Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

 

VÌ SAO VIỆT TÂN “NÓI GÌ” TRƯỚC QUY ĐỊNH SỐ 37

 

Mới đây, vào ngày 25 tháng 10 năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây. Tuy nhiên, sau khi ban hành Quy định số 37 các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động liên tục đăng tải bài viết, đưa tin nhằm xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37. Bọn chúng tự do suy diễn và tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng. Tiêu biểu là đài RFA, VOA, BBC… và nhất là trang Facebook Việt Tân đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định số 37. Bên cạnh đó, trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Với những luận điệu xuyên tạc trên, các thế lực thù địch, nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân muốn hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Thực chất, khi Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được ban hành đã khiến các thế lực thù địch “run sợ”, đặc biệt là tổ chức khủng bố Việt Tân. Vì sao lại như vậy?

Trái ngược với các thế lực thù địch, khi Quy định số 37-QĐ/TƯ được ban hành đã được toàn bộ cán bộ, đảng viên bày tỏ sự đồng tình, nhất trí cao và cho rằng, Quy định có tính pháp quy cao để mỗi đảng viên có trách nhiệm tự soi và tự điều chỉnh hành vi, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đồng thời, Quy định số 37-QĐ/TƯ cho thấy, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Do đó, việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những điều cấm đảng viên không được càng góp phần xây dựng đảng viên, tổ chức đảng ngày càng vững mạnh, bởi những quy định mới về những điều đảng viên không được làm đã được Trung ương cập nhật, bổ sung kịp thời nhiều chỉ đạo mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khắc phục các điểm còn vướng mắc, khó thực hiện về quy chuẩn đạo đức, lối sống, những nội dung trùng lặp, chưa thật lôgíc. Quy định mới được xác định có tính pháp quy cao, được xây dựng theo nhóm hành vi với các điều khoản chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, rõ nội hàm, rõ hành vi, bảo đảm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật khi đảng viên có dấu hiệu hoặc vi phạm.

Với tất cả những lý do trên, các thế lực thù địch và nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân rất “run sợ” và “lo lắng” vì đội ngũ đảng viên, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng vững mạnh, sức chiến đấu ngày càng cao và có thể ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu chống phá của bọn chúng. Như vậy là Việt Tân cũng như các thế lực thù địch khác hết con đường sống, không còn ai cung cấp tiền, tài trợ để hoạt động cũng như là sinh sống qua ngày. Vì thế bọn chúng “run sợ” những điều cấm đảng viên không được làm tại Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII là đương nhiên./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 

Trong giai đoạn hiện nay, âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch không hề thay đổi, trái lại ngày càng tinh vi hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Bằng cách tuyên truyền các thuyết “quái thai”, “đẻ non của lịch sử”, “CNXH cáo chung”... các thế lực thù địch đã tìm mọi cách phê phán triệt để, bôi đen hiện thực để đi đến bác bỏ hoàn toàn CNXH. Xoay quanh các luận điệu: CNXH ra đời ở các nước lạc hậu không đúng theo kịch bản của Mác, rằng: sự thất bại và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng tỏ rằng CNXH không có sức sống và nó chỉ được nặn ra từ đầu óc ngông cuồng của những người cộng sản. Bằng những lý lẽ xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện chúng ra sức chứng minh CNXH là một hiện tượng không phù hợp với quy luật lịch sử. Từ đó chúng đi đến kết luận: “Xã hội loài người chỉ ngừng lại ở CNTB” và “CNTB sẽ tồn tại vĩnh viễn như một điểm dừng của lịch sử”.

Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Một số phản động khác thì tuyên truyền: Chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu. Chủ nghĩa Mác- Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, rằng: Đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.

Phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng

Xoá bỏ chế độ XHCN là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ). Thực hiện âm mưu này, trên lĩnh vực tư tưởng các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc: đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá, không tưởng. Chúng rùm beng rằng: Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường không biết đi theo con đường nào; kêu gọi ta không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà hãy hoà nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Cuối cùng, chúng khẳng định: không có con đường đổi mới để có CNXH, mà chỉ có con đường từ bỏ CNXH để quay về với cái dòng chính tự nhiên của lịch sử là CNTB. Nếu chúng ta biết tự giác theo con đường đó thì đến đích nhanh hơn, nếu không thì tất yếu sẽ phải đi theo con đường đó nhưng đến đích đau đớn hơn...

Công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN

Những thế lực chống cộng tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang CNTB, đi theo CNTB. chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang, hoài nghi trong nhận thức tư tưởng, trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới và định hướng XHCN.

Xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên của ta

Có thể khu biệt những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên được kẻ xấu thể hiện ở một số kiểu dạng như: xuyên tạc, sai sự thật về tình hình sức khỏe; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... Chẳng hề được chứng kiến sự kiện, mà chỉ là “bắc chõ nghe hơi”, nhưng chúng đã dựng nên những câu chuyện về các cuộc tiếp xúc ngoại giao, đón tiếp nguyên thủ các quốc gia sang thăm, các chuyến đi công tác nước ngoài... Điều này khiến cho dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối ngoại của Việt Nam ta.

Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ...

Tóm lại, các thế lực chống phá cách mạng nước ta đã ra sức bài bác CNXH trên tất cả các mặt, từ nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lênin đến CNXH hiện thực. Phương pháp, thủ đoạn chủ yếu của chúng là dùng “thứ lý luận phản khoa học” để bác bỏ chủ thuyết và dùng sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu để bác bỏ về mặt thực tiễn của CNXH, còn những thành tựu của công cuộc đổi mới thì chúng xuyên tạc theo con đường TBCN. Chúng cố tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng trong nhân dân ta- bước đầu tiên để đi đến thủ tiêu CNXH.

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch được xuất phát từ những mưu đồ đen tối, mang chủ định ác ý, thiên kiến… nên hoàn toàn xa rời sự thật lịch sử. Sự thật là ngày nay tuy CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, song CNXH hiện thực trong hơn 100 năm qua đã đạt được những thành tựu có tầm thời đại và ý nghĩa lịch sử, đã khẳng định được sức sống của một hình thái kinh tế xã hội mới và là nhân tố cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tình trạng khủng hoảng toàn diện và sâu sắc vừa diễn ra ở các nước XHCN hoàn toàn không bắt nguồn từ bản chất của CNXH, mà bắt nguồn từ những sai lầm trong công cuộc xây dựng CNXH tích tụ lại nhưng không được kịp thời sửa chữa, đặc biệt là do sai lầm trong cải tổ, cải cách và đã để cho kẻ thù của CNXH lợi dụng. Có những sai lầm mang tính chủ quan của bản thân những người lãnh đạo, nhưng có những sai lầm mang tính khách quan khó tránh khỏi của một quá trình mò mẫm, tìm tòi, khai phá con đường xây dựng một hình thái kinh tế- xã hội mới chưa hề có trong lịch sử.

Nhận diện được những quan điểm cơ bản mà các thế lực thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đặc biệt khi chúng sử dụng mạng xã hội như một công cụ, vũ khí hữu hiệu tấn công chúng ta, công tác tư tưởng của Đảng cần tập trung vào những nội dung và phương pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về nội dung và tầm quan trọng của công tác đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin sai trái để kịp thời phát hiện, vạch mặt, chỉ tên và tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Cần thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị,… Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, kĩ năng và phương pháp đúng đắn, khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay.

Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc học tập tìm hiểu, tự rèn luyện của mỗi người, các cấp ủy đảng cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trang bị phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chỉ có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đầy đủ, hiểu biết thấu đáo, dân trí được nâng cao, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân mới có thể đủ sức đề kháng để tự phòng vệ trước các luồng thông tin, phân định rõ đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin độc hại và đâu là thông tin hữu ích.

Ba là, tạo lập môi trường thông tin thuận lợi để phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch trên mạng xã hội, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng. Để tạo lập được một môi trường thông tin thân thiện trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến tính công khai, minh bạch, cập nhật về thông tin, tăng cường thông tin chính thống, đặc biệt là những thông tin liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, công tác nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng để đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tránh gây hoang mang, nghi ngờ trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải chủ động và kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường luật pháp, bôi nhọ uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo, gây hoang mang dư luận.

Bốn là, cần xây dựng hành lang pháp lý hoàn thiện làm cơ sở cho việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng xã hội. Để công tác đấu tranh phản bác trước những thông tin sai trái, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ cán bộ được chủ động, nhạy bén hơn nữa cần xây dựng khung khổ pháp lý về an toàn, an ninh và bảo mật thông tin. Theo đó, đối với những cá nhân có hành vi thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cá nhân phải kiên quyết xử lý theo pháp luật. Có làm được điều này mới thực sự góp phần xử lý hiệu quả các vi phạm về thông tin trên mạng xã hội hiện nay, đặc biệt là các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ, đảng viên, kích động, bôi xấu hình tượng lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Năm là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nâng cao kiến thức và kĩ năng khai thác và sử dụng Internet, mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và những người trực tiếp làm công tác tư tưởng của Đảng để chống lại các quan điểm sai trái, thù địch một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không phải đến thời điểm này mới đặt ra mà nó là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ” kể từ ngày Đảng ta ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Hơn 90 năm qua, sự hiện diện của các thế lực thù địch, cũng như luận điệu xuyên tạc, sai trái chống phá Đảng luôn tồn tại, tiếp diễn. Trong giai đoạn hiện nay, với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và chiếm lĩnh không gian mạng xã hội, các thế lực thù địch vẫn dai dẳng, tiếp tục gia tăng ảnh hưởng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cần phải nhận diện một cách đầy đủ và toàn diện các nội dung, quan điểm đó để chủ động đấu tranh phản bác, bên cạnh đó cũng cần đổi mới hình thức, phương pháp và kĩ năng đấu tranh để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay./.

 

Lịch sử, ý nghĩa Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

 

Việt Nam có nhiều ngày lễ, tết mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, trong đó mỗi ngành, nghề hay một tổ chức chính trị, xã hội cũng thường có một ngày kỷ niệm của riêng mình. Nhưng trong các ngày lễ, tết (hiện đại), Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 có một lịch sử khá đặc biệt vừa có tính chất quốc tế, vừa có tính chất dân tộc, vừa mang đặc trưng của các nhà giáo, của ngành Giáo dục nhưng cũng là ngày hội của toàn dân.

        Tháng 7/1946, Liên hiệp Quốc tế các công đoàn Giáo dục được thành lập (Fesdesration International Syndicat de l’enseignement) viết tắt là "FISE", trụ sở đặt tại Paris. Năm 1949, tại Hội nghị Vacxava, FISE xây dựng một bản "HIẾN CHƯƠNG CÁC NHÀ GIÁO" gồm 15 chương trong đó có một số nội dung chủ yếu là:

- Đấu tranh chống lại mọi quan điểm và phương pháp giáo dục lạc hậu phản động, phản dân chủ, phản khoa học của nền giáo dục phong kiến, tư sản, nhằm xây dựng nền giáo dục tiến bộ, dân chủ, khoa học.

           - Đấu tranh thủ tiêu chế độ bạc đãi, coi thường nghề dạy học, bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nhà giáo.

- Quy định một số điều đối với các nhà giáo, đặc biệt coi trọng tính chất nhân văn của nghề dạy học và phương pháp dạy học tiên tiến.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền Bắc vào ngày 20/11/1958.

          Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã quan hệ với FISE để tranh thủ các diễn đàn quốc tế tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học sinh đồng thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Vào mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn Giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Như vậy, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập (22.7.1951), Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của FISE. Từ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham dự, trong đó có cả Công đoàn Giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20 tháng 11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.      

 

          Ngày 20/11/1958, lần đầu tiên ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo” được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta. Những năm sau đó, ngày Lễ 20 tháng 11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam. Hàng năm vào dịp Kỷ niệm 20 - 11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo giới trong vùng tạm chiếm, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của anh chị em giáo viên kháng chiến.

           Sau ngày đất nước được thống nhất 30/4/1975, nền giáo dục cả nước được thống nhất, giáo giới Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựng nền giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Ý nghĩa của ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo” đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử với giáo giới Việt Nam. Song ngày 20 -11 đã trở thành truyền thống với nội dung mới của giáo giới Việt Nam và của nhân dân Việt Nam.

Chính vì thế theo đề nghị của ngành Giáo dục, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167 - HĐBT về ngày Nhà giáo Việt Nam. Nội dung Quyết định có những điều khoản như sau:

Điều 1: Từ nay hàng năm sẽ lấy ngày 20 - 11 là ngày Nhà giáo Việt Nam.

         Điều 2: Để ngày Nhà giáo Việt Nam có ý nghĩa thiết thực hàng năm, từ tháng 10 các cấp chính quyền và đoàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình; kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cần tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và năng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt hơn nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20 tháng 11 hàng năm do Uỷ ban nhân dân và Hội đồng giáo dục các cấp chủ trì, có sự phối hợp của ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp, các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thăm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích.

         Việc tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20 tháng 11, các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và tham gia các hoạt động của nhà trường và của địa phương.

         Ngày 20 tháng 11 năm 1982, là Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước ta, và từ đó dến nay, đây là ngày để học trò thể hiện tình cảm quý mến, kính trọng với thầy giáo, cô giáo - những người đã dày công vun đắp cho chúng ta - những cây đời mãi mãi xanh tươi.

Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Để gửi lời tri ân sâu sắc tới tất cả các nhà giáo trên mọi miền tổ quốc, xin trích dẫn câu danh ngôn “Không có một vĩ nhân nào, một anh hùng nào trên đời này lại không qua bàn tay bế ẵm của người mẹ, thì trên trái đất này cũng không có một vĩ nhân, một anh hùng nào lại không qua bàn tay dìu dắt và sự dạy dỗ của người thầy giáo”./

                                                                  

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Người “truyền lửa” phải thực sự có “lửa”

“Bệnh” ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Trung ương đã chỉ ra. Đây cũng là một thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngại học lý luận chính trị, trong đó có những bất cập trong công tác giảng dạy hiện nay...

Bất cập thứ nhất là không ít người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị chưa thực sự say nghề, chưa đầu tư nhiều trí tuệ, công sức vào việc chính của mình nên kiến thức chưa sâu, chưa đủ tầm để phân tích, chứng minh nội dung một cách thuyết phục; phương pháp truyền đạt chủ yếu là... đọc theo giáo án (hoặc có trình chiếu Powerpoint nhưng... toàn chữ như giáo án), người học chép mỏi tay! Kiểu giảng dạy như vậy khiến người học rất chán.

Cần làm gì để giảng viên lý luận chính trị thực sự say nghề, giỏi nghề? Trong rất nhiều giải pháp như: Lựa chọn người giỏi lý luận, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ... thì vấn đề có tính quyết định là phải thực sự quan tâm, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích, tạo động lực cho những người làm công tác này. Người xưa đã dạy “có thực mới vực được đạo”.

Thực tế những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị chỉ có thu nhập từ lương, phụ cấp (vì ít có dạy thêm, làm thêm); trong khi những cán bộ tuổi đời, trình độ tương đương (thậm chí thấp hơn, là học trò) thì có chức quyền và cuộc sống khấm khá... đã tác động không nhỏ tới động lực phấn đấu của không ít giảng viên, nhất là giảng viên trẻ.Thậm chí, có những thầy vốn rất tâm huyết, giỏi về lý luận chính trị, nhưng bị áp lực, nỗi lo "cơm áo, gạo tiền, đặc biệt là chuyện nhà đất"... khiến dần giảm nhiệt huyết. Người “truyền lửa” mà “thiếu lửa” thì không thể “tiếp lửa” cho người học. Chưa kể, điều rất đáng lo ngại là có những thầy còn bột phát “buông” lời thể hiện sự tủi thân, bất mãn trước học viên.

Bất cập thứ hai là nhiều giảng viên lý luận chính trị thiếu kiến thức thực tiễn nên ít có ví dụ, tình huống thực tế để liên hệ, chứng minh, vận dụng nội dung lý luận, khiến nội dung giảng dạy khô cứng, người học khó tiếp thu. Nhiều ví dụ cũ từ hàng chục năm trước được thầy nêu ra không còn phù hợp với hiện thời. Được biết, các học viện, nhà trường đều có quy định cử giảng viên lý luận chính trị đi thực tế, nhưng vì thời gian ngắn nên chưa nắm bắt được nhiều. Đặc biệt, việc đi thực tế ở nước ngoài thì... vô cùng hiếm, trong khi nhiều thầy phải giảng dạy các nội dung trực tiếp liên quan đến thực tế ở các nước.

Một trong những yêu cầu của nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị là phải gắn với thực tiễn, chống lý thuyết suông. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức cho đội ngũ giảng viên dạy lý luận chính trị đi thực tế cơ sở, luân chuyển làm cán bộ, nhân viên ở các cấp; cử đi công tác, tìm hiểu ở nước ngoài để phục vụ giảng dạy những nội dung liên quan... Bên cạnh đó, các học viện, nhà trường cần tăng cường mời chuyên viên, chuyên gia, nhà lãnh đạo có trình độ lý luận gắn với kiến thức thực tiễn tham gia giảng dạy một số nội dung cho phong phú, sinh động, hấp dẫn người học...

Bất cập thứ ba là nội dung giảng dạy lý luận chính trị có sự trùng lặp ở các cấp học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và một số nội dung trùng giữa các bộ môn, khiến người học ở các cấp học sau, môn học sau có cảm giác phải học lại, giảm hứng thú. Bên cạnh đó, khá nhiều giảng viên kết cấu bài giảng nặng về giải thích các khái niệm, các quan điểm liên quan và những nội dung có tính hàn lâm; trong khi thời gian dành cho bài giảng có hạn nên đến phần trọng tâm của bài mà người học rất cần (gồm những quan điểm, vấn đề cốt lõi và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công tác) thì thầy lại giảng lướt hoặc nhắc học viên tự nghiên cứu tài liệu vì đã hết giờ lên lớp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo rà soát lại các giáo trình lý luận chính trị để hạn chế sự trùng lặp giữa các cấp học, môn học. Các học viện, nhà trường cần rà soát nội dung bài giảng, giáo án theo hướng tăng cường phần liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn; giảm những khái niệm không cần thiết (nhất là khi giảng dạy cho học viên trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Vì những khái niệm đơn giản thì cơ bản đối tượng này đã nắm được) và giảm những nội dung nặng tính hàn lâm (chỉ những người nghiên cứu chuyên sâu về lý luận mới cần học kỹ nội dung này).

Bất cập thứ tư là không ít giảng viên lý luận chính trị thiếu nghiệp vụ sư phạm, giảng với giọng đều đều, động tác và lời giảng không có điểm nhấn, thiếu sinh động dẫn đến người học dễ... buồn ngủ! Nội dung lý luận chính trị vốn khô khan mà người giảng không có phương pháp sư phạm tốt thì không thể tạo hứng thú cho học viên, người học rất khó tiếp thu. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên lý luận chính trị, các học viện, nhà trường cần xem xét chuyển những giảng viên không thể có phương pháp sư phạm tốt (do cố tật, sở đoản) sang làm việc khác phù hợp hơn. Bên cạnh đó, một giải pháp hiệu quả các trường cần vận dụng là tổ chức ghi hình những bài giảng mẫu của giảng viên giỏi rồi trình chiếu cho học viên xem, sau đó tổ chức nghiên cứu, thảo luận... 

Bất cập thứ năm cần sớm khắc phục là tình trạng chưa coi trọng phát huy sự chủ động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học; quá trình giảng dạy lý luận thường thông tin một chiều kiểu thầy nói-trò nghe và thầy đọc-trò chép; giảng viên ít gợi mở để người học suy nghĩ, phát biểu ý kiến của mình dẫn đến người học thụ động, không hưng phấn. Cùng với đó, thời gian dành cho thảo luận còn ít nên số học viên được phát biểu không nhiều, những ý kiến phản biện chưa có điều kiện làm rõ, phần vì hết thời gian, phần vì không phải giảng viên nào cũng có khả năng giải thích, kết luận rõ ràng, thuyết phục. Thực tế, sau giờ thảo luận vẫn có những học viên băn khoăn, thắc mắc vì chưa được giảng viên giải đáp thỏa đáng, nhất là với những vấn đề thực tế đang diễn ra đã có những điểm khác so với nội dung giáo trình, giáo án. Vì vậy, việc giảm thời gian giảng dạy, tăng thời gian cho học viên nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và người dạy kết luận rõ ràng, thuyết phục đối với từng nội dung là rất cần thiết để tránh hiện tượng sau khi học xong mà học viên vẫn còn băn khoăn, chưa “tâm phục, khẩu phục”.

Cuối cùng là thời gian học lý luận chính trị cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cho hợp lý, không nên tổ chức học tập trung kéo dài và học theo kiểu “nhồi nhét” dẫn đến người học căng thẳng, hiệu quả không cao. Việc đào tạo lý luận chính trị ở bậc trung, cao cấp cần theo hướng gợi ý, nêu vấn đề và gửi các tài liệu cần thiết để người học tự nghiên cứu trước; các buổi học tập trung chủ yếu dành cho thảo luận, giải đáp những nội dung khó mà người học chưa hiểu rõ. Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học lý luận chính trị nên theo hướng đề mở, đưa ra các tình huống thường gặp, người học vận dụng kiến thức đã tích lũy được để giải quyết; hạn chế tối đa kiểu kiểm tra học thuộc lòng lý thuyết và không nên yêu cầu viết bài kiểm tra quá dài (kể cả viết bài thu hoạch, tiểu luận, luận văn); cần khuyến khích học viên hiểu bản chất vấn đề lý luận và biết vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác. 

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải học lý luận chính trị, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, để cán bộ, đảng viên nói riêng và người học nói chung không ngại học lý luận chính trị thì rõ ràng những bất cập trong công tác giảng dạy lý luận chính trị cần phải được khắc phục. Đặc biệt, việc quan trọng nhất là cần quan tâm chăm lo, có chính sách thỏa đáng để tạo động lực cho đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết với nghề, đồng thời thu hút người giỏi làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, vì người “truyền lửa” có làm tốt vai trò “tiếp lửa” thì người học mới nắm chắc, thấm nhuần lý luận và biết vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thích ứng an toàn trong tình hình mới

Trước bối cảnh làn sóng lần thứ tư dịch COVID-19 tạm thời lắng xuống, Nghị quyết 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” được Chính phủ ban hành vào ngày 11/10/2021 là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế trong thời điểm hiện tại. Sau gần một tháng triển khai, Nghị quyết bước đầu phát huy hiệu quả, được đông đảo người dân, doanh nghiệp và các tầng lớp xã hội đồng tình, ủng hộ.

Bằng việc áp dụng Nghị quyết 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” (Nghị quyết 128), từ ngày 11/10 đời sống của người dân trên cả nước cơ bản đã trở lại trạng thái bình thường mới. Dịch COVID-19 được phân loại theo bốn cấp độ tương ứng với các mầu xanh, mầu vàng, mầu cam, mầu đỏ trên quy mô từ cấp xã, nên mỗi địa phương có thể tự chủ động thực hiện đánh giá cấp độ dịch dựa trên tỷ lệ ca mắc mới tại cộng đồng/số dân/thời gian, độ bao phủ vắc-xin, khả năng thu dung, điều trị các tuyến. Đến nay cơ bản tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai đúng với tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Y tế về công bố cấp độ dịch, phục hồi sản xuất, lưu thông hàng hóa, từ đó đem lại nhiều kết quả khả quan. Có thể nói đây là một bước tiến về tư duy trong phòng, chống dịch, hình thành sự thống nhất trên toàn quốc, không còn tình trạng cục bộ ở từng địa phương, giải tỏa các yếu tố từng gây trở ngại trong đời sống nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. 

Sau gần một tháng thực hiện Nghị quyết 128, dựa trên tình hình thực tế riêng, các địa phương ban hành kế hoạch thích ứng, phương án phòng, chống dịch cũng thay đổi linh hoạt theo thời điểm, trong đó có vấn đề cần quan tâm nhất là kiểm soát lượng người từ vùng dịch trở về. Sau khi Nghị quyết 128 được áp dụng, hàng trăm nghìn người từ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Long An,… trở về các tỉnh phía nam, miền trung, miền bắc, dẫn đến xuất hiện nhiều F0 ở nhiều địa phương. Thực tế này yêu cầu mỗi địa phương phải linh hoạt trong phòng, chống dịch, không thể chủ quan, lơ là trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát người mới trở về, đồng thời tổ chức tốt việc xét nghiệm, cách ly và các biện pháp khác không để dịch lây lan ra cộng đồng.

Những người đã tiêm đủ hai mũi vaccine được theo dõi sức khỏe tại nhà, xét nghiệm theo quy định, và thực hiện tốt 5K, tùy điều kiện mà người chưa tiêm được tiến hành cách ly tại nhà hay tập trung, luôn có sự giám sát của chính quyền, cơ quan y tế địa phương. Cách làm này thực sự đã mang lại hiệu quả, người dân giảm căng thẳng tâm lý, chính quyền cũng không phải sử dụng quá nhiều nguồn lực phòng, chống dịch. Với cách thức chống dịch mới theo tinh thần Nghị quyết 128, yếu tố sống còn, tiên quyết là năng lực quản lý, giám sát của mỗi địa phương. Thực tế cho thấy địa phương nào không chủ quan, “thả lỏng” thì dù lúc đầu tình hình phức tạp nhưng sau đó do chủ động phòng, chống nên dịch bệnh đã nhanh chóng bị khống chế, bảo đảm an toàn đời sống của người dân, cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Một vấn đề quan trọng để bảo đảm thích ứng dịch bệnh tình hình mới là bao phủ vaccine, vì đây là một trong các tiêu chí để phân loại cấp độ dịch ở từng địa phương. Theo thống kê trên Cổng thông tin tiêm chủng quốc gia, đến nay cả nước đã tiêm được hơn 85 triệu liều vaccine. 62 trong số 63 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ người dân trong độ tuổi được tiêm ít nhất 1 liều vaccine đạt từ 50% trở lên. Có 54 địa phương đạt tỷ lệ phủ mũi 1 là 70% trở lên. Đầu tháng 11 bắt đầu triển khai chương trình tiêm vaccine cho trẻ em từ 12 tuổi đến 17 tuổi, hiện đã có 6 địa phương đang tiêm cho đối tượng này. Theo chỉ đạo của Bộ Y tế, từ đầu tháng 11, sẽ đẩy nhanh tốc độ tiêm vaccine khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, vì đây là các khu vực hiện đang xuất hiện một số ổ dịch phức tạp, độ phủ vaccine chưa cao. Ngoài ra, các địa phương cũng cam kết chuẩn bị đủ cơ sở vật chất, hệ thống điều trị, giường bệnh cho tình huống xuất hiện nhiều ca nặng để kiểm soát dịch, giảm tối đa số người chết; đồng thời xác định nâng cao năng lực điều trị cho cán bộ, nhân viên y tế là tiêu chí quan trọng quyết định việc nâng hoặc hạ cấp mức độ dịch ở mỗi địa phương.

Song song với chiến lược thích nghi an toàn chống dịch là chiến lược khôi phục, phát triển kinh tế, đó là hai nội dung cốt lõi của Nghị quyết 128. Bên cạnh các giải pháp phòng, chống dịch linh loạt, việc mở cửa để tổ chức sản xuất, kinh doanh đã góp phần giảm nỗi lo lắng và sức ép tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân, doanh nghiệp trở lại hoạt động có hiệu quả, giúp kinh tế dần phục hồi. Tất nhiên, trong khi tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường, các doanh nghiệp không thể hoàn toàn chủ động, nhưng quy chiếu những quy định của Nghị quyết 128 vào tình hình cụ thể, mỗi địa phương, doanh nghiệp có thể chủ động hoạch định kế hoạch hoạt động, phần nào yên tâm sản xuất, kinh doanh. Nghị quyết 128 được ví như đã mở ra “cánh cửa”, cho phép doanh nghiệp trong mọi tình huống, diễn biến của dịch vẫn có thể sản xuất, chỉ cần đáp ứng tốt yêu cầu phòng, chống dịch trên địa bàn. Có thể thấy gần một tháng qua, việc lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, nhiều doanh nghiệp đã sản xuất trở lại, đây được xem là cơ hội tăng tốc để đạt hiệu quả tối đa trong những tháng cuối năm.

Như vậy, một thời gian dài sau khi làn sóng thứ tư dịch COVID-19 bùng phát (từ cuối tháng 4), nhiều tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo các Chỉ thị 15, 16, 19 kéo dài gây khó khăn cho cuộc sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, thì việc thay đổi phương án chống dịch linh hoạt và duy trì sản xuất, kinh doanh là việc làm kịp thời, cần thiết. Tuy nhiên, quan điểm của Chính phủ và Bộ Y tế rất cụ thể, và cả nước cần thông suốt nguyên tắc thích ứng không có nghĩa chủ quan, lơ là phòng, chống dịch mà là phòng, chống dịch với tinh thần mới. Theo đó, dù không phải “chôn chân” tại chỗ như trước, người dân và doanh nghiệp vẫn phải chịu sự kiểm soát một cách khoa học, chặt chẽ, linh hoạt của chính quyền. Chính vì thế, cần phải nhìn thẳng vào một thực tế cần nhanh chóng khắc phục là trong khi đa số địa phương triển khai tốt Nghị quyết 128 thì ở một vài địa phương vẫn tồn tại tình trạng chưa thống nhất từ trên xuống dưới, còn thiếu đồng bộ trong chỉ đạo, thực hiện phòng, chống dịch, đáng chú ý là tình trạng trì trệ, thiếu sáng tạo, thiếu linh hoạt, chống dịch như là theo bản năng, không dựa trên cơ sở khoa học, các yếu tố dịch tễ…

Trong phạm vi nhất định, có thể nói, hạn chế là khó tránh khỏi, nhất là khi diễn biến dịch bệnh trong nước cũng như trên thế giới còn rất phức tạp. Tuy nhiên dựa vào một vài thiếu sót đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đã cố tình bóp méo, xuyên tạc nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong phòng, chống dịch bệnh. Như sau khi Nghị quyết 128 được ban hành, một số phương tiện truyền thông ở nước ngoài lập tức cho rằng đó là thể hiện “thất bại” của Việt Nam trong phòng, chống dịch, hoặc vin vào một vài trường hợp cá biệt để “bé xé ra to” cho rằng chống dịch ở Việt Nam có tình trạng “trên bảo dưới không nghe”! Họ vẫn sử dụng thủ đoạn quen thuộc: một mặt cố tình phủ nhận thành quả phòng, chống dịch của Việt Nam; một mặt thổi phồng một vài hạn chế để suy diễn, quy kết làm ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam, và tác động làm giảm lòng tin của nhân dân. 

Trong quá trình triển khai Nghị quyết 128, bên cạnh việc tổ chức tập huấn quy mô cho lực lượng chống dịch ở các địa phương, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến để trực tiếp đánh giá, biểu dương, phê bình, chấn chỉnh. Việc làm này là bình thường và cần thiết, thể hiện sự sâu sát của một Chính phủ vì dân, hàng ngày, hàng giờ sát cánh cùng nhân dân, kiểm soát dịch bệnh. Phải khẳng định, trong gần hai năm dịch bệnh hoành hành, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã làm hết sức mình, cùng nhân dân chống chọi, đẩy lùi dịch bệnh trong điều kiện muôn vàn khó khăn, và đó là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt, các kết quả khả quan đạt được từ khi áp dụng Nghị quyết 128 trong thời gian qua cho thấy Đảng, Nhà nước luôn lấy lợi ích của người dân, doanh nghiệp lên hàng đầu trong hoạch định chính sách. Chính phủ luôn có giải pháp phù hợp từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch.

Nghị quyết 128 xác định mục tiêu sống còn là bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân, hạn chế đến mức thấp nhất số ca mắc bệnh nặng, đặc biệt là số người chết do COVID-19, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất có thể, qua đó củng cố, tăng cường niềm tin của toàn dân. Với hàng loạt giải pháp cụ thể được hướng dẫn kỹ càng cho các địa phương, có thể thấy, Chính phủ và các cấp, các ngành, địa phương luôn ưu tiên hàng đầu công tác kiểm soát dịch bệnh, không để lây lan bùng phát trong cộng đồng. Bám sát diễn biến thực tế, vừa làm vừa điều chỉnh, rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện sao cho phù hợp với tình hình là cách phòng, chống dịch sáng suốt, thông minh, nhờ đó mọi khó khăn đều được giải quyết kịp thời, nhanh chóng điều chỉnh, xử lý hiệu quả vấn đề bất cập nảy sinh trong bối cảnh mới. Đó là cơ sở để vừa qua Tổ chức Y tế thế giới đánh giá cao cách tiếp cận toàn dân trong phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam.

Dù trước mắt dịch COVID-19 còn diễn biến khó lường, thời điểm hiện tại nhiều địa phương đang phải đối mặt nguy cơ bùng phát dịch trong cộng đồng, nhưng với sự tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan và các địa phương, của các lực lượng tuyến đầu, đặc biệt là vai trò của toàn dân, cùng với các kinh nghiệm phòng, chống dịch đã tích lũy, chúng ta hoàn toàn tin tưởng công tác phòng, chống dịch COVID-19 ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục tạo ra những chuyển biến tích cực, cuộc sống mọi mặt của người dân Việt Nam được ổn định và phát triển./. 

Chiêu lật mặt của những kẻ lái buôn thuật ngữ

Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Hiểu một cách cơ bản thì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Xin được dẫn chứng: Trước vấn đề tham nhũng, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định, đồng thời sử dụng biện pháp rất mạnh để đấu tranh với tham nhũng. Trung Quốc cũng có hàng loạt đạo luật phòng, chống tham nhũng như: Luật Chống hối lộ năm 1988, Luật Chống tham nhũng năm 1997. Năm 2010 Trung Quốc còn ban hành sách trắng về chống tham nhũng. Singapore cũng xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Singapore đã ban hành đạo luật Chống Tham nhũng và Luật Sung công tài sản tham nhũng để đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Với Hoa Kỳ, cường quốc này xác định tham nhũng là một tội phạm nghiêm trọng và không thể xóa bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ có cơ quan chuyên làm nhiệm vụ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Tư pháp, đó là Cục Điều tra liên bang (FBI). Ngay cả Liên hợp quốc cũng có Công ước về chống tham nhũng. Do là vấn đề tất yếu nên dù có rất nhiều biện pháp phòng, chống thì tham nhũng vẫn không thể mất đi.

Trong 5 năm thực hiện chủ trương “đả hổ, diệt ruồi” (2013-2017) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc có 182.000 quan chức cấp cao và quan chức ở địa phương bị truy tố vì hành vi tham nhũng và lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2020 cho thấy, một bức tranh màu xám về tình trạng tham nhũng trên toàn thế giới, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100. Như vậy có thể thấy, tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng bất cứ một quốc gia nào.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, trong thời gian từ năm 2013 đến 2020, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kết quả này cũng cho thấy, mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đều trở nên trơ trẽn, nực cười.

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV, phát biểu với Quốc hội về vấn đề liên quan đến các sai phạm của cán bộ ngành y tế trong đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã khẳng định: Sai phạm trong ngành y không phải do lỗi cơ chế. “Chúng tôi khẳng định không phải do các lỗi này, mà đều có việc lợi dụng tình hình khó khăn, lách luật để vi phạm và đây là những vi phạm hình sự rất đáng phải xử lý", Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

Quá trình điều tra, các cán bộ này đã thừa nhận sai phạm. Cơ quan điều tra đều có yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm cá nhân trong từng vụ việc và đã chứng minh rõ yếu tố tư lợi, tham ô, tham nhũng, trục lợi... Đơn cử như việc mua máy móc, có trường hợp thông đồng với nhà thầu, đẩy giá ăn chia, trích phần trăm. Đây là yếu tố tư lợi, biểu hiện tham ô, tham nhũng...

Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.

Âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Những ngày qua, lợi dụng phát ngôn của một số người thiếu hiểu biết và có cái nhìn phiến diện về vấn đề nảy sinh khi sinh viên, tình nguyện viên của tỉnh Hải Dương vào TP Hồ Chí Minh tham gia chống dịch Covid-19, các thế lực thù địch, bất mãn đã thổi phồng thông tin, đánh lái dư luận theo nhiều chiều hướng tiêu cực.

Mục đích của họ nhằm kích động chia rẽ vùng miền, làm suy yếu sức mạnh trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 và sâu xa hơn là âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Họ vẽ ra kịch bản trong tưởng tượng rằng, có một “âm mưu chính trị” đằng sau lý do giúp TP Hồ Chí Minh chống dịch Covid-19 với cái mà chúng gọi là “đội quân Nam tiến của miền Bắc”. Các thế lực thù địch tự khẳng định "TP Hồ Chí Minh có thể tự phòng, chống dịch chứ không cần người miền Bắc vào giúp đỡ". Từ đây, họ kích động người dân tại TP Hồ Chí Minh tẩy chay, từ chối sự giúp đỡ chống dịch của những tình nguyện viên từ các tỉnh. Không dừng lại ở đó, những kẻ bất mãn, thù địch còn cố ý gợi lại lịch sử đau thương của dân tộc trong thời kỳ đế quốc, thực dân chia cắt hai miền Nam-Bắc để phụ họa cho giọng điệu chống phá: "Miền Nam và miền Bắc không thể là một trong cuộc chiến chống dịch"(!). 

Thế nhưng, ngay cả những cái đầu hoang tưởng đến đâu cũng chẳng hình dung nổi cái “âm mưu chính trị" đằng sau lý do giúp TP Hồ Chí Minh chống dịch Covid-19 là gì? Ngược lại, chỉ có sự thật hiện hữu mà mọi người dân Việt Nam đều biết, đó là, cả nước đang chung sức, đồng lòng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh, sớm mang lại cuộc sống bình yên cho Nhân dân, để không chỉ TP Hồ Chí Minh mà cả nước tiếp tục khôi phục sản xuất, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.

Các thế lực thù địch cũng tưởng tượng rằng, gợi lại quá khứ nước ta bị chia cắt hai miền sẽ kích động được sự phân biệt, chia rẽ Bắc-Nam. Để đập tan âm mưu của đế quốc, thực dân, để non sông thống nhất một nhà, toàn dân tộc đã hy sinh biết bao máu xương và nước mắt. Không ai dại gì mong muốn chia cắt Bắc-Nam, bởi đó là điều mà không đất nước nào mong muốn.

Việc các thế lực thù địch cố tình lợi dụng chống phá khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam chính là âm mưu thâm độc, nham hiểm. Nhưng thủ đoạn nêu trên, ai cũng biết là rất thô vụng, thể hiện sự bất lực "cắn càn"!

Bản lĩnh của Đảng để trừ "giặc nội xâm"

Gần một thế kỷ đã qua, mặc dù có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, có lúc rơi vào chủ quan duy ý chí, có lúc chưa nắm được quy luật khách quan... nhưng xuyên suốt lịch sử lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã luôn biết tự chỉ trích, nhận ra sai lầm, khuyết điểm, tự chỉnh đốn, đổi mới, tự vượt qua mọi trở lực khách quan và chủ quan để làm tròn nhiệm vụ của một đảng tiên phong, một đảng chân chính cách mạng. Về cơ bản, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ được vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc, tiên phong cả trong lý luận cách mạng, trong đường lối chủ trương, trong quyết sách chính trị, trong chỉ đạo chiến lược và tiên phong gương mẫu trong hành động cách mạng, trong hy sinh anh dũng vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

Thời nào cũng có kẻ thù bên ngoài và bên trong. Thời nào cũng đều có ngoại xâm dưới hình thức này hay hình thức khác và luôn luôn bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong mỗi con người đều tiềm ẩn nội xâm. Nội xâm lúc này là tệ si mê quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, là chạy chức, chạy quyền, chạy tội là lợi dụng mọi sơ hở của cơ chế, chính sách, là lạm quyền, là thói vô trách nhiệm, là ô dù che chắn, là quan liêu, khinh thường kỷ cương phép nước, là cơ hội, tham nhũng, lãng phí, là ăn chơi xa đọa, là thói vô cảm trước vất vả, thiếu thốn, khó khăn của đồng bào, đồng chí... Nội xâm len lỏi vào hàng ngũ Đảng và Nhà nước... vào từng ngõ ngách xóm thôn, phường phố, cơ quan, công sở, vào từng gia đình, vào mọi tầng lớp và đến cả những người được đào tạo, có bằng cấp học vị, được giao chức trọng, quyền cao... Vì vậy, tính tiên phong của Đảng lúc này là phải có dũng khí, có bản lĩnh để dám trừ "giặc nội xâm" ở ngay trong mỗi đảng viên, cán bộ, tính tiên phong lúc này là sáng suốt trong các quyết sách chính trị, trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước của toàn dân tộc, đặc biệt là làm tốt công tác tổ chức, kiểm tra, thực hiện đúng đắn chính sách dùng người. Tính tiên phong lúc này là dũng khí đấu tranh với đồng chí, đồng cấp, với cả cấp trên và cấp dưới vi phạm kỷ luật Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trừ diệt mọi thói hư, tật xấu và tội lỗi. Tính tiên phong lúc này là làm trong sạch đội ngũ, là giáo dục, thuyết phục và trừng phạt công khai, công minh, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang sáng lên niềm tin và khát vọng của mọi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Niềm tin và khát vọng ấy đang đặt lên vai những người vừa vinh dự được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Vinh dự càng cao, trách nhiệm càng lớn. Trách nhiệm và vinh dự của những chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc của xã hội. Mác vĩ đại đã dạy chúng ta rằng: “Hạnh phúc xã hội sản sinh ra lý trí chính trị”. Và đến lượt nó, lý trí chính trị của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang đòi hỏi nâng cao chất lượng “đầu não” và “trái tim” của mỗi chúng ta.