Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Một số vấn đề phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

Nhận thấy không xóa được chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta, nếu không xóa được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, “Quân đội do Nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”. Họ viện dẫn thực tiễn ở các thể chế chính trị tư sản với chế độ đa đảng, Quân đội không do đảng nào lãnh đạo. Dựa vào đó, họ phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang Nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Hiến pháp 2013...

Mục tiêu nhất quán của những thủ đoạn trên là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò Quân đội ta là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Những thủ đoạn trên dù rất tinh vi, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, Nhà nước và Quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì vậy, Quân đội mang bản chất giai cấp của nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có nhà nước “phi giai cấp”, nên không có Quân đội “phi chính trị”. Ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, đảng nào thắng thế sẽ đứng ra lập chính phủ, nên quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào đường lối chính trị của đảng cầm quyền; đồng thời, bất cứ đảng cầm quyền nào cũng tìm cách nắm Quân đội. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thường xuất hiện lời kêu gọi “Quân đội không đứng về đảng phái nào”; nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội.

Để phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Trong mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong lịch sử Đảng ta lãnh đạo Quân đội, mặc dù hình thức diễn đạt ở mỗi thời kỳ có khác nhau. Theo đó, Đảng không chia sẻ, ủy quyền lãnh đạo quân đội cho bất kỳ tổ chức, lực lượng, cá nhân nào; không thông qua một khâu trung gian nào. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là toàn diện, trên mọi mặt công tác, mọi nhiệm vụ, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Ở đâu có tổ chức và hoạt động của Quân đội, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn liền với sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội. Mọi hoạt động của Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Quân đội thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực hiện trong thực tế. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Quân đội đều nhằm bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữ vững bản chất GCCN, tính Nhân dân và tính dân tộc; có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải kiên định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM). Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội chỉ được tăng cường khi bản thân Đảng TSVM. Đây là giải pháp căn cốt nhất để bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, cũng như đối với Quân đội. Để Đảng luôn vững mạnh, chúng ta cần kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Nghị quyết Đại hội XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với chỉnh đốn, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Vấn đề then chốt là tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM, mẫu mực, tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần thực hiện quyết liệt các biện pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo đảm mọi tổ chức đảng trong quân đội luôn TSVM về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người hiểu rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân. Trong thời gian tới, cần tăng cường thông tin, định hướng cho mọi tầng lớp Nhân dân quán triệt những quan điểm cơ bản của Đại hội XIII về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội. Làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ những nội dung cơ bản của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, tư duy mới về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong thời gian tới.

Để tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội trong thời gian tới. Cần làm cho mọi quân nhân nhận thức đầy đủ hơn nền tảng tư tưởng của Đảng; hiểu rõ Quân đội ta là quân đội nhân dân do Đảng xây dựng, giáo dục và rèn luyện. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, không mơ hồ, mất cảnh giác trước những thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Chủ động đấu tranh, phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài nhưng rất bức thiết, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực xây dựng nội bộ đơn vị mình, tổ chức mình vững mạnh toàn diện để không có ai dao động trước những thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường; phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí đối với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận nòng cốt, chuyên sâu; tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua hệ thống giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền miệng và trên mạng xã hội, internet.

Phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, trong đó Quân đội Nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng nội bộ vững mạnh là phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch.

Thiết lập “vùng xanh” Covid-19

Trên bản đồ Covid, màu xanh dường như đã trở thành một sắc màu mang tới sự lạc quan, niềm tin và hy vọng. Đó là màu xanh từ những “vùng xanh” hay còn được gọi là “vành đai xanh”- vành đai an toàn không Covid-19. Xây dựng “vùng xanh” trong cuộc chiến chống Covid-19 đang là giải pháp nhằm giảm mức độ từ vùng nguy cơ rất cao (vùng đỏ) thành vùng nguy cơ cao (vùng cam), vùng nguy cơ (vùng vàng) và tiến tới trở thành địa bàn an toàn - vùng xanh. Tùy vào đặc thù cụ thể, từng địa phương đã và đang triển khai nhiều cách làm, giải pháp quyết liệt để mở rộng “vùng xanh” với phương châm củng cố, phát triển ngay từ cơ sở, địa bàn dân cư. Bảo vệ “vùng xanh” ở cấp độ “tế bào” (tổ dân phố, ngõ, xóm) được xem là “vaccine cộng đồng”, mũi giáp công hiệu quả trong chiến lược chuyển hướng từ phòng ngự sang phản công. 

Tại những cuộc làm việc với các bộ, ngành, địa phương về phòng, chống dịch, Thủ tướng Phạm Minh Chính đều nhấn mạnh thông điệp, phải có cách tiếp cận mới và triển khai các giải pháp quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Các bộ, ngành, địa phương liên quan hết sức chú ý việc củng cố, bảo đảm an toàn các “vùng xanh”. Nhiều ý kiến đánh giá, mô hình “vùng xanh” cũng như việc phân vùng xanh, đỏ, vàng để có cách thức chống dịch phù hợp, là một cách tiếp cận mới so với trước, để chủ động phòng ngừa dịch ngay khi dịch bệnh chưa xảy ra, nhất là khi biến thể Delta có hệ số lây nhiễm R0 rất cao.

Thiết lập “vùng xanh” trên không gian mạng cũng cần thiết không kém “vùng xanh” trong cộng đồng. Để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tin giả trên mạng xã hội, tránh việc người dân bị hoang mang, dao động đối với công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Nhà nước ta, đã đến lúc chúng ta cần thiết lập một “vùng xanh” trên Internet theo hướng nhận diện tin giả và “vùng xanh” như sau:

Thứ nhất, tăng cường các kênh thông tin chính thống đa dạng phủ sóng trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, YouTube, Tiktok…) để người dân có thể nhận diện được thông tin đúng đắn và tạo sự đề phòng, tính cảnh giác của bản thân khi tiếp xúc với thông tin được lan truyền khác không chính thống trên không gian mạng. Từ đó tạo thói quen có sự tham khảo khi sử dụng thông tin, nhất là thông tin được chia sẻ bởi mạng xã hội, chủ thể không rõ nguồn gốc, không xác thực.

Thứ hai, đối với các kênh tin giả, thông qua các kênh thông tin ở “vùng xanh” để giúp người dân có thể nhận diện được các đặc điểm như: Tin giả thường có tiêu đề hấp dẫn, giật gân, viết in hoa kèm dấu ký tự mang tính chất khẳng định, thường có vẻ khó xảy ra trong thực tế nhưng được viết dưới dạng khẳng định để thu hút sự chú ý của người đọc. Đồng thời, kiểm tra đường dẫn liên kết. Đường dẫn URL chứa tin giả thường giả mạo gần giống các trang tin chính thống.

Ví dụ: đuôi tên miền “.org” dành cho các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận nhưng không vì thế mà mất cảnh giác, bởi những trang này có thể đăng tải thông tin chủ quan vì mục đích riêng của tổ chức đó chứ không hoàn toàn cung cấp thông tin khách quan cho người đọc. Kiểm tra kỹ mục “liên hệ” hoặc “giới thiệu” trên trang tin để tìm kiếm thông tin về cá nhân hoặc tổ chức đứng sau, xác định mức độ tin tưởng thông qua các thông tin được đề cập như: Chức danh, chức vụ, học hàm, học vị, mức độ phản hồi của người dùng, tính xác thực của địa chỉ.

Tin giả thường không được chú trọng về cấu trúc ngữ pháp, thể thức văn bản, dễ có lỗi chính tả và ngữ pháp, không thống nhất. Hình ảnh sử dụng trong bài viết đa phần là ảnh lấy trên mạng rồi chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung nguồn tin. Cần kiểm tra xem ảnh có tồn tại trên không gian mạng thông qua tính năng “Search Google for image” và nguồn gốc, địa điểm, thời gian. Về mốc thời gian sử dụng trong bài viết, tin giả được biên soạn và định dạng mốc thời gian không trùng với thực tế, do đó, cần xem kỹ các mốc thời gian, sự kiện có trong nội dung tin và thời gian đăng tải. Về các luận cứ, luận chứng trong bài viết, thông thường các tin giả được tạo ra dựa trên một câu chuyện, tình tiết có thực nhưng được thêm thắt, thổi phồng, làm giả ở những nội dung quan trọng nhất.

Điều quan trọng nhất là người dân khi tiếp cận các thông tin trên mạng xã hội cần nâng cao cảnh giác trước những thông tin thất thiệt, mang tính kích động, gây hoang mang dư luận, có biện pháp tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu độc.  Không chia sẻ, bình luận, like các bài viết đăng tải những thông tin chưa được kiểm chứng. Để nắm các thông tin chính trị, kinh tế-xã hội, tình hình dịch Covid -19, người dân cần tham khảo trang thông tin của các ban, bộ, ngành và cơ quan chức năng, thu thập, tiếp nhận thông tin ở các tờ báo chính thống, có uy tín những thông tin thuộc “vùng xanh”.

Một số biện pháp khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” .

Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hoá – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những cơ hội lớn do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; đặc biệt vấn đề “tự diễn biến” đang nổi lên như một nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội, mất định hướng xã hội chủ nghĩa và không thể xem thường. Nếu chúng ta không chủ động phòng ngừa từ trước, ngăn chặn từ xa, lơ là chủ quan, mất cảnh giác với thủ đoạn “tự diễn biến” của các thế lực thù địch thì tất yếu sẽ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực về mặt tư tưởng, tâm lý trong xã hội và hậu quả không lường hết được.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là chủ thể tác động tạo ra “tự diễn biến”. Đối tượng tác động nằm trong Đảng, trong hệ thống chính trị, trong xã hội, trong đội ngũ đảng viên, công chức, nhưng chủ yếu hướng đích mà các thế lực thù địch muốn tạo ra chính là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đã và đang giữ những trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước, trong lực lượng Quân đội, Công an. “Tự diễn biến” bao gồm cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài, nguyên nhân khách quan và chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến đâu, vẫn do các nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan; tức là, do chính chúng ta quyết định. V.I.Lênin – vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản thế giới đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”. Vì thế, nhận diện đúng các nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến” có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết, nhằm phát hiện kịp thời và phá vỡ các mầm mống, khả năng “tự diễn biến” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, trong đó cấp độ cao nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện đó là: phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng thiếu khách quan, toàn diện; xét lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi đen hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an…

Thực tiễn cho thấy, khi tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ và nguy cơ tự sụp đổ của chế độ chính trị là khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị, trước hết nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách của đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động, chúng sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức và phương pháp thúc đẩy “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị khác nhau.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế là sự phủ nhận của một số người đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi tư nhân hóa hoàn toàn nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa… Quá trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Chúng đã và đang tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một giai đoạn nhất định, khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là đã chuyển hóa thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và thực sự đã “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa được thay bằng chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống biểu hiện ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc, các giá trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc trắng trợn lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, vị kỷ, xa hoa, trụy lạc… Điều rất nguy hại là “tự diễn biến” về đạo đức, lối sống lại diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với sự nghiệp cách mạng, thậm chí đối với cả vận mệnh của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, như đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Cùng với thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới, cũng như khó khăn thách thức mà đất nước đã và đang vượt qua; trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạnh trong giai đoạn mới, hơn bao giờ hết, Đảng cần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển. Mỗi chúng ta cần nêu cao ý thức cảnh giác, phòng, chống “tự diễn biến” trong nội bộ, trước hết chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; giữ vững và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc…

Hai là, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán mọi biểu hiện “tự diễn biến” từ phía các thế lực thù địch và từ phía nội bộ ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cấp độ, cả ở trong nước và ngoài nước.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, phải xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh để “miễn dịch” trước mọi sự tác động tiêu cực từ bên ngoài. Cùng với đó, kịp thời phát hiện các nguy cơ “tự diễn biến” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng thì mới có thể “chống” tốt. Luôn tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh, bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu, coi đó như một loại “giặc nội xâm”, không khác gì với đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bốn là, công tác tổ chức cán bộ phải luôn gắn kết với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Coi đây là biện pháp cốt lõi để triệt tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.

Năm là, coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, lý luận cách mạng, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, để họ không dao động trước bất kỳ tình huống khó khăn, phức tạp nào, yên tâm với vị trí, cương vị và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

“Tự diễn biến” là vấn đề rất nguy hiểm, nhưng nó xâm nhập được vào nội bộ chúng ta hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng vững niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi công cuộc đổi mới, thì dù các thế lực thù địch có tìm mọi cách để thúc đẩy “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” đến đâu, chúng cũng không thể đạt được ý đồ thâm hiểm làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lựa chọn.


Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

Tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước. Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội. hải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình! Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo... Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề... Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên. Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường! Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng... Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”... Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

“Sói đơn độc” – Cảnh giác âm mưu truyền bá tư tưởng khủng bố trên Internet

    Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia.

    Do đặc thù thông tin trên không gian mạng có tốc độ truyền thông tin nhanh chóng, không gian, thời gian rộng mở nên những thông tin trên mạng có khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nhận thức của con người ở mọi đối tượng, nhất là trong một thời điểm nhất định có thể tạo làn sóng tích cực hay tiêu cực tác động vào đời sống kinh tế – xã hội và tình hình an ninh, trật tự của một khu vực hay một quốc gia.

    Thực tiễn trong những năm qua, các tổ chức khủng bố triệt để lợi dụng các hình thái mạng xã hội để tuyên truyền về chủ nghĩa khủng bố, đồng thời cũng coi đây là phương thức liên lạc an toàn hiệu quả cho các thành viên trên thế giới thực hiện các hành vi khủng bố theo kiểu “sói đơn độc”. Phương thức sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động khủng bố đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về công tác an ninh cho các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Vậy hình thức khủng bố “sói đơn độc” là gì?

    Thời gian gần đây, nhiều quốc gia châu Âu đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố đơn lẻ vào những khu vực đông người ở các nước như Anh, Pháp, Bỉ… và gần đây nhất là nước Áo. Các vụ tấn công liên tiếp này đang tạo ra tâm lý bất an khắp châu Âu.

    Trên mạng xã hội các nước tràn ngập việc tìm kiếm từ khóa như Satoshi Uematsu (Nhật); Mohamed Lahouaiej Bouhlel (Pháp) Omar Mateen (Mỹ)… đã và đang là những từ khóa gây kinh hãi nhất qua hình thái mạng xã hội. Dù được gọi bằng những từ ngữ khác nhau nhưng tựu chung lại, họ gọi chúng là những “sói đơn độc” hay đơn giản là phương thức khủng bố “sói đơn độc”, một phương thức mới khác xa so với phương thức khủng bố theo nhóm trước đây, gây ra những bất ổn trong xã hội của một quốc gia.

    Phương thức khủng bố “sói đơn độc” nguy hiểm vì tính chất đơn lẻ, hành động một mình nên manh mối về âm mưu tấn công của những kẻ khủng bố rất khó bị phát hiện.

    Theo các nhà phân tích, có thể số lượng “sói đơn độc” tại châu Âu ngày càng tăng vì sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và mức sống khiến nhiều người rơi vào bế tắc. Một nguyên nhân khác là do sự phổ biến của Internet và mạng xã hội đã lan truyền các tư tưởng cực đoan một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn.

    Sự truyền bá tư tưởng khủng bố, cực đoan qua mạng Internet, các web chìm hoặc mạng xã hội mã hóa đầu cuối đang được xem như là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các tổ chức khủng bố gieo rắc và kích động tư tưởng cực đoan tới những cá nhân vốn đã mang sẵn sự thù ghét, bất mãn xã hội trong mình. Như trong vụ tấn công tại Anh tháng 6/2017, có đối tượng thậm chí còn chưa bao giờ ra khỏi biên giới nước Anh lại bị cực đoan hóa ngay trong lòng nước Anh.

    Thực tế đối mặt với phương thức khủng bố mới “sói đơn độc” đã khiến cho các nước châu Âu bên cạnh việc tăng cường an ninh, theo dõi các đối tượng cực đoan kể cả trên môi trường không gian mạng và đồng thời ban hành các đạo luật mới giúp cho lực lượng an ninh có thể xâm nhập vào tài khoản nghi vấn trên không gian mạng với lí do an ninh trong công cuộc chống khủng bố.

    Tuy nhiên, để tiêu diệt và ngăn chặn những phần tử cực đoan hành động như những con “sói đơn độc”, những việc làm này là chưa đủ, lực lượng an ninh các nước châu Âu cần nhiều hơn nữa về sự phối hợp ở cấp liên quốc gia và khu vực, sự đánh giá đúng mức mối liên hệ giữa các mạng lưới khủng bố qua không gian mạng ở bên ngoài biên giới mỗi quốc gia và tội phạm quy mô nhỏ ở trong lòng châu Âu, nhất là trong cộng đồng người nhập cư, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị cực đoan hóa trong lòng châu Âu.

    Nguy cơ khủng bố “sói đơn độc” đối với Việt Nam

    Không gian mạng là hệ thống của những mối quan hệ trên nền tảng internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 36%.Cùng trong năm, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28% so với năm 2017; hơn 55 triệu người sử dụng các mạng xã hội (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực không gian mạng cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó, không gian mạng “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường, nhất là những đối tượng sử dụng không đúng mục đích”.

    Trong những năm qua kể từ khi các hình thái mạng xã hội trên không gian mạng xâm nhập và phát triển vào Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

    Thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức khủng bố lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số đối tượng phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng hình thái mạng xã hội trên không gian mạng để thực hiện các hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước mà đối tượng đó không cần phải xuất cảnh ra nước ngoài.

    Điển hình từ cuối năm 2016, các đối tượng Đào Minh Quân, Phạm Lisa và một số đối tượng phản động trong và ngoài nước là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, thông qua mạng xã hội đã lôi kéo nhiều đối tượng không nghề nghiệp, bất mãn chế độ nhưng có chung một điểm là hám lợi thành lập các “nhóm hành động” để tiến hành khủng bố, phá hoại tại Việt Nam.

    Trong đó có vụ đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất năm 2016, vụ ném bom xăng bãi giữ xe vi phạm Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2017 và gần đây nhất là vụ ném bom tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm.

    Các vụ khủng bố trên dù chưa gây ra thiệt hại lớn về người nhưng đã đặt ra những thách thức trong công tác đảm bảo an ninh của Việt Nam. Qua quá trình điều tra, xét xử, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận trong quá trình sử dụng mạng xã hội đã tiếp xúc liên lạc với những đối tượng khủng bố lưu vong ở nước ngoài và nhận hướng dẫn, chỉ đạo và nhận tiền từ các đối tượng bên ngoài để thực hiện các hành vi khủng bố.

    Từ những phân tích nêu trên cho thấy, hoạt động truyền bá tư tưởng khủng bố trong thời gian qua đã được các tổ chức khủng bố lưu vong người Việt ở nước ngoài đẩy mạnh trên không gian mạng. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng đểngười dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội.

    Đồng thời công khai các địa chỉ trang tin trên mạng xã hội của các tổ chức khủng bố lưu vong và các đối tượng khủng bố người Việt ở nước ngoài để người dân nhìn nhận rõ nét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng để cảnh giác, ngăn chặn.

Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính

    Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo và giáo dục, có nhiệm vụ chiến đấu giành, giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước, chính vì vậy, bản thân nó đã là một lực lượng chính trị.

    Trong suốt quá trình cách mạng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ cùng sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã luôn đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng sát cánh kề vai, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng xả thân vì nước, lấy lợi ích của Tổ quốc và nhân dân làm lý tưởng, mục tiêu cao nhất để phấn đấu; một lòng, một dạ, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân; đoàn kết tận tụy trong công tác, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu; chủ động phòng ngừa, tấn công làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của đất nước.

    Từ năm 2003, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Quốc phòng tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 107/QĐ-TTg, ngày 2-6-2003 về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”. Sau đó, hai Bộ đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2010/NĐ-CP về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng; Nghị định số 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ, quy định gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân…

    Luật Quốc phòng năm 2005 xác định: “Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”. Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định: “Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “…phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.

    Trên cơ sở đó, lực lượng Quân đội và Công an đã kịp thời, chủ động phát hiện, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc; ban hành và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

    Phải sáng suốt và luôn đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch hòng gây chia rẽ làm suy yếu lực lượng vũ trang. Kiên quyết phê phán, vạch trần luận điệu đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.


Không ngừng xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân

    Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục đích phấn đấu là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, giải phóng, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, mang lại cường thịnh cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Xây dựng, bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng là một trong những thành tố đặc biệt quan trọng phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, là bài học lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

    Lịch sử đã chứng minh mọi thắng lợi của cách mạng đều xuất phát từ sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua nhiều giai đoạn cách mạng với nhiều khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn bền tâm, vững chí, dựa vào dân và nguyện chiến đấu, hy sinh, phụng sự nhân dân. Để có được sự đồng hành, ủng hộ của nhân dân thì việc rất quan trọng đối với Đảng ta là xây dựng niềm tin của nhân dân với Đảng.

    Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một trong số các yếu tố trung tâm có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để có thể biến mục tiêu đó thành hiện thực là “củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Cần thẳng thắn thừa nhận, trong bộ máy Nhà nước ta hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa làm tròn trách nhiệm… làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào bộ máy của Đảng, Nhà nước, làm mất uy tín, tổn hại danh dự của Đảng, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong của Đảng”…

    Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên quyết để cho dân tin Đảng, để củng cố niềm tin của dân đối với Đảng và chế độ. Đảng phải thực hiện bằng được các cam kết chính trị của mình với dân tộc, trong đó xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững độc lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chính là cam kết chính trị trực tiếp nhất, quan trọng nhất. Phải làm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng; chặt chẽ, hợp lý về tổ chức, bộ máy; nghiêm khắc về kỷ luật, kỷ cương; có đủ năng lực lãnh đạo nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đảng phải nêu gương, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung; khi lợi ích riêng mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Những năm qua, Đảng đã kiên quyết loại ra khỏi hàng ngũ những cá nhân thoái hóa, biến chất, những cán bộ không trung thực, nói không đi đôi với làm. Bởi lẽ, chính đội ngũ cán bộ là hình ảnh và đại diện trực tiếp của Đảng trước nhân dân. Đây là nhân tố góp phần tạo nên uy tín của cán bộ, uy tín của Đảng với nhân dân và góp phần xây dựng, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    Sự chống phá của các thế lực thù địch, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, xảo quyệt,… đã và đang tác động không nhỏ đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần củng cố niềm tin để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nền tảng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng

Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH. Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH. Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối, hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển hóa thành phản bội. Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng. Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội... Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”. Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng. Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới. Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân. Đó là tấm gương đồng chí Kim Ngọc, người đã khởi xướng, chủ trì ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết này khi đó bị coi là vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế dần cho thấy tính đúng đắn của Nghị quyết 68 và tư duy của đồng chí Kim Ngọc. Sáng tạo đó đã được Đảng ta nghiên cứu, tiếp thu để năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (Khoán 100). Tiếp đó là năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10), tạo bước đột phá cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Đó là câu chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng. Từ thập niên 1980, khi còn là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí đã thử nghiệm xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thí điểm đổi mới quản lý kinh tế ở một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là những bước đột phá đầu tiên nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý cũ nên bị nhiều người phê phán, cho rằng chạy theo cơ chế thị trường nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn kiên trì từng bước với cách làm này. Thực tế sau này chứng minh sự đúng đắn trong tư duy sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh, và đường lối đổi mới của Đảng hình thành và phát triển chính là từ tổng kết thực tiễn sáng tạo của nhân dân, trong đó có cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Và cũng chính thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.

Đánh bại âm mưu hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân

    Bằng những chiêu trò, thủ đoạn tinh vi và quan điểm sai trái, xuyên tạc, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Hiện nay do sự tác động của nền kinh tế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của nhiều yếu tố mới từ bên ngoài, cùng với nội tại bên trong của đất nước còn nhiều hạn chế, bất cập như tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Tình trạng trên là nguyên nhân làm cho niềm tin của một số người có xu hướng suy giảm.

    Lợi dụng tình hình đó, các  thế lực thù địch, phản động đang ráo riết dùng nhiều thủ đoạn tinh vi chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bằng những quan điểm sai trái, chúng tấn công vào nền tảng tư tưởng, đánh vào thế giới quan, cơ sở khoa học đường lối chính trị của Đảng; chống phá sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng; bôi nhọ lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng; triệt để khai thác những hiện tượng tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng dẫn đến “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên, chúng tiếp tục tấn công, xuyên tạc, cắt xén, bác bỏ những luận điểm căn bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin; tìm mọi cách chia rẽ Đảng với nhân dân, lôi kéo kích động, tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền.

    Tất cả các hành động đó nhằm hướng tới làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Khi niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút thì mọi chủ trương, đường lối mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ. Mục tiêu của chúng là hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ trong thời gian ngắn, từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, hơn 20 triệu người Việt Nam từ miền Bắc tới miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến miền núi đồng loạt nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng thành công trên cả nước, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập chính quyền công nông. Thắng lợi vĩ đại đó xuất phát từ bài học “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

    Trong quá trình đổi mới đất nước, đứng trước vô vàn khó khăn, thử thách, nhưng với niềm tin vào hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của toàn dân tộc, chúng ta đã tạo nên nhiều thành tựu to lớn. Công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước ta trong 35 năm qua có ý nghĩa lịch sử, tạo dựng nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước chưa bao giờ có như ngày nay. Đây chính là cơ sở gốc rễ củng cố và tăng cường niềm tin nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Trên mặt trận ứng phó với dịch bệnh COVID-19, góp phần vào thành công của Việt Nam chính là sự đoàn kết một lòng của toàn xã hội, là sự tin tưởng tuyệt đối của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong cuộc chiến “chống dịch như chống giặc”. Năm 2020 có nhiều biến động do đại dịch và thiên tai ở miền Trung nhưng Việt Nam đã thành công trong thực hiện nhiệm vụ kép “vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế”, vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao. Nhân dân càng thêm vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không một thế lực nào có thể đánh bại “bức tường thành niềm tin” mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta gây dựng. Âm mưu và thủ đoạn hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân dù thâm hiểm và tinh vi thế nào cũng đã và sẽ thất bại hoàn toàn.


Lòng biết ơn - giá trị sống, vẻ đẹp nhân cách con người

Lợi dụng mạng xã hội (MXH), họ chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Thậm chí có người tự biến mình thành kẻ vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh. Mỗi chúng ta đều nằm lòng câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đây không chỉ là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được trao truyền từ đời này qua đời khác, mà còn là lẽ sống cao cả, là tình cảm ân nghĩa thủy chung, là thái độ ứng xử có trước có sau của một nhân cách văn hóa. Biết trân trọng, ghi nhớ tất cả những gì mà tổ tiên, ông cha đã tốn bao công sức, trí tuệ và cả xương máu để ươm trồng, vun đắp và tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp cho con cháu hôm nay và mai sau, chính là việc làm ý nghĩa nhất để góp phần hiện thực hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Lòng biết ơn còn là một giá trị sống, đồng thời là một phương châm ứng xử nhân văn, tinh tế để góp phần làm nên vẻ đẹp nhân cách của con người. Nhờ có lòng biết ơn của thế hệ sau đối với thế hệ trước, của hậu duệ đối với tiền nhân, của con cháu đối với ông bà, cha mẹ mà các thế hệ người Việt Nam đã bồi đắp nên truyền thống văn hóa tri ân “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Đối lập với lòng biết ơn là sự vô ơn. Một con người vô ơn thì khó tìm được hạnh phúc đích thực và lương tâm thanh thản vì trái tim bị thói ích kỷ cá nhân làm cho “rỉ máu”. Vì vậy, trong văn hóa ứng xử của ông cha ta, những kẻ vô ơn bạc nghĩa luôn bị xã hội phê phán với thái độ nghiêm khắc. Khi được người khác đối đãi tử tế nhưng bản thân lại đối xử trở mặt như trở bàn tay là những kẻ ăn mật trả gừng. Khi hưởng thụ quyền lợi nơi này nhưng lại ủng hộ, vun vén cho nơi khác là những kẻ ăn cây táo rào cây sung. Khi đạt được mục đích cá nhân nhưng vội quên ngay người khác giúp đỡ mình là những kẻ “được chim bẻ ná, được cá quên nơm”. Đáng khinh nhất là những kẻ vô ơn bạc nghĩa khi thể hiện thói ích kỷ cá nhân đến mức “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, “ăn cháo đá bát”... Một người dân mà có thái độ vô ơn đã là điều đáng trách. Càng đáng phê phán hơn khi có những người từng mấy chục năm được hưởng “ăn cơm nhà nước, hưởng lộc người dân” nhưng sau khi rời nhiệm sở trở về cuộc sống đời thường lại nảy sinh tư tưởng tiền hậu bất nhất. Lợi dụng MXH chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Có người khi đương chức, đương quyền thì giữ gìn lời ăn tiếng nói, cẩn trọng phát ngôn từng câu, từng chữ để được tiếng là “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, nhưng khi về hưu lại biến mình thành “thông tấn xã vỉa hè” bởi ngồi ở đâu, chỗ nào cũng có thể “bàn loạn” chuyện quốc gia đại sự mà không hề giữ mồm, giữ miệng, thậm chí tùy tiện nhận xét cán bộ đương chức này kém cỏi, đánh giá cán bộ đương nhiệm khác tài hèn đức mọn với động cơ thiếu lành mạnh. Cũng có người từng gắn bó lâu năm với công việc trọng yếu, bộ phận nhạy cảm trong bộ máy công quyền, lúc hành nghề thì mang nặng lời thề sống để dạ, chết mang theo, nhưng khi giải nghệ một thời gian thì không ngại ngần tiết lộ những thông tin gây bất lợi cho việc giữ gìn đồng thuận xã hội và bảo vệ an ninh tư tưởng văn hóa. Những người như thế không thể hiện sự nhất quán đối với chính bản thân mình, mà còn ít nhiều bộc lộ sự vô ơn đối với tổ chức, cơ quan, ngành nghề mình từng nhiều năm công tác. Thời gian qua, đất nước trải qua không ít sự cố bởi dịch bệnh, thiên tai hoành hành gây ra biết bao hệ lụy cho xã hội. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, đối với những người yêu nước, thương dân thật lòng thì không bao giờ kêu ca, than phiền hay bày tỏ thái độ dửng dưng, vô cảm trước những tổn thất của người dân. Đáng tiếc có người thời còn giữ chức vụ lời nói có trọng lượng, nhưng khi về hưu lại mở miệng chê bai, phê phán cấp ủy, chính quyền thiếu sâu sát, quyết liệt, thiếu thương dân nên mới để dịch Covid-19 tái phát. Cũng có người một thời sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, đồng bào trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, thì nay một phần để cho tư tưởng công thần lên ngôi, phần khác vì bị lôi kéo, kích động bởi các phần tử cơ hội chính trị nên không bảo trọng vẹn toàn lời thề kết nạp Đảng năm nào, tự biến mình trở thành “cái loa” phát ngôn cho những thông tin sai trái, lệch lạc, làm nhiễu nhương dư luận, gây phân tâm lòng người. Cách ứng xử như thế cũng là tiền hậu bất nhất và họ đang tự biến mình thành người vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh trước khi rời vị trí công tác xã hội. Thật ra, xã hội nào, thể chế chính trị nào cũng luôn khuyến khích, đề cao, ghi nhận những con người công tác trong bộ máy công quyền giàu lòng cống hiến, hy sinh và luôn mang trong mình văn hóa tri ân. Bởi vì suy cho cùng, thể chế chính trị là cái nôi, là bệ đỡ cho anh thành đạt thì dù đang công tác hay khi về hưu thì anh rất nên/cần ghi nhớ, biết ơn cái nơi cho mình cả danh phận cá nhân lẫn cuộc sống hạnh phúc gia đình. Dù khi rời nhiệm sở, cán bộ không còn sở hữu quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, nhưng không có nghĩa là tự mình xa rời hay lãng quên tinh thần phụng công, thủ pháp, trách nhiệm công dân và ý thức nêu gương trước quốc dân đồng bào. Có thể nói rằng, uy lực công quyền một thời đã tạo thế, tạo danh cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thì khi về hưu họ ít nhiều vẫn được “thơm lây” từ cái thế, cái danh đó. Cho nên lời nói, phát ngôn, ý kiến của họ vẫn có trọng lượng nhất định. Do đó, bất cứ một sự thoái thác nào về danh vị, chức tước của mình một cách không chính đáng, không thiện chí rồi sa đà vào lối hành xử tiền hậu bất nhất sẽ vô hình trung làm giảm uy tín, thậm chí làm tiêu tan thanh danh một thời mình dày công gây dựng. Một trái tim biết đồng cảm với khó khăn, hoạn nạn của người khác là một trái tim nhân hậu. Một con người biết chia sẻ với nỗi buồn, đau thương của người khác là một con người giàu tình cảm nhân văn. Nói rộng ra, khi con người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thể hiện tình cảm, bổn phận, đạo lý, trách nhiệm đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực với cộng đồng, xã hội, đất nước, chế độ cũng là biểu hiện cao cả của lòng biết ơn. Lòng biết ơn không tự nhiên sinh ra mà có, mà cần được giáo dục, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và giữ gìn, nâng niu, bảo toàn như một “báu vật” vì lòng biết ơn đã góp phần làm nên giá trị đạo đức, văn hóa của mỗi con người. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện lòng biết ơn không chỉ đối với tổ tiên, dòng họ, gia đình, thầy cô, nhà trường, làng xóm, quê hương-nơi mình sinh ra, lớn lên, học tập; mà cần bền bỉ duy trì, thực hiện văn hóa tri ân đối với cộng đồng, đất nước, dân tộc, nhân dân-nơi mình được bao bọc, nuôi dưỡng về thể chất và tâm hồn; đối với tổ chức, cơ quan, đơn vị và thể chế chính trị-nơi mình được công tác, làm việc, cống hiến, trưởng thành, có địa vị xã hội và cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc. Khi cán bộ, đảng viên chú trọng bảo toàn nét đẹp văn hóa tri ân của bản thân ở mọi lúc, mọi nơi sẽ góp phần lan tỏa giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đồng thời đây cũng là một cách phòng ngừa thói tiền hậu bất nhất và sự dửng dưng, vô cảm-một nguy cơ làm bào mòn tâm hồn, cốt cách của người cộng sản. Đây cũng là một cách tự phòng ngừa bản thân tránh rơi vào tình trạng “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị.

Cán bộ, đảng viên – nhân tố quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

    Trong giai đoạn hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, đặc biệt là lợi dụng ưu thế của mạng xã hội để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

    Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa“, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng phương tiện truyền thông và mạng Internet, đặc biệt là mạng xã hội như một thủ đoạn thâm độc hòng lấy chính ta để chống ta, thúc đẩy sự suy yếu từ bên trong.

    Trên các trang mạng, trang cá nhân của các tổ chức, cá nhân phản động, đối tượng chống đối, thù địch và cả những kẻ cơ hội chính trị nhan nhản những nội dung với những câu hỏi hoài nghi như: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa xã hội?”. Có những kẻ còn trắng trợn đặt vấn đề rằng: “Hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã sụp đổ, chủ nghĩa xã hội là ảo vọng, sao Việt Nam còn hướng tới mục tiêu này?”… hay “nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản những năm qua mới là con đường” để đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao chứ không phải là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để rồi reo rắc hoài nghi là “về thực chất Việt Nam đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”… 

    Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng nhằm reo rắc hoài nghi khiến không chỉ quần chúng nhân dân mà cả những cán bộ, đảng viên hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Sâu xa hơn, chúng muốn đi tới đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thay đổi chế độ chính trị, hướng lái nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    Bước vào thời kỳ phát triển mới, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đã ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân. Trong khi đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Đây là những kẽ hở cho các thế lực thù địch có cơ hội xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

    Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng – Sứ mệnh của người cán bộ, đảng viên

    Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta là ánh sáng soi rọi, là kim chỉ nam đưa đất nước và dân tộc ta giành chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng với nền tảng tư tưởng ấy, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Đảng ta đã xác định “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nguy cơ không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

    “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược, làm trái với với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta phải đi liền với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng để làm thất bại âm mưu của của các thế lực thù địch chống phá Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

    Thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh thông tin, phản bác quan điểm sai trái trên không gian mạng. Tham gia chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng, nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động. Tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trang bị cho bản thân khả năng tự phòng, chống trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị… Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin, bài đấu tranh, phản bác chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sứ mệnh của mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện trách nhiệm và tình cảm với Đảng, với đất nước, nhân dân và với chính mình. Để tiếp tục phát huy tinh thần này, mỗi cán bộ, đảng viên đứng trong hàng ngũ của Đảng cần kiên quyết nói không với mọi thông tin sai trái, xấu độc; tích cực tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của quần chúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa, kịp thời phát hiện, báo với các cơ quan chức năng thông tin xấu độc, xuyên tạc, thù địch để chủ động phòng chống, ngăn chặn, xử lý đạt hiệu quả cao nhất.

    Đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trước sự chống phá quyết liệt từ bên ngoài cũng như đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là việc làm thường xuyên, lâu dài, cuộc đấu tranh “kép” này thành hay bại cần đến ý thức, trách nhiệm và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

 


Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị

Thời gian qua, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà được sự hà hơi, tiếp sức, kích động của các thế lực bên ngoài đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên "luồng gió mới" trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã "tiên phong" thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần "văn nghệ mở". Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những "bồi bút” cho Đảng, "con rối" trên diễn đàn văn chương... Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập”, phiến diện cho rằng: Văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, khi có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã “mắc bệnh nặng” nên “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi "loạn ngôn" cho rằng: Các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn. Do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng. Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó. Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội. Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; bảo đảm cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước. Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) là một mốc son đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: Chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời ông, giải phóng cho gia đình ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của ông... Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 đến 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân... đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào-“Người nghệ sĩ-chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng anh hùng... Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ-chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng”. Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi. Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, hoặc có nội dung xuyên tạc lịch sử, thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách... Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ XHCN mà nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao: Trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng...; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, thì nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

    Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ đã và đang triển khai thực hiện là có hệ thống, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương với những giải pháp, chính sách quyết liệt, mạnh mẽ, lâu dài nhằm đảm bảo cuộc sống người dân, duy trì ổn định xã hội và hiệu quả thực tiễn đang chứng minh điều đó. Đừng chủ quan phán xét, đừng vin cớ trên nỗi đau của đồng bào miền Trung để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng, Chính phủ và các cấp chính quyền bằng những thủ đoạn, chiêu trò lố bịch bởi tùy thuộc vào từng tình hình thực tiễn, Đảng, Chính phủ sẽ đưa các giải pháp cấp bách, lâu dài và không ồ ạt, nhất thời để rồi “chết yểu” như tư duy của các “nhà dân chủ yêu nước”.

    Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó nêu rõ quan điểm “Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; uốn nắn những nhận thức lệch lạc”. Những luận cứ bài viết trình bày trên đây chỉ là một trong những phương thức các thế lực thù địch, đối tượng chống đối lợi dụng để xuyên tạc nhằm tác động, chuyển hóa nhận thức của mỗi người dân từ những sự việc, hiện tượng rất đỗi thường ngày, từ đó thấm dần hướng tới phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi nhọ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự lung lay về ý chí, sự rệu rã về lòng dân, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ là mục tiêu các thế lực chống phá hướng tới. Song, tính trơ trẽn, lố bịch, bịa đặt không thể che mờ đi sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước ta; tinh thần cống hiến không mệt mỏi của các lực lượng chức năng từ Trung ương đến địa phương đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ với những kết quả đạt được đáng ghi nhận mãi là những minh chứng rõ nét. Do đó, trước thời đại mạng Internet phát triển mạnh mẽ kéo theo sự bùng nổ thông tin như hiện nay, mỗi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác khi tiếp cận thông tin trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội, không để bị những luận điệu xấu độc này dẫn dắt, làm lu mờ nhận thức chính trị một cách vô căn cứ. Mạnh dạn đấu tranh, phản bác với luồng thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng để tạo sức mạnh lan tỏa ý thức phòng ngừa trong cộng đồng với những “chiêu trò” này.