàn trị tại miền Nam Việt Nam.

Đàn áp, bắt bớ tới 1,426 Tăng Ni Phật tử vào đêm 20/8/1963 thì làm sao là người theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc được, đúng không?

Với 3 tuyên bố "kinh điển" nêu trên, hẳn bạn đọc đã rõ bản chất chính trị của Ngô Đình Diệm./.




Môi Trường ST.

NGƯỜI MỸ ĐÃ NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ SAI LẦM CỦA HỌ Ở VIỆT NAM!

     Neil Sheehan - nhà báo Mỹ, một trong những người phanh phui Tài liệu mật Lầu Năm Góc ra trước công luận năm 1971 đã nhận định rằng: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”.

Sheehan, cựu phóng viên tờ The New York Times, là tác giả hai cuốn sách giá trị về chiến tranh Việt Nam gồm “A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam” (Sự lừa dối hào nhoáng: John Paul Vann và người Mỹ tại Việt Nam), cuốn sách đã đem lại cho ông giải thưởng danh giá Pulitzer và “After The War Over: Hanoi and Saigon” (Sau chiến tranh: Hà Nội và Sài Gòn). Ông đã viết trong cuốn sách thứ hai nói trên rằng:

“Chúng ta, những người Mỹ, vốn tự cho mình là ngoại lệ của lịch sử, cũng có thể mắc sai lầm như phần còn lại của nhân loại; chúng ta có thể thủ ác dễ dàng như khi làm việc thiện. Tất cả chúng ta đã quá kiêu ngạo trong thời kỳ xấc xược ấy”.

“Chúng ta không thể hiểu được rằng chúng ta đã theo đuổi những điều không tưởng và đã gây ra bi kịch tột cùng cho chính chúng ta cũng như cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác tại Đông Dương”, tác giả này viết tiếp và đi đến kết luận đi ngược lại hoàn toàn những luận điệu của giới chức Mỹ trong suốt cuộc chiến, rằng Việt Nam chưa bao giờ là mối đe dọa đối với nước Mỹ.

“Họ đơn giản chỉ muốn chúng ta trở về nhà, và họ sẽ không bao giờ ngừng kháng cự, bất chấp họ và chúng ta phải trả giá thế nào cho tới lúc chúng ta rút đi. Tôi mất năm năm để nghiệm ra điều đó”, Sheehan viết trong cuốn sách xuất bản năm 1993.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara (1916-2009), trong cuốn Hồi ký “Hồi tưởng” xuất bản năm 1995, cũng đã nêu ra 11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, trong đó ông đánh giá về đối thủ như sau:

“Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ”.

McNamara cũng thẳng thắn nhận định: “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hoá và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ”.

Còn với James G.Zumwalt, ông rút ra bài học rằng: “Tinh thần dân tộc, lòng tự hào và quyết tâm của mỗi người dân Việt Nam đã phát triển thành một sức mạnh vĩ đại nhất-một Chí Thép - giúp họ thực hiện được điều tưởng như không thể. Nhờ đó, Chí Thép của họ đã đánh bại công nghệ của siêu cường hùng mạnh nhất thế giới”.

Ông cũng bày tỏ sự tiếc nuối với nước Mỹ: “Đáng tiếc là chúng ta không hiểu được phẩm chất này của người Việt Nam. Chúng ta không nhận thấy, trong bản phân tích cuối cùng rằng chiến thắng không quyết định bởi công nghệ mà bởi quyết tâm của con người. Ý chí của những người Việt Nam không bao giờ sụt giảm dù họ phải chiến đấu với những đôi Chân Trần”.

Cuối cùng, sau khi tìm hiểu về người Việt Nam, viên trung tá sinh ra trong một gia đình có truyền thống binh nghiệp nhiều đời mới thấm thía câu nói của viên tướng Mỹ nổi tiếng trong chiến tranh thế giới thứ II George Patton: “Đánh nhau bằng vũ khí, chiến thắng bằng con người!”.






Môi Trường ST.

Cảnh giác với những kẻ lật sử, bài học lịch sử luôn nhãn tiền!

 Cách mạng Tháng Mười như một cơn địa chấn của thế kỷ 20, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp hơn. Đánh giá về giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Thế nhưng, A.Yakovlev, Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, sau này hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội, chống Chủ nghĩa Mác-Lênin từng tuyên bố: Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử”. Hay những người theo "thuyết âm mưu" như A.Yakovlev thông qua lật sử Cách mạng Tháng Mười hòng phủ nhận các giá trị, thành quả của cuộc cách mạng, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng không coi Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng thực sự mà là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, “là sự chệch hướng lịch sử”... 

Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử” chúng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác-Lênin và rêu rao cuộc cách mạng đó là “đẻ non”, “đã chết” và chủ nghĩa xã hội đã đến “hồi kết thúc”...

Như vậy, bản chất sự xuyên tạc của những kẻ lật sử ấy không chỉ nhắm vào xuyên tạc một sự kiện lịch sử cụ thể, mà sâu xa hơn là qua đó phủ nhận học thuyết Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Tuy nhiên, những luận điệu bóp méo, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại với mưu đồ đen tối, không thể dễ dàng làm lung lạc dư luận, càng không bao giờ làm đảo lộn xu hướng phát triển tất yếu của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Quay lưng lại quá khứ và bôi nhọ các giá trị truyền thống cũng chính là hành động phá hoại tương lai.

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao trách nhiệm, cảnh giác, hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn những luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, thông qua lật sử hòng phủ nhận các giá trị và thành quả cách mạng, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bài học lịch sử luôn nhãn tiền.

MAI NĂM MỚI

ĐA ĐẢNG KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH CHO DÂN CHỦ

Thông qua vài trang tiếng Việt ở nước ngoài và mạng xã hội, một số người, trong số đó có những người trước đây là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà thơ... a dua, phụ họa theo những quan điểm, luận điệu sai trái viết bài, trả lời phỏng vấn cho rằng: Không thể có dân chủ trong chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam; chỉ thực hiện chế độ đa đảng mới có dân chủ thực sự.v.v...

Bàn về dân chủ, nhân quyền trước hết cần phải hiểu: Quyền con người là một giá trị cao quý mang tính phổ quát đối với toàn thể nhân loại, đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, cộng đồng quốc tế thừa nhận, quyền con người, quyền dân chủ là một giá trị mang tính lịch sử, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với đường hướng phát triển của chế độ chính trị - xã hội, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa... của mỗi quốc gia, dân tộc. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội và thời đại khác nhau. Dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ đều phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật của nhà nước đó quy định. Như vậy, bản chất của dân chủ chính là quyền của người dân làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ xã hội mà mình đang sống trên tất cả các lĩnh vực, trong mọi hoạt động.

Đối với Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dân chủ không phải là thứ bất biến mà nó vận động phát triển không ngừng theo quá trình đi lên của lịch sử xã hội. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp chúng ta phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Thực chất đó là quá trình chúng ta hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực tế cho thấy việc thực hành dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như trên mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống ở Việt Nam đang ngày càng tốt hơn.

Do đó, sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ thực sự”. Một điều mà chúng ta phải khẳng định với nhau rằng, dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và bản chất của chế độ xã hội. Do đó thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ hay kém dân chủ. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Trong khi nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải cứu cánh cho dân chủ.

Mai Năm Mới

Quan điểm “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

           Di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, tư tưởng “người trước, súng sau” về giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đang được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta chủ động vận dụng linh hoạt trong tình hình mới.

          Năm 1940, khi chuẩn bị về nước để lãnh đạo cách mạng có một số đồng chí đã hỏi Bác về vấn đề vũ khí cho khởi nghĩa, Bác nói: khởi nghĩa thì phải có vũ khí, đây là một công việc rất quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ mà có vũ khí thì lấy ai để vác vũ khí? Cho nên, phải tìm cách về nước để giác ngộ quần chúng, khi quần chúng giác ngộ cao thì sẽ có vũ khí. Đến Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (năm 1944), tư tưởng đó càng thể hiện rõ, trở thành phương châm quan trọng trong xây dựng lực lượng Quân đội, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.

          Quan điểm "người trước, súng sau" chính là sự vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tố con người trong chiến tranh. Theo Lênin, xét đến cùng, quyết định thành bại của một cuộc chiến tranh phụ thuộc vào nhân tố chính trị, tinh thần của người trực tiếp cầm súng trên chiến trường. Về mặt bản chất, quan điểm "người trước, súng sau" là nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với vũ khí, trang bị trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

          Trong khi luôn coi trọng yếu tố trang bị của vũ khí, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời nhấn mạnh yếu tố con người, phải xem đấy là yếu tố có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân. Theo Người, lực lượng vũ trang phải là tập thể những con người có đạo đức, có tinh thần cách mạng triệt để, phải được phát triển toàn diện về trình độ, giác ngộ chính trị, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh, sử dụng mọi thứ vũ khí có trong tay để đánh thắng quân thù. Con người trong lực lượng vũ trang phải là những con người thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, trung kiên, dũng cảm và luôn trung thành với lợi ích của nhân dân. Người thường dạy “nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Quân sự mà không có chính trị, như cây không có gốc, đã vô dụng lại có hại”. Chính trị phải thể hiện ra trong lúc đánh giặc, chính là tinh thần của con người và tinh thần của con người phải được chuyển qua súng đạn.

         Như vậy, với quan điểm "người trước, súng sau", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: chính yếu tố con người là yếu tố trung tâm, yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân. Xuất phát từ quan điểm này, Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội cách mạng, bởi theo Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, do đó huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. 

VTT

Ngày Đồng bào

Chỉ vài tiếng sau khi mỉm cười qua màn hình điện thoại với con cháu, ba tôi ra khỏi nhà và rồi trở về trong chiếc hũ sành lạnh lẽo màu xanh lá mạ. Hôm đó, 14/9/2021, số ca tử vong vì Covid tại Sài Gòn lần đầu tiên giảm sâu xuống dưới 150 trong vòng 24 giờ, là chỉ dấu tích cực cho thấy thành phố sẽ sớm trở lại cuộc sống bình thường. Trong bệnh viện ở Thủ Đức, ba tôi ra đi vì Covid, không người thân và cũng không một nghi thức, dù tối giản, để tiễn đưa. Tôi không thể quên được cái đêm ba và anh trai tôi phải vào viện cấp cứu. Cả nhà đều nhiễm Covid-19, trừ mẹ tôi. Cố sức siết mãi, chiếc điện thoại trên tay tôi mới không rơi xuống theo nhịp tim trong lồng ngực. Từng giây, tôi và người nhà chờ chuyến xe cấp cứu thiện nguyện mãi mới có thể đến được vì phải "thông chốt". Cả nhà năm người cần thuốc men và dinh dưỡng đầy đủ cũng như bảo vệ an toàn cho mẹ tôi, nhưng không thể mua đủ. Từ châu Âu, tôi phải giữ liên lạc liên tục với những người thân quen tại Việt Nam để cầu cứu. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mọi chuyện hoàn toàn vượt ngoài khả năng của mình và chỉ trông chờ vào sự thương yêu của những tấm lòng mà không tiền nào có thể trả ơn nổi. Ba tuần ba tôi nằm ở Bệnh viện Hồi sức cấp cứu Thủ Đức là ba tuần tôi luôn phải để ý điện thoại gần như từng phút giây. Điện thoại của tôi bật chế độ roaming quốc tế 24 giờ để không bỏ lỡ cuộc gọi nào từ Việt Nam. Những giấc ngủ ngắn, chập chờn, đầy lo sợ. Hai tuần sau ngày ba tôi ra đi, đêm nào tôi cũng giật mình thức giấc và luôn vơ vội lấy điện thoại trong cơn mê ngủ. Đã hơn hai tháng trôi qua từ ngày gia đình tôi nhiễm Covid-19, tâm trạng tôi rất kém, sinh hoạt chưa thể quay về như trước. Dù đã rời khỏi bệnh viện, mỗi khi đêm xuống, anh trai tôi, người nhập viện cùng lúc với ba tôi, vẫn thấy văng vẳng bên tai những tiếng "bíp" của máy theo dõi trong phòng cấp cứu. Ở nơi mà nhất cử nhất động của bệnh nhân có thể tiêu hao oxy ghê gớm, người bệnh được yêu cầu ở yên trên giường với bỉm tã đóng chặt. Anh tôi vẫn toát mồ hôi mỗi khi có điều gì gợi nhớ đến việc đóng bỉm tã, oxy và những tiếng "bíp" ở nơi đi hai chỉ về được một. Đây chỉ là câu chuyện của gia đình tôi. Gần 900 nghìn ca bệnh cũng như thân nhân của khoảng 22.500 người tử vong vì Covid-19 tại nước ta có lẽ cũng chưa nguôi ngoai di chứng hậu nhiễm Covid. Chỉ riêng tại Bệnh viện Hồi sức Covid-19 Thủ Đức, cuộc khảo sát của các bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia trị liệu tâm lý từ Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM công bố, 20% bệnh nhân bị trầm cảm, 53% bị rối loạn âu lo. Quá trình chăm sóc sức khỏe tinh thần phía trước cho những bệnh nhân may mắn khỏi bệnh cũng như những người bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp sẽ còn khó khăn gấp bội. Thế nên, tại Quốc hội hôm qua, khi đại biểu Nguyễn Anh Trí - một bác sĩ, đề nghị ngày quốc tang cho các nạn nhân Covid-19, tôi như được chạm vào trái tim. Với tôi, nghi thức này không chỉ vì người đã ra đi mà vì những người đang tiếp tục sống. Là một người bị tổn thương bởi đại dịch, tôi tin những gia đình của các nạn nhân khác phần nào được an ủi vì người thân của họ cuối cùng cũng có được một nghi thức tang lễ, dù chỉ là nghi thức chung. Việc chọn một ngày quốc tang cho thấy sự nhân văn của chính quyền, sự thừa nhận những mất mát không ai muốn, cũng là tiếng chuông gõ mạnh vào sự cảnh giác của mỗi người trước mối đe dọa dịch bệnh. Hôm nay, cuộc sống của chúng ta phần nào hồi phục, ngày lễ chung để nhắc rằng: bình thường mới không phải là bình thường, mà cần ý thức cao độ để bảo vệ sự sống. Điều quan trọng nhất của ngày quốc tang cho đồng bào chính là siết chặt mối đồng cảm toàn dân, xoa dịu lẫn nhau bằng sự chia sẻ, là dịp để mỗi người cảm thấy trân quý những người xung quanh và vì mình được sống, thấu cảm với mất mát chung của con dân nước Việt. Đó cũng có thể là dịp để mỗi cơ quan chức năng nỗ lực hơn trong hành động của mình, từ bỏ hoàn toàn tư duy ngăn sông cấm chợ dưới mọi hình thức, hợp pháp hóa các giấy tờ quá hạn trong thời gian dịch bệnh thêm ba đến sáu tháng, thực hiện tiêm chủng cho dân khoa học và chu đáo hơn. Đó là những việc trong tầm tay mỗi người điều hành ở mọi cấp nhưng lại thể hiện đạo lý khi "nhà có chuyện". Đó là ngày để mỗi người chúng ta có thể chỉ dạy cho thế hệ sau về văn hóa và tinh thần dân tộc. Chúng ta có thể chọn quốc tang là ngày diễn ra đỉnh dịch lần thứ tư, đặt tên là Ngày Đồng bào, bổ sung vào danh sách các ngày lễ trong năm. Những gia đình như chúng tôi đều hiểu, cả nước, từ hệ thống y tế cho đến các lực lượng hỗ trợ, đã gồng mình để điều trị cho nhiều nhất số ca bệnh Covid. Đó là điều đáng ghi nhận. Dẫu vậy, điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Covid-19 vượt qua lưỡi hái tử thần mới chỉ là bước đầu của toàn bộ quá trình điều trị căn bệnh. Cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, xã hội phải tiếp tục vận động và mỗi con người cần khỏe mạnh để tiếp tục đóng góp vào sự vận động đó. Điều trị Covid không chỉ duy trì sự sống cho bệnh nhân mà còn giúp bệnh nhân trở lại cuộc sống hàng ngày một cách khỏe mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Điều trị Covid không chỉ là giúp những người không may mắn bị nhiễm virus mà bao gồm cả sự chăm sóc tâm lý cho người thân của họ bị ảnh hưởng bởi di chứng Covid một cách trực tiếp hay gián tiếp. Tôi vẫn phải gặp bác sĩ tâm lý vì chưa thể vượt qua cú sốc với cha mình. Tôi mong các đường dây tư vấn online về sức khỏe tinh thần cho người nhà và người nhiễm Covid-19 được mở ra trên khắp Việt Nam và miễn phí, để hàng nghìn người như tôi tìm được một địa chỉ khi cảm thấy khó khăn quay về với bình thường. Tôi cũng tin có nhiều bác sĩ, chuyên gia tâm lý tình nguyện tham gia mạng lưới tư vấn cộng đồng này. Kênh "điều trị" từ xa cho những người bị sang chấn tâm lý trong đại dịch là hành động cụ thể, trong tầm tay nhà nước. Một việc có thể làm ngay, giúp xoa dịu tổn thương tinh thần cho không ít người dân lúc này.

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN


     Hội nghị Trung ươpng 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái”.

     Xuất phát từ những lời dạy của Hồ Chí Minh và các giải pháp Trung ương nêu ra, xin nhấn mạnh, làm rõ mấy điểm như sau:

     Thứ nhất, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và XIII đều đề cập công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Vấn đề đặt ra là phải xem lại chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này đến đâu? Như thế nào? Cái gì làm tốt, cái gì chưa tốt, nguyên nhân, giải pháp? Phải chăng công tác giáo dục chính trị tư tưởng vẫn chưa thật sự thấm sâu vào tim, óc của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy đảng các cấp và cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện nhiệm vụ này chưa thấu.

     Trong những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, có một điều rất quan trọng thể hiện tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, xuyên suốt trong lãnh đạo của Đảng. Đó là “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(9).

     Nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu và xuyên suốt là phải xem xét lại việc giáo dục chính trị tư tưởng để có biện pháp ráo riết, triệt để khắc phục những gì làm chưa được, chưa tốt. Bởi vì, có được giáo dục chính trị tư tưởng một cách thật sự mà cụ thể là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới chống được chủ nghĩa cá nhân, làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình.

     Không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên xem nhẹ, coi thường việc học tập chính trị tư tưởng. Họ không hiểu rằng nhận thức sai thì hành động sai; nhận thức lệch lạc, méo mó thì hành động lệch lạc, méo mó. Hiểu không thấu thì làm không đúng. Vấn đề là học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.

     Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu lại, nhấn mạnh việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng và rất cần thiết được Hồ Chí Minh bàn tới rất sớm, sâu sắc, toàn diện. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII đã đề cập. Muốn nhân dân, báo chí, công luận thực hiện được vai trò giám sát thì điều quan trọng nhất là xây đắp, vun bồi nền dân chủ. Phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Đây là cốt lõi của giải pháp hoàn thiện tính khoa học của bộ máy và cơ chế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

     Dân giám sát là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội XIII. Muốn thực hiện tốt điều này, không gì tốt hơn học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

     Trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu thấu rằng “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(10). Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, khuyến khích, tạo điều kiện cho quần chúng nói. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(11). Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát là tốt nhất, đó là kiểm soát từ dưới lên. Người viết: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất”(12).

     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, phải có “cái lồng nhốt” quyền lực. “Cái lồng” đó là vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, cấp ủy. Nhưng nhất định phải dựa vào “cái lồng nhân dân” với nội dung cốt tủy là dân chủ thật sự.

     Cơ chế, bộ máy, trong đó có khía cạnh tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì hàng đầu, xuyên suốt là giải thích, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục. Nhưng không phải là không xử phạt. Nếu không xử phạt thì mất hết kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Theo Hồ Chí Minh, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(13).

     Thứ ba, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng, vì “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Mặt khác, tính xấu của môt người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

    Bộ máy, cơ chế dù hoàn thiện đến đâu mà con người hư hỏng thì sẽ phá tan bộ máy. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách, phương pháp của các đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới quần chúng nhân dân và xã hội. Công cuộc đổi mới thuận lợi hay khó khăn, thành công nhiều hay ít đều do cán bộ tốt hay kém.

     Hy vọng và tin tưởng rằng, nếu nhận thức và hành động đúng thì khía cạnh nhỏ sẽ đem lại kết quả lớn trong việc quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.


CẦN NHẬN THỨC NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG

 

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.


     Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

     Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

     Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

     Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

     Nhân đây, cần nói thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.

     Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.

     Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).

     Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).

     Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).

     Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.

     Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

     Cần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.

     Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

     Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).


Cảnh giác trước âm mưu “Diễn biến hòa bình" giữa đại dịch

Hiện nay vị thế của dân tộc Việt Nam ngày càng được khẳng định, những thành quả to lớn của kinh tế xã hội mà chúng ta đạt được càng khiến các thế lực thù địch tức tối.

Không thể triệt tiêu chủ nghĩa cộng sản bằng vũ lực, vì vậy mà việc chống phá cách mạng Việt Nam được chúng chuyển sang đấu tranh bất bạo động với nhiều thủ đoạn ngày càng thâm độc, nó không nằm ngoài âm mưu “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch thực hiện từ trước đến nay, đó là đẩy mạnh phá hoại từ bên trong, tạo chia rẽ nội bộ, đặc biệt là phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng và khi có thời cơ chúng sẽ kích động người dân để tiến hành biểu tình, bạo loạn gây bất ổn chính trị, tạo những cuộc cách mạng đường phố hay còn gọi là cách mạng màu để lật đổ chính quyền. Đại dịch Covid-19 hoành hành ở Việt Nam trong thời gian qua như là một trong những điều kiện để các thế lực thù địch nhen nhóm mưu đồ đen tối, nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

Đại dịch bùng phát từ tháng 4 đến nay đã gây ra nhiều tổn thất về người, tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế đất nước, ổn định an sinh xã hội cho người dân. Đảng, Chính phủ đã huy động mọi nguồn lực, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc của các tầng lớp nhân dân, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm cao nhất để đẩy lùi dịch bệnh. Những nỗ lực đó đã mang lại những thành quả hết sức rõ rệt khi những ngày gần đây số người nhiễm, tử vong đều giảm, số người khỏi bệnh tăng mạnh từng ngày; nhiều địa phương từng là tâm dịch đang dần trở lại trạng thái bình thường mới. Thành quả đó là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhìn lại mấy tháng qua, khi đất nước tranh thủ từng giờ để khống chế dịch bệnh, bảo vệ tính mạng của Nhân dân thì trên không gian mạng những thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị có tư tưởng cực đoan hay một số tổ chức truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam luôn dõi theo từng diễn biến dịch bệnh ở nước ta, với những luận điệu mang tính kích động, hướng lái dư luận về các quyết sách của Đảng, chính phủ trong phòng chống Covid-19 xuất hiện dày đặc trên diễn đàn của VOA, RFI, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo, Tiếng Dân TV… hay của một số đối tượng phản động lưu vong như Nguyễn Văn Đài, Trường Quốc Huy, Thanh Hieu Bui… với hàng loạt chỉ trích cho rằng chính sách chống dịch của Đảng ta là sai lầm, Đảng bỏ mặc người dân trong dịch bệnh, người dân phải gánh chịu do cách chống dịch của Đảng, rồi đến ngăn cản, chặn đường sống của dân khi họ về quê. Để minh họa cho những luận điệu xuyên tạc này là những thông tin, hình ảnh được cắt ghép với mục đích dựng lên một bức tranh về một Việt Nam bất lực, bế tắc trong kiểm soát dịch bệnh. Covid-19 bùng phát tại Việt Nam như một miếng mồi để chúng thêm nếm gia vị phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình” mà chúng đã và đang thực hiện. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ và thay đổi thể chế chính trị của đất nước hiện nay bằng cách gây mâu thuẫn, chia rẽ từ bên trong. Bên cạnh đó chúng luôn tìm cách móc nối với số cán bộ, đảng viên dễ lung lay tư tưởng, đặc biệt là số cơ hội chính trị lôi kéo những người này vào hoạt động chống phá Đảng, kích động, gây chia rẽ, bè phái trong nội bộ, tạo dựng ngọn cờ và lực lượng đối lập.

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, hàng loạt cuộc cách mạng sắc màu, cách mạng đường phố nổ ra ở các nước Bắc Âu, Trung Đông và Bắc Phi khiến những quốc gia này rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng. Đây là những minh chứng điển hình cho thấy chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch mà nếu như không cảnh giác, ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Với những gì các thế lực thù địch đang xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt trên không gian mạng hiện nay thì đại dịch Covid-19 ở nước ta rất có thể trở thành con bài để chúng lợi dụng kích động thành những cuộc tụ tập, gây rối, chống phá chính quyền nếu như chúng ta không có biện pháp phòng vệ. Chúng tìm mọi cách để thêu dệt, tạo ra những hình ảnh bi đát của đất nước trong dịch bệnh; từ quỹ vắc xin chúng quy kết tham nhũng là bản chất của chế độ cộng sản; việc điều động, thay đổi lãnh đạo chống dịch suy diễn thành vấn đề đấu đá nội bộ… Bên cạnh đó là thổi phồng những hạn chế trong công tác phòng chống dịch như thiếu sót trong việc hỗ trợ người dân bảo đảm an sinh trong thời gian giãn cách xã hội; lợi dụng chính sách tiêm vắc xin để chuộc lợi của một số cán bộ với mục đích là tạo ra mâu thuẫn và khoét sâu mâu thuẫn xã hội đó. Với sự hỗ trợ của công nghệ, việc chia sẽ những thông tin xuyên tạc giữa các nhóm đối tượng này đang trở nên dễ dàng. Cùng với đó là việc giảm sút niềm tin của một số người trong xã hội khiến chúng càng dễ lợi dụng. Nó như những loại virut đang rình rập tấn công vào “cơ thể” xã hội hiện tại mà muốn đánh bại thì “cơ thể” xã hội phải thực sự khỏe mạnh. Chính vì vậy phòng ngừa là yếu tố cực kỳ quan trọng để giữ vững ổn định xã hội, bảo vệ chế độ và đưa đất nươc phát triển.

Không có loại kháng sinh nào hữu hiệu bằng tự đề kháng cho cơ thể, bằng cách ngăn ngừa dịch bệnh từ xa, giải quyết tốt những hạn chế, xử lý nghiêm các cá nhân, cán bộ biến chất, suy thoái là hết sức quan trọng vào lúc này. Dịch bệnh ở nước ta đang được kiểm soát nhanh chống, điều đó khiến niềm tin của Nhân dân vào đường lối chống dịch của Đảng, chính phủ ngày càng to lớn. Và khi Nhân dân có niềm tin thì không dễ bị lôi kéo, mắc mưu vào mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. 

Tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, một âm mưu thâm độc và phi lý

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và, một trong năm bài học mà Đại hội XII Đảng ta xác định là: "trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".

Đảng ta đã sớm xác định và chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh này, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng và hành động, tiếp tục bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù, gần đây nhất ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Bên cạnh việc kiên định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta cần tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau. Phải tiến hành đấu tranh chống các quan điểm sai trái ở từng cơ quan, từng ngành, coi đó là phương pháp tự bảo vệ mình, qua đó hình thành một mặt trận chung của nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí cần tìm ra những hình thức tuyên truyền cho phù hợp, sát với từng đối tượng cụ thể, tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng như mạng lưới báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, internet...

Gần đây trên các trang mạng xã hội, với chiêu trò “góp ý” cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số phần tử chống phá và những kẻ cơ hội núp bóng “góp ý” đã cho rằng: ở Việt Nam chỉ cần nói tư  tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta cần chỉ ra những sai trái, mơ hồ và phi lý của luận điểm này. Trước hết, phải khẳng định lại quan điểm của Đảng ta rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng toàn diện về cách mạng Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay bản thân Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác khi đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh...Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

Tháng 7-1969 trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm được con đường để cứu nước giải phóng dân tộc đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

Nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, có thể nói, về bản chất khoa học và cách mạng thì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, cho nên ở Việt Nam không thể tách rời mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể và không được lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mưu toan của quan điểm trên muốn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, và như vậy trước mắt “cái gốc” của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị phủ nhận, thì tương lai họ sẽ tiến đến tìm cách phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh, sâu xa hơn là phủ nhận nền tảng tư tưởng và phương pháp luận của Đảng.

Do vậy, phải luôn luôn quán triệt bài học kinh nghiệm mà Đảng ta nêu ra tại Đại hội XI rằng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Tóm lại, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh trong thực tiễn là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học của những quy luật khách quan về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, cẩm nang về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, chính bản thân Hồ Chí Minh đã nói lên nguyên nhân thắng lợi của cách mạng nước ta là nhờ nguồn gốc tư tưởng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, thứ ba, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cụ thể chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta.

Chính sự chính xác về khoa học, toàn diện và hệ thống, tính biện chứng nhằm mục đích giải phóng nhân loại cần lao, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng mọi sự tha hoá, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thực sự  mà chủ nghĩa Mác - Lênin và ở Việt Nam có thêm tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, do vậy ở nước ta không được mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nên, việc lên án, chỉ ra "chiêu trò" thâm độc này, đề cao cảnh giác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là việc làm khẩn thiết.

Một số giải pháp giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình hiện nay

       Trong tình hình phức tạp hiện nay các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang ra sức chống phá thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta, bôi nhọ, xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò uy tín của Đảng; đòi hỏi hơn bao giờ hết phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, để Đảng thực sự ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình hiện nay, cần thực hiện:

      Một là, đảm bảo thực hiện nghiêm nguyên lý về Đảng kiểu mới của học thuyết Mác - Lênin, đặc biệt là cần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm "kim chỉ nam" cho mọi hoạt động để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

      Hai là, xây dựng giai cấp công nhân thực sự lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp cho đảng viên và toàn thể giai cấp công nhân. Phải quán triệt, tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đảng viên; đồng thời đưa ra biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo, vị trí và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cho cán bộ đảng viên và giai cấp công nhân. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng để tập hợp lực lượng và tổng hợp sức mạnh của giai cấp và nhân dân trong quá trình thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng.

      Đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân, trong doanh nghiệp, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân lao động; vận dụng đúng đắn quan điểm giai cấp công nhân của Đảng trong công tác cán bộ thời kỳ đổi mới, phải phù hợp với lập trường và lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc.

      Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trong tổ chức, hoạt động, sinh hoạt của Đảng. Đây là phương thức để đảm bảo thống nhất thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, cũng là yêu cầu tất yếu để đảm bảo bản chất giai cấp công nhân trong Đảng.

      Bốn là, thực hiện mục tiêu và yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức để giữ vững uy tín, vai trò của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Việc xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh đã được Đảng ta khẳng định có vai trò "then chốt" trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Đây là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Đảng trong giai đoạn hiện nay để có thể giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta xác định: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, sức chiến đấu, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giám sát và công tác dân vận của Đảng, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”[5].

      Năm là, kết hợp xây dựng Đảng với xây dựng Công đoàn vững mạnh. Đảm bảo Đảng lãnh đạo xây dựng Công đoàn lớn mạnh, đặc biệt là cần nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn. Tăng cường và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn Việt Nam để thu hút, tập hợp công nhân lao động vào tổ chức công đoàn; công đoàn phải là người đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, công nhân lao động. Chú trọng công tác phát triển đoàn viên và xây dựng, củng cố tổ chức công đoàn cơ sở trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất hoạt động có chất lượng, có hiệu quả thiết thực, thực sự là tổ chức của công nhân lao động. Quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, nhất là cán bộ công đoàn cơ sở chuyên trách.

      Sáu là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Trong đó cần quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng giai cấp công nhân lao động và xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam vững mạnh. Không ngừng phát huy dân chủ trong Đảng đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

      Trong suốt chiều dài hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt mục tiêu giải phóng và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích cho nhân dân lao động và mục tiêu cao cả nhất đó là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo giai cấp công nhân cùng cả dân tộc vượt qua bao chặng đường gian nan, khốc liệt: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa đất nước phát triển và từng bước khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế. Những kết quả trong chặng đường đã qua đã khẳng định sự đúng đắn, phù hợp và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam với đất nước để được nhân dân gọi là "Đảng ta". Làm được điều đó một phần chính là bởi Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân trong Đảng.