Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2021

 

QUYẾT TÂM PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Một số vụ án tham nhũng gây ra những thiệt hại đặc biệt lớn liên quan những cán bộ từng là lãnh đạo đơn vị, ngành được xử lý nghiêm trong thời gian qua được dư luận đặc biệt quan tâm.

Sự công minh, công bằng của pháp luật được thể hiện rõ ràng qua từng bản án. Sai phạm liên quan tới cán bộ được làm rõ và đưa ra xét xử đã phần nào cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng vẫn không ngừng nghỉ, thậm chí ngày càng quyết liệt hơn, có hiệu quả cao hơn và thêm nhiều bài học quý, nhiều kinh nghiệm tốt hơn.

Đã có những lúc người ta thì thầm với nhau về những “vùng cấm” trong hoạt động tố tụng. Những lời xì xào ấy không hẳn là không có cơ sở, bởi một số sai phạm nghiêm trọng diễn ra đã lâu mà chưa bị xử lý. Thậm chí, những sai phạm ấy có đôi lúc còn ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền, có trách nhiệm cầm cân nảy mực.

Từ thực tế của các cơ quan tư pháp và hành pháp có thể thấy rằng, các cơ quan này đã có nhiều nỗ lực, triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, kịp thời, thích ứng, trau dồi và bổ sung những điều kiện, kiến thức để phù hợp thực tiễn và yêu cầu công tác.

Trong kỳ họp Quốc hội vừa rồi, Đại tướng, Bộ trưởng Công an Tô Lâm thừa ủy quyền của Thủ tướng báo cáo tới các đại biểu Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật cho biết: Qua đẩy mạnh điều tra các vụ án, vụ việc kinh tế, tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; đồng thời, tăng cường phân cấp, hướng dẫn Cơ quan điều tra các địa phương thực hiện, đã phát hiện 8.081 vụ (tăng 1,87%), 7.032 đối tượng (giảm 8,69%), 73 tổ chức (tăng 231,82%), trong đó có 10 pháp nhân thương mại phạm tội về trật tự quản lý kinh tế; 371 vụ (tăng 22,44%), 687 đối tượng (tăng 5,69%) phạm tội về tham nhũng, chức vụ. Nổi bật là Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường biện pháp nghiệp vụ, nhận diện các vi phạm. Chọn khâu đột phá để phát hiện xử lý theo phương châm “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”.

Những vụ án, sai phạm được đưa ra ánh sáng những ngày gần đây chính là hồi chuông răn đe, cảnh tỉnh những ai vẫn còn mang ý định vi phạm pháp luật. Điều đó khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”./.


 


BẤT NGỜ VỚI MÓN QUÀ SINH NHẬT ĐẶC BIỆT MÀ ĐẾ QUỐC MỸ TẶNG BÁC KÍNH YÊU.!

Ngày 19/5/1966, Không lực Hoa Kỳ gửi một thông điệp trên những quả bom nặng 2000 cân để làm "quà" Chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, bom được gắn trên máy bay F100 cất cánh từ sân bay Biên Hòa đánh phá từ Quảng Bình ra đến Hà Nội. Đây có lẽ là "món quà sinh nhật" đặc biệt nhất mà Bác nhận được khi còn sống.
NGHE NÓI, phi công lái chiếc máy bay mang quả bom này ngay sau đó trở thành khách VIP của Hỏa Lò hotel, đến năm 1973 mới được trở về đất Mẹ.
Anh ấy trở thành người tặng quà đi quãng thời gian lâu nhất trong lịch sử loài người, với 7 năm cho quãng đường 500 kilomet.
Và Việt Nam cũng được cho là nước hiếu khách nhất thế giới, khi giữ lại vị "thượng khách" hẳn 7 năm bao ăn ở, quần áo và ngủ khách sạn 5 sao H

 ĐẢNG VIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG


Cũng như bảo vệ quyền con người trong cuộc sống thực, việc bảo vệ quyền con người trên không gian mạng là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Cán bộ nghỉ hưu hay đương chức cũng như mọi người dân đều có quyền tham gia MXH, nhưng phải tuân thủ tinh thần “thượng tôn pháp luật”, đặc biệt là facebook với sự phủ sóng rộng khắp của Internet, nhà nhà dùng người người dùng, trong đó cố số lượng không nhỏ Đảng viên.

Chúng ta thấy bên cạnh một số đảng viên tự tin đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó .. thì vẫn còn không ít người thờ ơ, phớt lờ cả những vấn đề xã hội đang quan tâm.

Vậy thì vai trò của đảng viên ở đâu trên không gian mạng này? ....
"Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị... cả trên mạng xã hội: Họ lặng lẽ vào mạng, dò, tìm, đọc.. rồi âm thầm biến như chiếc bóng
Với những bài hay, tích cực, nguồn chính thống, đàng hoàng.. cũng không thấy chia sẻ, bình luận, thích bài. Với các thông tin tiêu cực, bức xúc, tệ hại ..xã hội đang nói nhiều cũng chẳng thấy họ biểu hiện gì một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng.

Chúng ta thường nghĩ: đã là đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, tích cực, tiêu cực chứ? Khi thấy hay, đúng, nguồn rõ ràng .. thì cũng nên “thích”, “thả tim”, “thương thương”. Hay gõ vài chữ động viên, cổ vũ nhau chứ? Còn thấy sai lệch, hay nghi ngờ độ chính xác thì cũng nên “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ” chứ ?
Xem, đọc rồi lặng lẽ cho qua khác nào đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi... bởi mặc nhiên:
“làm thinh là nhất trí ”mà!!

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghỉ nhiều về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước... trước hết nên có lập trường, tư tưởng, quan điểm, chưa nói đến tính đảng thì cộng đồng trên không gian mạng luôn thể hiện những thao tác đương nhiên và bình thường đó như nghĩa của hai chữ tương tác thôi.
Chúng ta cùng mong rằng tất cả mọi người mà nhất là các đảng viên luôn là những nhân tố, những "tương tác viên" tích cực trong xây dựng mối đoàn kết toàn dân trên không gian mạng các bạn thân thương nhé!

 LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY HỘI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 18/11

1. Lịch sử ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, dòng chủ lưu chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết dân tộc đã được hình thành và củng cố trong hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nó thấm đẫm vào tư tưởng, tâm hồn của mỗi người con đất Việt. Và đại đoàn kết dân tộc tiếp tục là nội dung tư tưởng chính của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với sự ra đời của ngày hội đại đoàn kết dân tộc, nó minh chứng cho việc đổi mới phương thức hoạt động, tập hợp đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh nội lực nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong quá trình củng cố và mở rộng về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương. Để thực hiện được điều đó phải hướng công tác Mặt trận về cơ sở, về từng địa phương, từng khu dân cư, từng gia đình. Tạo cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết từ cá nhân, gia đình, khu dân cư đến cấp xã, phường, huyện, tỉnh. Đó chính là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn đó, mà ngày hội đại đoàn kết ở Việt Nam ra đời.

Nhằm phát huy truyền thống Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, năm 1986 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã quyết định lấy ngày 18/11/1930 – ngày Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất để làm ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, hằng năm cứ đến ngày 18/11, Mặt trận đã đề ra chương trình, nội dung và các hình thức hoạt động phong phú, đa dạng nhằm ôn lại truyền thống lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

Ngày 1/8/2003, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Nghị quyết số 04/NQ/ĐCT-MTTW về việc tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" và quyết định lấy ngày 18/11 hàng năm làm ngày tổ chức Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư nhằm tiếp tục xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới.

2. Ý nghĩa của ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc

Sau khi có quyết định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày hội đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư ngày càng được quan tâm hơn, diễn ra với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Ngay cả những vùng nông thôn, vùng miền núi, ngày hội càng mang nhiều bản sắc văn hóa và tập trung đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và thực sự trở thành ngày hội của toàn dân tộc.
    
- Ngày hội đại đoàn kết đã tôn vinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thông qua ngày hội, các nét văn hóa đặc  

 LỜI BÁC DẠY NGÀY 15/11/1948:


“… Đã tự kiêu, tự ái thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Đã cô độc thì chẳng việc gì thành công”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Bệnh tự kiêu, tự ái”, dưới bút danh X.Y.Z, đăng trên báo Sự Thật, số 102, ra ngày 15 tháng 11 năm 1948.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta mới được hai năm, trong xã hội đã có một số cán bộ có biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, công thần, hẹp hòi, kèn cựa địa vị, cục bộ bè phái, mất đoàn kết, chủ quan khinh địch; thiếu cố gắng vươn lên, tự cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được, việc gì mình cũng giỏi hơn người, mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai; không can đảm tự phê bình, không ưa những lời phê bình thật thà ngay thẳng… nói tóm lại là đã mắc bệnh tự kiêu, tự ái. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Bệnh tự kiêu, tự ái”, vạch rõ thực chất của căn bệnh này và khẳng định: “… Đã tự kiêu tự ái, thì không thể đoàn kết. Không đoàn kết tức là cô độc. Ðã cô độc, thì chẳng việc gì thành công”.

Giá trị, ý nghĩa sâu sắc câu nói của Bác vẫn còn tính thời sự, là lời răn dạy đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân phải luôn toàn tâm, toàn ý phục sựu Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; chống mọi biểu hiện vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân. Phải ra sức thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn khiêm tốn, trung thực, dũng cảm, mạnh dạn tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và phát triển ưu điểm. Luôn gương mẫu đi đầu, nói đi đôi với làm; không ngừng học tập nâng cao trình độ, cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ. Phải ra sức thực hành đoàn kết, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ địa phương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc các tiêu chí phẩm chất đạo đức cách mạng của quân nhân. Không ngừng học tập, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện với tinh thần cầu thị, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập và công tác hàng ngày; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đề cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ tự lập kế hoạch, xác định nội dung và phương pháp tự học tập, rèn luyện cụ thể phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của bản thân và điều kiện thực tế của đơn vị. Tự nghiên cứu, tự đọc tài liệu, sách, báo, cập nhật và xử lý thông tin hằng ngày để bổ sung tri thức, nâng cao hiểu biết, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm hay vào tổ chức thực hiện nhiệm vụ./. 

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

 

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, được hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, cả ở nước nghèo và nước giàu, các quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển. Hiện nay, tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, diễn biến phức tạp, cần phải phòng, chống và triệt tiêu nó.

Nhận thức được mối nguy hiểm của tệ nạn tham nhũng đối với sự tồn vong của chế độ. Đảng và Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, triển khai quyết liệt các giải pháp để cảnh tỉnh, răn đe và loại dần tệ nạn này. Chủ trương của Đảng được cụ thể hóa thành Luật Phòng chống tham nhũng và nhiều văn bản chỉ thị như của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.

Thực hiện quyết tâm của Đảng, trong những năm qua công tác phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh và đạt được những kết quả tích cực; nhiều vụ án tham nhũng, liên quan đến nhiều người, nhiều cấp đã được xử lý. Những vụ án tham nhũng và lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng được đưa ra xét xử nghiêm minh, bất kể đó là ai, giữ cương vị nào. Điều đó, chứng tỏ quyết tâm của Đảng ta, cũng như hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, tạo được sự tin tưởng và đồng thuận của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy vậy, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội không thấy rõ điều đó, mà còn lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của Nhân dân ta. Thời gian qua, các bài viết có nội dung đề cập đến hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam được đăng tải trên các trang mạng xã hội, như: blog, facebook, website,… của một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. Nhìn vào những thông tin, bài viết đó đủ thấy sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Mục đích của chúng vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam. Từ đó gây hoài nghi trong Nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo sự “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ nội bộ, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng Nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội; hô hào, xúi giục Nhân dân “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”.

Như vậy, đã rõ các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ xấu, chống phá Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay.

          Mục đích và thủ đoạn của các thế lực là quá rõ ràng. Mỗi người dân Việt Nam cần phải cảnh giác trước những âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, quyết tâm cùng toàn Đảng đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, nhưng đồng thời đấu tranh với những hành động xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Đó mới là người dân của đất nước Việt Nam thực thụ, đó cũng chính là tình yêu đối với quê hương, đất nước. Chứ không như một số người kia, cứ rêu rao “dân chủ”, “dân quyền”, “vì nước”, “vì dân” nhưng hành động lại đi ngược lại./.

ST

 

 

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG, ĐẤU TRANH  VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Hiện nay, an ninh không gian mạng - thành tố của an ninh phi truyền thống là vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước. Thời gian qua, các thế lực phản động, cơ hội chính trị, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; trong đó chúng tập trung chống phá Đảng và Quân đội ta một cách quyết liệt hơn.

Mục tiêu của chiến tranh thông tin thông qua không gian mạng chính là đánh vào ý thức hệ, vào tư tưởng, tình cảm của con người đối phương trước khi thực hiện các mục tiêu tiếp theo. Đất nước ta đã trải qua chặng đường 35 năm đổi mới với nhiều thành tựu đáng tự hào, được cả Thế giới ghi nhận và ngưỡng mộ.

          Để thực hiện mưu đồ đó, các thế lực thù địch thường sử dụng một số phương thức như: Thiết kế thông tin đa dạng, hấp dẫn, trong đó kết hợp cung cấp thông tin với nội dung có vẻ khách quan nhằm đánh lừa độc giả nhưng kèm theo đó là các thông tin xuyên tạc, phản động, chống đối... Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để viết bài, bài bình luận mang tính kích động, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, đi đôi với lợi dụng cán bộ thoái hóa biến chất để nói xấu chế độ trên không gian mạng.

          Lợi dụng các tầng lớp thanh niên nhẹ dạ, để lôi kéo mua chuộc, đưa lớp trẻ vào lối sống thực dụng, ảo tưởng; lợi dụng kẽ hở trong quản lý của Nhà nước về thông tin mạng để thâm nhập và truyền bá thông tin sai lệch. Lợi dụng ưu thế của mạng Internet để truyền tải quan điểm sai lệch, cổ súy cho đa nguyên, đa đảng, xâm nhập các mã độc vào hệ thống máy tính của các cơ quan để khai thác tư liệu, chống phá ta.

Để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc và có thể "miễn dịch" trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, cán bộ, chiến sỹ Quân đội cần tiến hành các biện pháp cơ bản sau:

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nêu cao cảnh giác cách mạng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ không gian mạng và các sản phẩm của nó; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ, chiến sỹ có nhãn quan chính trị đúng đắn và trình độ lý luận sắc bén để nhận diện và đủ sức “phản biện” các thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội.

         Quán triệt, thực hiện nghiêm bảo mật thông tin mạng, Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng Internet và thông tin trên mạng; Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong Quân đội.         

Thường xuyên coi trọng xây dựng các tổ chức Đảng TSVM, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trước hết là trong sạch về tư tưởng chính trị, có kiến thức toàn diện, vững vàng về bản lĩnh chính trị, luôn luôn cảnh giác với những quan điểm sai trái và thông tin xấu độc trên không gian mạng.

          Chiến tranh thông tin và không gian mạng là một hình thái chiến tranh mới, chứa đựng nhiều nguy cơ và hậu quả khó lường. Triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá cách mạng Việt Nam đang là lĩnh vực được các thế lực thù địch ưu tiên, với mưu đồ: Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, từ đó làm chệch hướng XHCN, phát triển kinh tế thị trường TBCN; từng bước hình thành "xã hội dân sự", đẩy mạnh thực hiện "phi chính trị hóa" Quân đội. Tuy nhiên, xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thành quả của cách mạng Việt Nam và chế độ XHCN cũng đồng nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm./.

ST

 

 

 

VIỆT NAM TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO NHƯNG KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP ĐỨNG CAO HƠN PHÁP LUẬT!


Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật; các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được phát huy. Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi) của nước CHXHCN Việt Nam (điều 24) ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Về cơ bản các các tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau chung sống hòa bình, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu. 


Bên cạnh những điều hết sức tốt đẹp đó, vẫn đang tồn tại nhiều con sâu làm rầu nồi canh, nhiều kẻ lấy danh nghĩa tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xuyên tạc, bôi nhọ chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, kích động gây chia rẽ và không ngừng chống phá chính tổ quốc mình… Tôn giáo có nhiều nhưng tổ quốc chỉ có một; tự do tôn giáo nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật; không ai được phép đứng cao hơn pháp luật! Câu chuyện một số linh mục chống phá đất nước, chia rẽ người có đạo và người không theo tôn giáo nào, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc như Đặng Hữu Nam, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Duy Tân, Đinh Hữu Thoại…là những ví dụ điển hình. 


Vai trò là công dân Việt Nam, cần khẳng định rõ rằng, những vị này là những tên phản động đội lốt linh mục. Họ là công dân Việt Nam nhưng đã rất nhiều lần vi phạm pháp luật, kích động giáo dân chống phá chính quyền, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc ta. Họ thường xuyên xúc phạm lãnh tụ, phỉ báng các vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta, bôi nhọ, xuyên tạc về tình hình đất nước. Cấu kết với đám phản động ở trong và ngoài nước để tuyên truyền lật đổ chế độ và chính quyền nhân dân. Các ngươi nên nhớ rằng Thiên Chúa giáo chỉ du nhập vào nước ta bắt đầu từ năm 1533, từ năm 1533 đến năm 1614, chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào Việt Nam. Từ năm 1615 đến năm 1665, các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma-cao (Macau, Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (nam sông Gianh), Đàng Ngoài (bắc sông Gianh). 


Hiện nay, Công giáo có khoảng 6,5 triệu tín đồ; 42 Giám mục, khoảng 4.000 linh mục, hơn 100 dòng tu, tu hội, tu đoàn với hơn 17.000 tu sỹ; có 26 giáo phận, 07 Đại Chủng viện. Nghĩa là Thiên Chúa giáo mới chỉ tồn tại trên đất nước này có 488 năm, chưa đến 5 thế kỷ. Trong khi đó, đất nước này có lịch sử lập quốc gần 5.000 năm (2.879 trước Công nguyên). Nghĩa là, trước khi người Việt Nam bắt đầu theo tôn giáo nào đó thì trước tiên họ phải có cội nguồn, có tổ tiên, có lịch sử và tất cả người Việt đều là cháu Hồng, con Lạc dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo. Có đạo hay không có đạo cũng đều là người Việt Nam, là cây chung gốc, là con một nhà. Vậy lý do gì để các vị linh mục kể trên ngày đêm chống lại quê hương, nơi cội nguồn, gốc rễ đã nuôi dưỡng mình? 


Bộ Giáo Luật - The Code of Canon Law: QUYỂN IV ghi rõ “Cả bàn thờ cố định lẫn bàn thờ di động chỉ được dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tuyệt đối không được sử dụng vào bất cứ việc phàm tục nào”. Thế nhưng các người vẫn cố tình phớt lờ, vi phạm nghiêm trọng khi biến nhà thờ thành nơi cổ vũ những việc làm phàm tục, dành phần lớn thời gian của một buổi lễ để nói xấu chế độ, huy động giáo dân khiếu kiện, thiếu đạo đức nơi tôn nghiêm, các người không những vi phạm Giáo luật mà còn vi phạm cả Luật pháp Việt Nam, vi phạm đạo đức và luân lý…


Điều 1211 của Bộ Giáo luật cũng ghi rõ “Những nơi Thánh bị xúc phạm do những hành vi vì bất xứng nghiêm trọng đã phạm tại đó và đã gây gương xấu cho các tín hữu…”. Với những việc làm vô pháp vô thiên như thế, các người liệu có kính Chúa khi mà hành động, lời nói đều không tương xứng với 10 điều răn, như thế có phải là bất kính với Chúa? Vai trò là linh mục, các người đã làm trái ý chúa và lòng dân. Đó là các phát ngôn, việc làm hoàn toàn không tương xứng với điều Giáo hoàng Francesco, Tòa thánh Vatican khuyến khích cộng đồng Công giáo ở Việt Nam “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”. Các phát ngôn, việc làm đó cũng hoàn toàn không tương xứng với điều đã được Giám mục răn dạy. 


Rõ ràng là chúng ta đã quá nhân nhượng để rồi một số linh mục được đà lấn tới. Khẳng định rõ là Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tôn giáo, tuy nhiên không một tôn giáo nào có thể đứng trên pháp luật Việt Nam. Đặng Hữu Nam, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Duy Tân, Đinh Hữu Thoại cần phải bị trừng trị trước pháp luật. Chúng không xứng làm linh mục, không xứng làm công dân Việt Nam. Cổ nhân dạy “trước dùng lễ để giáo hóa, sau mới dùng binh”. Tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhiều nhưng chúng vẫn bỏ ngoài tai và chưa có dấu hiệu ngừng việc chống phá đất nước. Dùng lễ không được thì phải dùng binh, đưa chúng ra trước ánh sáng của pháp luật để trừng trị. Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo nhưng không ai được pháp đứng trên pháp luật, tổ quốc./.

CHUYỆN KHEN THƯỞNG

 

Con người chắc chắn ai cũng muốn được khen. Tất nhiên là nếu bạn làm đúng, làm tốt thì bạn rất xứng đáng được khen thưởng, nhưng nếu bạn làm chưa tốt, thậm chí không tốt mà cố gắng tìm mọi cách để được khen thưởng thì đó là thảm hoạ. Không chỉ nhụt chí phong trào mà người khác nhìn vào họ sẽ coi thường, không tâm phục, khẩu phục. 


Ngày xưa khi trị quân, các tướng soái giỏi thường đưa ra các tiêu chí để thưởng, phạt thật phân minh. Có công được thưởng, có tội phải phạt. Thế mới bảo đảm được việc duy trì quân kỷ nghiêm minh, khích lệ tướng sĩ, đồng thời đặt ra những chuẩn mực để không ai dám vi phạm quân lệnh. Bác Hồ đã từng dạy "thi đua là yêu nước, yêu nước là phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất". Tuy nhiên, cần so bó đũa để chọn cột cờ, tìm ra những người xứng đáng nhất và khen thưởng, động viên, khích lệ họ trên mặt trận thi đua, ái quốc!


Khen, chê, thưởng phạt đúng mực, đó cũng là cái trí của kẻ cầm cân nảy mực. Nước Việt thời Trần, huy hoàng khi 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông. Hào khí Đông A ngút trời Á Đông, vì Hưng Đạo Vương biết khích lệ binh sĩ, thưởng phạt phân minh. Cả nước đồng lòng nhất trí để "SÁT THÁT". Đến đời vua Trần Dụ Tông, thế nước nghiêng ngã, suy vi vì Dụ Tông chỉ biết hưởng lạc, nghe lời tâng bốc, nịnh hót của đám nịnh thần. Vạn thế sư biểu của nước Việt là Chu Văn An can gián, phê bình và dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, nhưng Vua không nghe. Trần Dụ Tông đắm chìm tửu sắc, chỉ thích khen, bỏ qua lời nói phải. Trung ngôn nghịch nhỉ, Chu Văn An đành gạt lệ mà từ quan. Nhà Trần suy vi từ đây, chẳng bao lâu sau thì mất nước. Thế mới thấy cái sự khen chê thật có giá trị biết bao.


Nước ta hiện nay, từ học sinh tiểu học cho đến cán bộ lãnh đạo cao cấp đều ngập tràn "bằng khen, giấy khen". Nhiều lúc, nhiều nơi người ta khen nhau vô tội vạ. Học sinh thì có lớp có 100% em nhận giấy khen. Quan chức thì có nơi được nhận giấy khen cho tất cả, chẳng ai mất lòng ai. Đó là cái hoạ suy vi, chúng ta cần phải suy nghĩ lại, nhận thức lại và hành động lại! Cả lớp học chỉ nên tặng giấy khen cho những ai thật sự xuất sắc, bỏ khen học sinh tiên tiến đi. Cả lớp nhìn vào một vài bạn xuất sắc để mà phấn đấu, không thể để chủ nghĩa bình quân. Cán bộ công chức cũng thế, một năm công tác, phải bình bầu vài người thật sự xứng đáng để nhận giấy khen, bằng khen. Không có chuyện hoà cả làng rồi "con hát mẹ khen hay". Nguy hiểm lắm đấy!  


Bệnh thành tích, chủ nghĩa vừa lòng cả làng chính là mối nguy của quốc gia, dân tộc. Ai cũng tưởng mình giỏi, mình hay thì làm sao mà tự phê bình và phê bình cho đặng. Có công phải thưởng là đúng nhưng phải so bó đũa để chọn cột cờ, làm gương cho người khác học tập. Tập thể nào cũng 100% hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ thì hỏng vì con người không phải là thần thánh, ai cũng có sai lầm, khuyết điểm. Đừng quá huyễn hoặc về mình. Phải thường xuyên tìm tòi, học hỏi và nhận định đúng sai lầm, khuyết điểm của mình và của đồng chí, đồng đội của mình, tìm hướng khắc phục thì mới là hồng phúc của nhân dân. Người dân cần cán bộ như vậy chứ không cần những người "nhà chẳng có gì ngoài bằng khen, giấy khen". Con trẻ cũng cần hướng giáo dục đúng, đi vào thực chất chứ chẳng phải là thành tích theo kiểu tự sướng với nhau, tự sướng giữa phụ huynh và giáo viên. Cần lắm một cuộc "thay máu tư tưởng". Được thế thì xã tắc may lắm, nhân dân yêu lắm./.

Pháp luật là công bằng

 

          Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

          Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

          Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

          Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

          Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

          Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người.

 

 

Những đứa trẻ khát trường

Con gái tôi năm tuổi, hàng ngày đang bị “nhốt” trong nhà cùng anh 14 tuổi. Đã hơn sáu tháng, trường học và các dịch vụ giáo dục đều đóng cửa, gia đình tôi không có người giúp, hai con tôi quanh quẩn trông nhau trong bốn bức tường, không được tiếp xúc bạn bè cùng trang lứa. Mỗi buổi sáng, con gái luôn thức dậy trước sáu giờ để canh bố mẹ, ra chặn cửa và khóc, "bố mẹ đi làm nhớ nói với cô giáo cho về sớm để chơi với con". Buổi chiều đi làm về muộn, con nằng nặc đòi tôi đưa đi chơi với các bạn. Trường ngay dưới chân toà nhà, thỉnh thoảng con lại dắt bố đến, chỉ vào cổng bảo, trường con đấy, bao giờ mở cổng, tại sao con không được đến lớp. Tôi đã tìm các cách, cho con trò chuyện với bạn bè qua điện thoại, kết nối với gia đình khác qua nhóm trực tuyến, nhưng con đều kêu chán vì muốn gặp "bạn thật". Hà Nội hết giãn cách, chúng tôi đưa con đến nhà bạn ăn cơm. Con bé ngay lập tức dính lấy con của người bạn. Lúc tạm biệt ra về, hai đứa rủ nhau bỏ trốn, khi bị phát hiện thì khóc như mưa. Về nhà, con lại khóc, "con không cần người lớn, con phải chơi với trẻ con". Gia đình bạn tôi ở chung cư, nhà có hai trẻ nhỏ, khi giãn cách, lũ trẻ bức bối, thỉnh thoảng trốn ra hành lang chơi. Lần nào chúng cũng bị hàng xóm nhắc nhở, gọi điện báo ủy ban và công an phường. Họ cho rằng không được để trẻ ra hành lang. Là một bác sĩ có hai con nhỏ, tôi theo dõi rất sát ảnh hưởng của đại dịch ở cả trẻ em và người lớn. Và tôi nhận thấy, đối với trẻ em, nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe do không được đến trường không thấp hơn nguy cơ mắc Covid-19. Hàng loạt nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra việc đóng cửa trường học tác hại rất lớn đến trẻ em, như sự gia tăng các vấn đề sức khoẻ tâm thần, bao gồm rối loạn hành vi, trầm cảm, tự sát, chưa kể học tập không mấy hiệu quả. Một nghiên cứu tổng hợp từ 54 nghiên cứu cho thấy, khả năng nhiễm virus ở trẻ em chỉ bằng một nửa so với người lớn trong cùng gia đình. Theo số liệu thống kê ở Mỹ từ tháng ba đến tháng 10 năm 2020, trẻ năm đến 14 tuổi, nguy cơ tử vong do Covid là 1/1.000.000 trong khi tử vong vì các nguyên nhân khác cao gấp 10 lần. Con số khác ở Thụy Điển, quốc gia có gần hai triệu trẻ em đi học không bắt buộc đeo khẩu trang, thời điểm dịch nóng nhất từ tháng ba đến tháng sáu năm 2020, chỉ 15 trẻ mắc Covid nặng và không có tử vong. Nghiên cứu tổng hợp khác cũng chỉ ra rằng, người già 85 tuổi nguy cơ tử vong cao gấp 7.500 lần so với trẻ 10 tuổi, trong khi người 65 tuổi sẽ cao gấp 700 lần. Tại Việt Nam, thời điểm học sinh bước vào năm học mới, TP HCM chỉ có 14.800 trẻ bị nhiễm - khoảng 5% tổng số ca nhiễm. Trong đó, 13 trẻ bị tử vong, chiếm 0,1% tổng số ca tử vong, tất cả đều có bệnh lý nền. Trẻ con cần con trẻ. Con gái tôi nói đúng. Những đứa trẻ không thể cứ bị nhốt mãi trong bốn bức tường với màn hình máy tính hoặc điện thoại, không thể chỉ ngày ngày tham chiếu với mỗi bố mẹ, anh chị hay ông bà. Trẻ phải có không gian của chúng. Đó là thế giới bên ngoài, là trường lớp, là bạn bè và thầy cô để học tập, tương tác, từ đó phát triển thể chất, trí tuệ và tâm hồn. Cân nhắc giữa lợi và hại khi mở cửa trường học, các nước phương Tây đã không chờ đợi tiêm vaccine mới cho trẻ đến lớp, các quốc gia ở châu Á cũng đã làm như vậy. Điều đó có làm trầm trọng thêm đại dịch? Câu trả lời là "không". Một nghiên cứu ở Đức đã tận dụng kỳ nghỉ hè để so sánh, từ đó chỉ ra rằng chưa có bằng chứng cho thấy việc đóng hay mở trường liên quan tới sự gia tăng số ca nhiễm. Virus chẳng thể biến mất trong một hai năm tới, sống chung trở thành lựa chọn hợp lý, Nghị quyết 128 chính là lựa chọn ấy. Sẽ có hai tình huống xảy ra ở bất cứ địa phương nào. Một là, Covid-19 trở thành bệnh đặc hữu, nghĩa là nó giống như cúm mùa, như sởi, thuỷ đậu hay nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Trong tình huống này, số ca nhiễm không gây quá tải hệ thống y tế, số ca tử vong chấp nhận được. Thời điểm hiện tại, trung bình mỗi ngày khoảng 74 ca tử vong do Covid, 31 ca do lao, 205 ca do ung thư, theo Bộ Y tế. Bùng phát sởi, cúm mùa hay thuỷ đậu, vì là bệnh đặc hữu nên không thực hiện cách ly hay phong toả, cũng không đóng cửa trường học. Hai là, Covid-19 bùng phát mất kiểm soát, hệ thống y tế bị đe doạ, số ca tử vong cao. Lúc đó, nhà chức trách sẽ chuyển trạng thái của đại dịch, áp những biện pháp như giãn cách xã hội và tạm đóng trường học. Các lĩnh vực đời sống xã hội đã gần như bình thường trở lại, nhưng trường học vẫn chưa mở. Rõ ràng, quyền lợi của người lớn đang được ưu tiên so với hạnh phúc của trẻ em. Việc đóng cửa trường học dường như để bảo vệ người lớn nhiều hơn. Covid-19 nguy hiểm với người lớn, đặc biệt thảm khốc với người cao tuổi và có bệnh nền, nhưng trẻ em thì khác. Để những đứa trẻ trở lại trường học an toàn, theo tôi, cần xây dựng quy trình chống nhiễm khuẩn học đường thật tốt. Giáo viên nên được tiêm chủng đầy đủ, giới hạn sĩ số lớp học, phát hiện và cách ly học sinh có triệu chứng, hướng dẫn trẻ thói quen phòng vệ cá nhân. Mở cửa trường học có thể phải chấp nhận số ca trẻ nhiễm Covid tăng. Vaccine không phải lá bùa miễn nhiễm. Từ đầu năm 2021 đến nay, hàng triệu trẻ em trên thế giới đã đến trường an toàn khi dịch bệnh ở những quốc gia ấy vẫn đang hoành hành, điều đó càng xói mòn quan điểm cho rằng trẻ cần được tiêm phòng đầy đủ mới có thể đi học. Ba hôm trước, tôi lóe lên hy vọng khi nghe người đứng đầu chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Y tế khẩn trương xây dựng phương án đưa trẻ đến trường. Chúng ta không thể bất công với trẻ. Không thể để những đứa trẻ khát trường, khát bạn tiếp tục ngồi một mình trong bốn bức tường chờ đợi hai mũi vaccine để có thể gặp nhau. Đại dịch đã tổn thương sâu sắc đến trẻ em, phần lớn không phải vì trẻ mắc virus mà bởi những lựa chọn của xã hội. Gần hai năm trời, hàng triệu đứa trẻ mất cơ hội học tập, sự phát triển và tuổi thơ. Cho các em quay trở lại lớp càng sớm càng tốt là cách để không bỏ rơi trẻ một lần nữa, đặc biệt là những em cần giáo dục và chăm sóc đặc biệt như tự kỷ, chậm phát triển.

Ông Phan Văn Mãi nói về thời điểm không ban bố tình trạng khẩn cấp cũng như những áp lực chống dịch khi nhận nhiệm vụ Chủ tịch thành phố, trong cuộc phỏng vấn với VnExpress.

- Sau hơn một tháng "mở cửa", cuộc sống người dân TP HCM đang dần trở lại bình thường. Nhìn về giai đoạn chống dịch khốc liệt, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Nên từng chia sẻ "nỗi lo lắng, ám ảnh vẫn còn hiện hữu đến hôm nay". Với cá nhân ông thì sao? - Tôi đã có những khoảng thời gian rất lo lắng. Nhất là khi số bệnh nặng liên tục tăng cao, số tử vong có hôm trên 300 người, hay những lúc người dân cần nhập viện mà không có chỗ... Tôi vừa lo cho sức khỏe người dân vừa thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm khi không cung cấp được đầy đủ về y tế. Bây giờ nhìn lại, không biết lúc đó sao mình chịu đựng được, có thể vượt qua giai đoạn khó khăn như vậy. Có những lúc tôi thấy áp lực khủng khiếp. Nhưng rồi tôi nghĩ, đây là việc phải làm, chỉ có cách đối diện để cố gắng mỗi ngày. Bên cạnh mình còn có anh em, có lực lượng tăng cường hỗ trợ. Mừng cái nữa là sau này thành phố có thêm vaccine, thuốc, kinh nghiệm tiếp nhận, điều trị bớt lúng túng... nên tình hình dần cải thiện. - Được bổ nhiệm làm Phó bí thư thường trực Thành ủy vào đầu tháng 6 và hai tháng sau, ông được điều động làm Chủ tịch UBND thành phố, Trưởng ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 trong giai đoạn dịch căng thẳng nhất. Ông đã đối diện với việc này như thế nào? - Tôi về thành phố được thời gian rất ngắn, công việc còn mới mẻ. Nhận nhiệm vụ lúc dịch bệnh bùng phát nên tập trung lớn nhất của tôi là cùng các lãnh đạo và hệ thống chính trị, nhân dân thành phố thực hiện biện pháp phòng chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương, sự hướng dẫn của bộ ngành chuyên môn. Có thể nói, đến giờ này, dù ở nhiệm vụ là Phó bí thư thường trực Thành ủy hay Chủ tịch UBND thành phố đều trong giai đoạn cao điểm dịch bệnh nên công tác phòng chống dịch gần như chiếm hết thời gian của tôi cũng như các lãnh đạo thành phố. Hơn một tháng gần đây, khi dịch bệnh dần được kiểm soát, tôi mới có thời gian cho các nhiệm vụ khác như phát triển kinh tế, xã hội... - Trong suốt 5 tháng chống dịch, TP HCM đã ra nhiều quyết định tác động đến người dân. Ảnh hưởng lớn nhất là quyết định nâng cấp độ giãn cách xã hội trong tình huống dịch bệnh khẩn cấp từ ngày 23/8. Đã có những lo ngại, cân nhắc nào được đưa ra trước quyết định này, thưa ông? - Ở một đô thị lớn như TP HCM, không có quyết định nào gọi là nhỏ, nhất là những quyết định tác động đến toàn bộ người dân. Cho nên, lúc đầu thành phố cũng đặt vấn đề ban bố tình trạng khẩn cấp. Sau khi cân nhắc nhiều mặt, chúng tôi thấy rằng việc đó có thể sẽ tạo ra những hệ lụy mà mình chưa lường hết được. Do vậy, thành phố bàn đi, bàn lại và đề xuất thống nhất áp dụng một số biện pháp của tình huống khẩn cấp mà không ban bố tình trạng khẩn cấp. Mười mấy triệu dân thực hiện "ở đâu yên đó". Mình thấy việc hạn chế đi lại, người dân có thể chịu được, nhưng vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm rồi các nhu cầu thiết yếu của người dân, trong đó có nhu cầu về y tế đang rất nóng, sẽ đáp ứng bằng cách nào? Tổ chức lực lượng, hậu cần để đáp ứng là một nhiệm vụ quá lớn. Việc cung ứng hàng hoá của thành phố bình thường do thị trường điều tiết. Khi mình cho dừng lại hết rồi, chuỗi cung ứng sẽ bị đứt gãy, các dịch vụ phải tạm dừng. Cho nên, lúc đó rất khó khăn, thành phố phải mất hơn một tuần để chuẩn bị. Chưa kể, khi Trung ương quyết định tăng cường các lực lượng của Bộ Quốc phòng, Công an và lực lượng khác vào, thành phố cũng phải tổ chức phối hợp, phân, giao nhiệm vụ sao cho tốt, cũng rất khó khăn. Rất may các anh ở Bộ Quốc phòng và Công an có nhiều kinh nghiệm điều, bố trí quân nên đã hỗ trợ rất nhiều cho thành phố. Trong quá trình đó, TP HCM bằng thực tiễn của mình cũng đề xuất với Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ. Ví dụ, theo kế hoạch ban đầu người dân ở nhà, ai ở đâu yên đó, lực lượng quân đội sẽ đảm nhận việc đi mua hàng và cung cấp lương thực thực phẩm. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, việc này nếu tổ chức theo đặc điểm của thành phố, sẽ phát huy một phần lực lượng cung ứng của thị trường. Vì vậy, sau đó, lực lượng shipper đã được hoạt động để phục vụ nhu cầu người dân. Đó là những việc chưa có tiền lệ, thành phố chưa bao giờ xảy ra tình huống như thế, tất cả đều rất mới mẻ, thách thức. Quá trình làm, anh em cũng bàn bạc, cái gì nhận diện ra sẽ thống nhất làm, rút ra điều gì sẽ tiếp tục điều chỉnh. Cho nên, có thể nói công tác phòng chống dịch của TP HCM vừa qua là quá trình vừa học vừa điều chỉnh rất nhiều. - Theo ông, quyết định nào giúp tình hình dịch của TP HCM thay đổi? - Kết quả của một quá trình như vừa qua mình không thể nói do một hay hai yếu tố quyết định được. Tuy nhiên, theo tôi, tại thời điểm dịch bùng phát mạnh, chủ trương xây dựng "mỗi xã phường là một pháo đài, người dân là chiến sĩ" đã có hiệu quả trong việc ngăn chặn dịch lây lan. Cùng với đó, lực lượng tăng cường xuống từng pháo đài để củng cố các trạm y tế hiện hữu và lập thêm các trạm y tế lưu động với sự tham gia của các quân y hỗ trợ F0 tại nhà. Đồng thời, thành phố phát huy các đội hình hỗ trợ người dân tại cơ sở như đội phản ứng nhanh, nhóm tư vấn online theo địa bàn... là những lực lượng đóng góp rất lớn giúp tình hình chuyển biến. - Trong suốt những tháng chống dịch vừa qua, có nuối tiếc nào mà ông nghĩ thành phố có thể làm tốt hơn? - Chắc chắn có nhiều việc mình cần phải rút kinh nghiệm, nhưng thật sự chúng ta đã làm hết sức. Thành phố đang chuẩn bị sơ kết công tác chống dịch và sẽ đánh giá đầy đủ hơn việc này. Tôi nghĩ chúng ta nên đánh giá việc này theo thời điểm. Tức là mình rút kinh nghiệm để chuẩn bị cho tình huống tương tự sẽ xử lý thế nào để hiệu quả hơn. Còn nếu nói quay lại và nuối tiếc gì thì nó đã xảy ra rồi. - Ở thời điểm ngày 1/10, TP HCM bắt đầu mở cửa hoạt động, dần tái thiết thành phố. Nhưng cũng lúc này, dòng lao động di cư ồ ạt rời thành phố về quê. Khi ấy, ông cảm thấy như thế nào? - Những ngày đầu tháng 10, tôi có mặt ở các cửa ngõ và chứng kiến dòng người khá đông rời thành phố bằng xe máy. Lúc đó, tôi có rất nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Trước mắt tôi, những cặp vợ chồng cùng con nhỏ đèo nhau qua quãng đường dài để về quê, thấy rất xót xa. Tôi rất chia sẻ với bà con đã trải qua thời gian dài phải chịu đựng. Nhưng việc lớn nữa là tại thời điểm đó, thành phố chưa thể nào mở ra các hoạt động kinh tế để bà con có thể yên tâm ở lại, để có việc làm, có sinh kế, thu nhập. Đó là điều khiến tôi ray rứt nhưng không thể làm khác được. Bởi vì các hoạt động kinh tế, xã hội phải mở dần dần theo tình hình kiểm soát dịch. Thực tế cho đến lúc này, sau hơn một tháng ngưng giãn cách, thành phố vẫn chưa thể mở lại hết các hoạt động kinh tế - xã hội như trước. Việc người lao động rời thành phố nhiều như thế sẽ ảnh hưởng lực lượng lao động của nền kinh tế. Chuyện đó cũng đặt ra suy nghĩ cho thành phố phải có chiến lược về lao động, an sinh xã hội, việc làm, nhà ở cho người lao động. Việc này phải đi từ cơ cấu kinh tế của thành phố, rồi từ đó có chiến lược bài bản về lao động, về đào tạo nghề để đáp ứng. Sau đó là các chính sách về nhà ở và các chính sách khác cho người lao động. Thành phố đặt mục tiêu từ đây đến năm 2030 xây dựng một triệu căn hộ giá rẻ cho người thu nhập thấp. Trong đó phân kỳ từ nay đến năm 2025, tập trung cho phân khúc nhà ở cho công nhân, nhà trên kênh rạch, thay thế chung cư cũ. Bên cạnh đó, thành phố sẽ xây dựng cơ chế, chính sách giúp chủ nhà trọ cải tạo, nâng cao chất lượng nhà cho thuê đúng quy chuẩn, góp phần cải thiện nơi ở của người lao động. Để thực hiện mục tiêu này, thành phố sẽ đẩy nhanh thủ tục, rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư dự án, tạo nguồn lực đất đai, xã hội hoá nguồn vốn đầu tư... - Ở giai đoạn quyết định chỉ mở cửa dần các hoạt động của thành phố, có nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, TP HCM thận trọng không cần thiết vì khi đã phủ đủ vaccine, Covid-19 không thể biến mất thì phải xác định sống chung với dịch. Quan điểm của ông như thế nào? - Sau thời gian phòng chống dịch, có nhiều ý kiến nhận định về các biện pháp kiểm soát dịch khác nhau. Có người ủng hộ mở cửa để sớm phục hồi kinh tế, có ý kiến đề nghị chưa mở vì lo sợ dịch bùng phát trở lại. Ngay bây giờ thành phố cũng nhận được 2 luồng quan điểm. Một luồng cho rằng như vậy là chậm, dè dặt, quá thận trọng. Nhưng cũng có luồng nói thành phố mở như vậy là nguy hiểm, chủ quan, cho nên mình phải cân nhắc rất kỹ. Sau gần một tháng rưỡi mở cửa, dù số ca nhiễm tăng nhưng số ca nặng, ca tử vong vẫn trong theo dõi và kiểm soát. Trước ý kiến của các chuyên gia, mình cần ghi nhận, tiếp thu để có sự điều chỉnh. Từ khi nhận nhiệm vụ Trưởng ban chỉ đạo phòng chống dịch của thành phố, tôi có các kênh tiếp thu ý kiến chuyên gia, doanh nghiệp và người dân. Ở các quyết định về biện pháp phòng chống dịch thời gian qua, thành phố có nhiều điều chỉnh từ việc tiếp thu này. Thế giới đã đúc kết và đưa ra công thức nào trong phòng chống Covid-19 hay không, chứ theo cá nhân tôi, việc này có lẽ không có đáp án đúng hoàn toàn mà chỉ chọn giải pháp phù hợp ở từng thời điểm. Có thể biện pháp đó đúng với tình huống hiện tại nhưng sau này mình nhìn lại sẽ thấy khác. Cho nên việc đánh giá công tác chống dịch nên đặt trong từng tình huống và bối cảnh lịch sử của nó. - Sau hơn một tháng mở cửa, nhiều hoạt động kinh tế đang có những dấu hiệu hồi phục, ông đánh giá thế nào về kết quả này? - Hơn một tháng qua, TP HCM vừa tiếp tục các biện pháp phòng chống dịch vừa dần mở các hoạt động xã hội, sản xuất kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ. Sau nhiều tháng giãn cách, các hoạt động xã hội, sinh hoạt người dân trở lại bình thường trong điều kiện mới. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh được phục hồi, nhiều lĩnh vực đạt 70-90%. Việc này đã tạo ra những cơ hội việc làm, sinh kế và thu nhập cho người dân. Người dân, doanh nghiệp trên địa bàn đều phấn khởi với kết quả này. TP HCM đã trải qua thời điểm khó khăn nhất, và chúng tôi tự đáy lòng rất biết ơn Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cũng như các bộ ngành trung ương, các địa phương đã chia sẻ kịp thời, giúp đỡ hiệu quả để thành phố vượt qua những khó khăn. Nói về cảm xúc lúc này, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì đến giờ tình hình dịch vẫn kiểm soát được, các hoạt động bình thường của người dân, của xã hội, sản xuất kinh doanh dần phục hồi trở lại. Tôi vui khi thấy TP HCM đang trở lại một thành phố năng động vốn có, đúng vị thế của mình. Tuy nhiên, tôi cũng rất lo vì nguy cơ dịch bùng phát trở lại do TP HCM là trung tâm giao thương lớn, mật độ dân cư cao và đặc biệt biến chủng của virus rất phức tạp. Trên thực tế, nhiều thành phố, nhiều quốc gia trên thế giới cũng phải đóng cửa trở lại khi vừa mở ra. Đây cũng là tình huống, nhiệm vụ khó khăn, phức tạp đối với tôi. Thành phố đang theo dõi sát sao, nghiên cứu và thường xuyên cập nhật các kế hoạch phòng chống dịch với những kịch bản, giải pháp phù hợp.

NHÂN QUYỀN “KHÔNG PHẢI LÀ THỨ ĐEM RA ĐỂ MUA BÁN”

Dùng "nhân quyền" để ra điều kiện trong quan hệ ngoại giao, "nhân quyền" để đổi chác, ràng buộc các điều kiện kinh tế... đó là những điều đang đi ngược lại với xu thế "hòa bình, ổn định, hợp tác" giữa các quốc gia dân tộc. Một số cá nhân, tổ chức, nhà nước tự cho mình quyền được phán xét, quyền đưa ra quyết định nên đã sẵn sàng bất chấp mọi điều ước quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia để vu khống Việt Nam vi phạm, bóp nghẹt quyền con người.


Vừa qua, truyền thông của BBC, RFA, VOA, số cá nhân chống đối chính trị lại loan báo thông tin, tuyên truyền vu vạ Việt Nam trong việc bắt, xét xử một số đối tượng vi phạm pháp luật như Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang... tất cả những thông tin đi đến qui kết cho rằng Việt Nam vi phạm quyền được biểu đạt thông tin mà theo qui định của Hiến pháp 2013 cho phép. Trong đó, PGĐ phân ban Châu Á của HRW (Robertson) qui kết rằng: "Việt Nam chà đạp nhân quyền khi bắt giữ những nhà hoạt động với những cáo buộc ngụy tạo rồi thẩm vấn khắc nghiệt họ suốt nhiều tháng trời mà không có luật sư bào chữa". Mặc dù thiếu nguồn thông tin chính thống nhưng ông này lại đưa ra lập lập có vẻ quyết đoán, tuy nhiên, những nguồn thông tin với dữ liệu mơ hồ, thiếu chính xác đã gây ra nhiều mối lo ngại về việc đánh giá sai tình hình nhân quyền của Việt Nam. 


Vu cáo Việt Nam chà đạp nhân quyền với một quan điểm áp đặt, chỉ trích mang tính một chiều đã gây ảnh hưởng lớn đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Phải khẳng định rằng, đối với các đối tượng mà ông Robertson liệt kê trên họ là người hiểu biết, có năng lực hành vi rõ ràng, do đó không có lý do gì để cố tình vi phạm các điều luật đã qui định trong bộ luật hình sự. Nhà nước Việt Nam rất tôn trọng quyền con người và đa phần các quốc gia trên thế giới cũng ghi nhận điều đó. Những nỗ lực xây dựng một đất nước bình đẳng về quyền con người đã trở thành một điểm sáng, một bước tiến lớn của Việt Nam, mang hình ảnh đẹp của mình đi khắp thế giới và có nhiều sự ghi nhận về những cố gắng đó. Vậy thì? Thử hỏi tại sao từ những góc nhìn, định kiến cá nhân lại đi qui kết cho Việt Nam là vi phạm nhân quyền ?


Tại thành phố Glasgow, xứ Scotland thuộc Vương Quốc Anh trong khuôn khổ hội nghị Liên Hiệp Quốc về khí hậu COP26 vừa qua ông Phạm Minh Chính cũng đã khẳng định sẵn sàng đối thoại với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới về vấn đề nhân quyền. Và những gì nhà nước Việt Nam đang nỗ lực đó chính là xây dựng một Việt Nam ấm no, hạnh phúc, quyền con người được đảm bảo. Vì lẽ đó, mọi thông tin tuyên truyền vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người là lập luận mơ hồ, sai trái.

-------------

St

BỨC TÂM THƯ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ TRƯỚC KHI RA TRẬN

(Chính những lá thư này là câu trả lời mà người Mỹ đã tốn bao công sức đi tìm lời giải: “VÌ SAO MỸ LẠI THUA VIỆT NAM”) 


Quảng Trị 11-9-1972


Toàn gia đình kính thương!

Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng phòng khi “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.


Mẹ kính mến! 


Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời. Con của mẹ đã đi xa để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu đời mẹ khổ đã nhiều nay bao hy sinh nuôi con khôn lớn. Song, vì đất nước có chiến tranh thì mẹ ơi hãy lau nước mắt cho đời trẻ lại, sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi. Số con đã đi xa để lại cho mẹ biết bao khó nhọc nay con đã đến ngày khôn lớn thì... Thôi nhé mẹ đừng buồn coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc.


Em yêu thương! 


Mọi lá thư đến với em là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em là nỗi buồn nhất và có lẽ là nỗi buồn đầu tiên trong cuộc đời em. Em ạ! Chúng ta sống với nhau chẳng được là bao thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao tình thương trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều, song đối với em không những chẳng được diễm phúc ấy mà đã sớm phải xa rồi. Thật chỉ là vừa gặp nhau đã phải mãi mãi xa nhau. Anh rất hiểu đợt này em sẽ gầy đi nhiều vì thương nhớ anh, vì đã phải xa nhau. Anh rất muốn được sống mãi mãi bên em, nhưng vì chiến tranh thì em ơi hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Giờ đây anh biết nói gì với em, chỉ mong em khỏe yêu đời. 


Em thương yêu! Nếu thực sự thương anh thì em hãy thắp vài nén hương tưởng nhớ tới anh. Còn em khi nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều. Nếu có điều kiện hãy cứ đi bước nữa vì đời còn trẻ lắm. Theo anh thì nên làm như vậy. Nhưng anh chỉ mong một điều là đối đãi với mẹ, anh chị trong gia đình như khi anh còn sống. Anh mong em hãy làm tròn cho linh hồn anh được bay cao ôm ấp trong giấc mộng trìu mến của em. Thôi nhé anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này vì biết bao nỗi buồn đè nặng lên tấm thân người con gái trẻ tuổi như em. Nhưng em ơi hãy bình tĩnh lại và làm theo lời anh căn dặn. Còn ngày anh đi xa là ngày đề ở ngoài phong bì mà nhờ các bạn anh gửi giúp. Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh.


Cho anh gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống hòa bình hãy nhớ tới công anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về “Nhan Biều 1”. Nếu tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Về đấy sẽ tìm thấy ghi dòng chữ đục trên mảnh tôn. Thôi nhé đó là có điều kiện, còn không thì em cứ làm tốt những điều anh dặn ở trên là tốt lắm rồi.


Anh chị kính mến! 


Anh em liền khúc ruột mềm mà giờ đây đã phải mãi mãi xa nhau. Ra đi mong anh chị khỏe mạnh trông nom mẹ già theo em (thay em), động viên mẹ khi biết được tin này. Em rất hiểu anh chị buồn lắm, kể gì đây cho anh chị đỡ buồn. Song anh chị hãy vui lên, chăm sóc các cháu, nuôi mẹ già sống lâu đó là điều em mong muốn nhất. Để cho linh hồn em được mãi mãi quanh anh chị và gia đình. Đối với Xơ anh chị nên động viên em nó và tìm đường tương lai vì em nó còn trẻ lắm. Hòa bình nếu có điều kiện vào Thị xã Quảng Trị sẽ đến được chỗ em yên nghỉ theo em đã căn dặn trên. Thôi nhé chúc anh chị ở lại, hồn em mãi mãi bên anh chị.


Cháu Trương mến thương!


Giờ cháu còn bé song sau này cháu sẽ là trưởng gia. Giờ đây phải cố gắng học tập cho thành người. Được sống hòa bình hãy luôn nhớ tới người chú ruột của cháu đã hi sinh. Khi trưởng thành hàng năm cứ đến ngày này hãy tưởng nhớ tới linh hồn của chú. Đặc tính của chú hay thích ăn thịt gà và chuối, xôi lắm đấy. Thôi nhé hãy làm tròn nghĩa vụ của người cháu đích tôn đối với chú.


Thầy mẹ kính mến!


Trước lúc con đi xa có mấy điều mong thầy mẹ làm theo lời con mong muốn. Thầy mẹ ạ, con rất hiểu thầy mẹ buồn nhiều vì mất đi người con thương mến của gia đình. Con mong thầy mẹ đừng buồn nhiều mạnh khỏe cho đời mãi mãi kéo dài đón mừng ngày thống nhất. Thầy mẹ ạ! Chúng con sống với nhau chưa được bao lâu nay đã... chắc em nó buồn lắm... Thôi tất cả những gì đã qua là đã vào dĩ vãng. Ra đi con mong thầy mẹ khỏe, sống lâu mãi mãi cho con gửi lời chào bà, các cậu, các mợ, chị Lộc và toàn thể họ hàng thân thuộc.


Con của gia đình: Lê Văn Huỳnh

Vạch mặt những kẻ mượn gió bẻ măng


          Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

          Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

          Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

          Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

 

CÔNG TRÌNH XÚC PHẠM DÂN TỘC!

     Long Thành, nơi mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975 với những trận đánh ác liệt như trận đánh Căn cứ Nước Trong, Chi khu Quân sự Long Thành, v.v... Đây là nơi hy sinh xương máu của biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, để mở toang "cánh cửa sắt" hướng Đông Nam của kẻ thù để đoàn quân cách mạng tiến về Sài Gòn, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các chính quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nơi đây đã trở thành vùng đất thiêng, đã trở thành một di tích, dấu tích, chứng tích lịch sử cách mạng Việt Nam. 

Ngày nay, để phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế tỉnh Đồng Nai nói riêng, Long Thành đã được quy hoạch xây dựng ở đây một cảng hàng không quốc tế, và đương nhiên, đi đôi với đó sẽ là sự phát triển các khu đô thị mới. Gần khu vực sân bay Long Thành đã mọc lên một dự án khu đô thị mang tên Dự án Century City, đường ĐT 769, xã Bình Sơn. 

Sẽ chẳng có gì đáng phải bàn luận và phê phán nếu như ở dự án khu đô thị này không mọc lên một bức tượng là biểu tượng của Hoa Kỳ, kẻ đã từng muốn cho dân tộc ta trở về thời kỳ đồ đá ở thế kỷ 20. Có lẽ là sau này khi cảng hàng không quốc tế Long Thành được hoàn thành và đưa vào khai thác thì các du khách quốc tế khi đặt chân đến miền Nam Việt Nam, thứ đầu tiên họ nhìn thấy đó là một biểu tượng của nước Mỹ chứ không phải là biểu tượng của một Việt Nam anh hùng và giàu lòng tự tôn dân tộc.

Nghĩ mà đau lắm!.... Muốn nói rất nhiều nhưng không thốt lên lời nữa do quá phẫn uất về một lũ đã bán rẻ hồn thiêng của Tổ quốc, của dân tộc và chà đạp lên xương máu của những người đã ngã xuống để cho chúng có cơ đồ ngày hôm nay, để chúng được hưởng thụ xa hoa, nhung lụa và phè phỡn, vô tâm, vô tri!...

P/s: Cấu trúc của đế đặt dưới chân tượng nữ thần tự do mới thật sự nguy hiểm. Mong các bạn cùng cho ý kiến về việc này!



Môi Trường ST.

NHỮNG NGƯỜI BỎ NƯỚC VƯỢT BIỂN RA ĐI TỪ 1975 - 1979 GỒM NHỮNG AI?

     Nhà văn đoạt giải Nobel Gabriel Garcia Marquez thăm Việt Nam vào giữa tháng 7/1979 nhận định:

"Tình hình ở thành phố Hồ Chí Minh lúc đó, cũng như trên toàn miền Nam sau thống nhất, rất hỗn loạn. Số Hoa kiều, khoảng trên 1 triệu người, đều trong tâm trạng hoảng sợ bởi vì mối đe dọa về một cuộc chiến tranh với Trung Quốc... Những vấn đề chính trị do Mỹ tạo ra càng làm vấn đề thêm rối rắm và việc tìm giải pháp cho thuyền nhân Việt Nam lúc đó là không thể.

Làn sóng di tản bắt đầu vào tháng 4 năm 1975 khi Mỹ kết thúc sự hiện diện tại Việt Nam và bỏ mặc đồng minh. Quân đội và lực lượng cảnh sát chế độ cũ, những điệp viên và đa.o phủ, cũng như những kẻ gi.ết người trong chiến dịch Phượng Hoàng, đã chạy khỏi đất nước.

Tuy nhiên, vấn đề nghiêm trọng nhất mà Việt Nam đối mặt sau giải phóng không phải những tội phạm chiến tranh mà là lực lượng tư sản của miền Nam. Phần lớn lực lượng này là Hoa kiều. Trong số 1,5 triệu người Hoa sinh sống ở Việt Nam trong chiến tranh, hơn 1 triệu người tập trung ở Chợ Lớn. Đó là một vùng riêng của chủ nghĩa tư bản giàu có giữa một trong những đất nước nghèo khổ nhất thế giới, với mọi hoạt động tiêu pha chỉ diễn ra về đêm và ở mọi trò giải trí. Tại đây có những sòng bạc, ổ thuốc phiện, các nhà thổ - sau giải phóng thì tất cả đều bị cấm.

Đến tháng 3 năm 1978, gần như mọi trao đổi vàng và ngoại tệ ở Việt Nam đều nằm ở quận Babylonic - tức vùng Chợ Lớn, và chính phủ cuối cùng quyết định chấm dứt sự vô lý này. Đầu năm 1978, quân đội và công an đã phá hủy một số lượng lớn mạng lưới đầu cơ tích trữ và nhà nước nắm giữ buôn bán lương thực. Không quyết định khởi tố nào được đưa ra nhằm chống lại những kẻ đầu cơ, thay vào đó chính quyền trả tiền cho số hàng của họ.

Mặc dù thế, nhiều người vẫn muốn trốn đi và việc người Hoa bị xem là tư sản, là Trung Quốc, càng dễ tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ thù của Việt Nam xuyên tạc hiểm độc, nguyên nhân là vì vấn đề giai cấp và không cùng giống nòi. Đến cuối năm 1978, 20.000 người đã di tản. 

Cuối cùng, chiến tranh với Trung Quốc vào tháng 2 năm 1979 nổ ra, sự thôi thúc ra đi đã trở thành cơn hoảng sợ.

Ở biên giới, tình hình còn căng thẳng hơn. Người Việt Nam cho rằng 160.000 người Trung Quốc sống tại đây đã băng qua biên giới trước cuộc xâm lăng của lính Trung Quốc, và rằng nhiều người đã xâm nhập trở lại Việt Nam nhằm lấy tin tức. Lo sợ mỗi người Hoa là một gián điệp, người Việt Nam đẩy họ ra xa mình...

Việt Nam đã hơn một lần là nạn nhân của những mưu đồ quốc tế thâm độc. Chính phủ Việt Nam không trục xuất ai cả, nhưng ở thời điểm đó, người ta đã hiểu khác đi."


Sách "Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua" nói về việc Trung Quốc đã sử dụng tuyên truyền để kích động người Hoa rời bỏ Việt Nam hàng loạt, nhằm làm suy yếu Việt Nam từ bên trong:

"...bằng những thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc, dọa nạt, Trung Quốc đã gây nên trong quần chúng người Hoa đang làm ăn yên ổn ở Việt Nam một tâm trạng hoang mang, lo sợ chiến tranh sắp nổ ra, một tâm lý nghi ngờ, thậm chí thù ghét người Việt Nam, khiến họ ồ ạt rời khỏi Việt Nam... Chỉ trong mấy tháng đầu, 170.000 người Hoa đã rời Việt Nam.

Cái gọi là vấn đề “nạn kiều” chỉ là một sự cưỡng bức người Hoa ở Việt Nam ồ ạt di cư mà thủ phạm chính là giới cầm quyền Bắc Kinh, nhằm gây xáo trộn về chính trị, xã hội, kinh tế ở Việt Nam, đồng thời kích động dư luận Trung Quốc, chuẩn bị sẵn sàng “đạo quân thứ năm” cho việc tiến hành xâm lược Việt Nam trong bước sau...

Nhà cầm quyền Trung Quốc giương cao chiêu bài “nhân quyền” của tổng thống Mỹ Carter, lợi dụng vấn đề người Việt Nam đi ra nước ngoài làm một vũ khí mới để chống Việt Nam. Những người Việt Nam đi ra nước ngoài phần lớn là những nhà buôn gốc Hoa giàu có và những sĩ quan trước đây sống nhờ Mỹ và chế độ bù nhìn, những người Hoa do Bắc Kinh dụ dỗ, cưỡng ép ra đi; một số những người trước đây sống trong xã hội tiêu thụ kiểu Mỹ và nay không chịu nổi những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và sự phá hoại của bọn bành trướng Bắc Kinh gây ra...

Từ tháng 1 năm 1979, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố cho phép những người có nguyện vọng ra nước ngoài được xuất cảnh hợp pháp sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết. Các cơ quan Việt Nam đã cùng Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn thỏa thuận một chương trình 7 điểm được công bố ngày 30 tháng 5 năm 1979, nhằm tạo điều kiện cho những người nói trên ra đi một cách có trật tự và an toàn.

Song Bắc Kinh và Washington đều huy động bộ máy tuyên truyền khổng lồ và mọi phương tiện chính trị, kinh tế, tài chính của họ, lợi dụng khía cạnh nhân đạo của vấn đề để bóp mép sự thật, dụ dỗ người Việt tìm cách vượt biên bất hợp pháp rồi bỏ mặc họ trên biển để cáo buộc rằng Việt Nam “xuất cảng nạn dân”, nhằm phát động một chiến dịch quy mô chống Việt Nam.”


Brance Grant đã viết:

"Số người bỏ Việt Nam ra đi tăng vọt trong sáu tháng đầu năm 1979. Trong năm 1978-1979, tuyệt đại đa số người vượt biên là người Hoa... “Phong trào rời khỏi Việt Nam" là không thể nào chặn lại được, bởi nó bị thúc đẩy vì tin đồn, sự khiếp sợ và sự tuyên truyền ngày càng hiểm độc về chiến tranh giữa Bắc Kinh với Hà Nội. Một khi đã bắt đầu, phong trào tự nó tiếp tục phát triển nhanh chóng... Khi Trung Hoa công bố ngày 26/5/1978 rằng họ đang đưa tàu biển đến Việt Nam để đón “các Hoa kiều nạn nhân”, thì khoảng 250.000 người Hoa ở Chợ Lớn đã đăng ký xin đi.

Nhưng sau đó, Trung Quốc lại không đưa tàu đến nữa (để gây áp lực với Việt Nam)... Đó chẳng phải chuyện đùa, tiếp theo các cuộc tấn công của quân Khmer Đỏ và Trung Quốc, nổi lên tâm lý chống Trung Quốc trên khắp nước.

Ra đi bằng con đường chính thức (do chính phủ Việt Nam cấp phép) thì sẽ chậm và kéo dài nhiều tháng, tàu Trung Quốc thì không tới nữa, nỗi sợ cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam làm người Hoa muốn ra đi ngay, và thế là họ sẵn sàng chịu mạo hiểm để tìm cách vượt biên bất hợp pháp...

Những người ch.ết khi vượt biên lại được Trung Quốc và Mỹ lấy làm cái cớ để buộc tội chính phủ Việt Nam đã "phạm tội diệt chủng" đối với người Hoa.”

Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên phái đoàn VNDCCH tại Hội nghị Paris trong hội thảo chiến tranh Việt Nam, Đại học Brown (Mỹ) phát biểu rằng Việt Nam sẵn sàng nhận lại những người bị từ chối nhập cư hoặc muốn quay về đất nước:

“Đó (chuyện người Việt vượt biên) là chuyện rất đáng tiếc. Về nguyên nhân thì thứ nhất là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền nếu Việt Cộng về sẽ có nạn tắm máu.

Sau 30/4/1975 nhiều người đã lo lắng chuyện “tắm máu” vì vậy việc đầu tiên họ tính là ra đi. Có mấy loại người ra đi:

Người thuộc chính quyền cũ, những người thấy làm ăn không thuận lợi, người giàu có và sau là những người sợ "tắm máu". Có một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam đã nghèo lại còn bị chiến tranh tàn phá nên cũng kiếm đường ra đi. Một lý do nữa, chúng tôi chiến trận thì biết nhưng làm kinh tế chưa nắm được tình hình, chưa làm tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân nên họ bỏ ra đi...

Tôi cũng bổ sung thêm: Dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi luôn luôn coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi."

Quan điểm của các bạn thì sao?

Yêu nước ST.

Ngày 15-11-1950: Bác Hồ nói gì về tham nhũng và công tác cán bộ?

 

Hơn 70 năm trước, vụ án Trần Dụ Châu-vụ án chống tham nhũng đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một vụ xét xử kịp thời, thể hiện quyết tâm chống tham nhũng của chính quyền non trẻ, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo.