Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

VÌ SAO CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA NGA Ở UKRAINA LẠI ĐẶT RA MỤC TIÊU “PHÍ PHÁT XÍT HÓA”?


          Ngay sau khi Liên Xô sụp đổ và Ukraina tuyên bố độc lập, các cơ quan tình báo của Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã đưa các lực lượng dân tộc cực đoan của Ukraina từng chiến đấu trong hàng ngũ phát xít Đức chống lại Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, trở về đất nước và hình thành các tổ chức phát xít mới.



          Trong đó có tổ chức phát xít mới “Pravy Sektor”-một chi nhánh của mạng lưới khủng bố bí mật của NATO “Gladio”; UNA-UNSO (Ukrainian National Assembly-Ukrainian People's Self-Defense); CUN (Congress of Ukrainian Nationalists); PU (Patriot of Ucraina); USNP (Ucraina Social-Nationalist Party); SNPU (Social-National Party of Ucraina); SNA (Social-National Assembly of Ucraina); Stepan Bandera AUO (Stepan Bandera All-Ukrainian Organization)”…

          Tất cả đều đi theo tư tưởng phát xít mới, tương tự Đức Quốc xã [1,2] trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chính những lực lượng này đã từng đóng vai trò then chốt trong cuộc “cách mạng cam” ở Ukraina năm 2003, đưa nhân vật Yushenko thân Mỹ lên cầm quyền. Cũng chính Tổng thống Yushenko đã ký sắc lệnh phong và truy phong “danh hiệu cao qúy” cho những kẻ đã từng chiến đấu trong hàng ngũ SS của phát xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong đó có Stepan Bandera-một trong những thủ lĩnh của lực lượng phát xít mới trong tổ chức “Những người yêu nước Ukraina”, gọi tắt là OUN (The Organization of Ukrainian Nationalists), được truy tặng danh hiệu “Anh hùng giải phóng dân tộc Ucraina”.

          Trong cuộc bạo loạn dẫn tới cuộc đảo chính nhà nước ở Ukraina trong tháng 02/2014, các lực lượng phát xít mới nhận được sự ủng hộ và tiếp tay của một số nước thành viên NATO đã đóng vai trò nòng cốt[3].

          Vì thế, sau cuộc đảo chính năm 2014, nhiều thành viên các tổ chức phát xít mới được Tổng thống Poroshenko bổ nhiệm vào nhiều cương vị chủ chốt trong chính quyền Kiev. Trong đó có:

          Arseniy Yatsenyuk-Thủ tướng chính phủ, người từng tuyên bố coi người dân bản địa gốc Nga ở Donbass “không phải là người” mà là “rác sinh học”.

          Valentin Nalivaichenko-một thành viên của đảng phát xít mới “Pravy Sector” được bổ nhiệm Giám đốc cơ quan an ninh Ucraina.

          Andriy Parubiy-người sáng lập phong trào chính trị cực đoan PU được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh quốc gia Ucraina.

          Sergey Kwit-kẻ từng hô hào cấm sử dụng tiếng Nga, được bổ nhiệm vào vị trí Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ucraina.

          Yuri Mikhalchishin, một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của đảng phát xít mới “Svoboda” được bổ nhiệm Phó Giám đốc cơ quan an ninh Ucraina chuyên trách công tác tư tưởng. Chính Yuri Mikhalchishin là kẻ đi đầu trong phong trào truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới ở Ukraina.

          Bộ trưởng Bộ Văn hóa Ukraina Yevhen Nishchuk cho rằng người dân ở Dobass “không có nguồn gốc loài người” và cần phải bị tiêu diệt. Vì thế, chủ trương diệt chủng nhằm vào người Nga đã trở thành quốc sách của chính quyền Kiev.

          Chính vì thế, người dân Crimea quyết định trở về Nga. Còn người dân hai tỉnh miền đông Ukraina quyết định li khai chính quyền Kiev và thành lập Cộng hòa Nhân dân Donetsk và Cộng hòa Nhân dân Lugansk.

          Trong khi đó, NATO chủ trương kết nạp Ukraina làm thành viên, còn Tổng thống Ukraine V. Zelensky tuyên bố NATO kết nạp Ukraina làm thành viên càng sớm càng tốt vì Ukraina có quân đội mạnh nhất châu Âu, sẽ bảo vệ châu Âu chống lại “sự xâm lược của Nga”.

          Trong khi chờ đợi hiện thực hóa chủ trương này, Mỹ coi Ukraina là đồng minh ngoài NATO. Vì thế, Mỹ và NATO đã tiến hành hàng chục cuộc tập trận trên lãnh thổ Ukraina với kịch bản chuẩn bị chiến tranh chống Nga.

          Trong cuộc họp báo chung với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron ở Moscow ngày 8/2/2022 tại Điện Kremlin, Tổng thống Nga V.Putin nhận định:“Trong các văn kiện học thuyết và chiến lược của Ukraine hiện nay chính thức xác định chủ trương sẽ thu hồi Crimea bằng biện pháp quân sự. Một khi Ukraine gia nhập NATO và được liên minh này cung cấp vũ khí hiện đại, chính quyền Kiev sử dụng sức mạnh quân sự để đánh chiếm Crimea mà giờ đây đã là lãnh thổ vĩnh viễn của Nga. Khi đó, Nga sẽ phải đáp trả và đương nhiên sẽ phải chiến đấu chống lại NATO. Liệu đã có ai nghĩ đến tình huống này?”.

          Do đó, Chủ tịch Hạ viện Quốc gia Nga nhận định, phi phát xít hóa Ukraina còn là nhằm ngăn chặn hiểm họa chiến tranh giữa NATO và Nga, cũng có nghĩa là ngăn chặn hiểm họa Chiến tranh thế giới lần thứ III./.

 

NGÀY NÀY NĂM XƯA

 


- Ngày 3-3-1951: Ngày thành lập Mặt trận Liên Việt bao gồm tất cả các đoàn thể nhân dân, tôn giáo, đảng phái, các nhân sĩ yêu nước nhằm thắt chặt khối Đại đoàn kết toàn dân để kháng chiến cứu nước.

- Ngày 3-3-1951: Đảng Lao động Việt Nam chính thức ra mắt quốc dân, công khai lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc.

- Ngày 3-3-1955: Trung đoàn Không quân Việt Nam đầu tiên được thành lập, đánh dấu bước phát triển lên chính quy, hiện đại của quân đội ta.

- Ngày 3-3-1959: Bộ đội Biên phòng được thành lập. Đây là lực lượng vũ trang có chức nǎng bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia khu vực biên giới. Bộ đội biên phòng đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương là Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang và tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 

Ngày 3-3-1955, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Người cán bộ cách mạng” trong đó Bác xác định: Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không.

Đây là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.

Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

HAIVAN

NHỮNG TỘI ÁC KINH HOÀNG CỦA PHÁT XÍT ĐỨC TẠI LIÊN XÔ!

         Phát xít Đức và các đồng minh của chúng đã thảm sát kinh hoàng người dân Liên Xô. Hàng nghìn khu dân cư ở đất nước này cùng toàn bộ người dân địa phương bị quân xâm lược xóa sổ hoàn toàn.

Cuộc chiến tranh do phát xít Đức phát động chống lại Liên bang Xô viết là một cuộc chiến hủy diệt. Nếu tại các nước phía Tây bị chiếm đóng, những kẻ xâm lược còn làm ra vẻ văn minh đối với người dân địa phương, thì ở phía Đông chúng không quá giữ kẽ khi hành xử mất hết tính người.

7,5 triệu người dân đã bị lính tiễu phạt của Đức Quốc xã cố tình giết chết tại những vùng đất của Liên Xô mà chúng chiếm đóng. Chúng hành quyết người Do Thái, người Digan và người Cộng sản, cũng như những dân lành bị nghi ngờ hỗ trợ cho quân du kích. Để trả thù cho một tên lính Đức bị giết, chúng sẵn sàng thiêu rụi cả ngôi làng cùng với toàn bộ cư dân sinh sống tại đây. 

Thực hiện tội ác chiến tranh không chỉ là các “đại đội kỵ binh thần chết” được lập ra chuyên để tiêu diệt người Do Thái và Bolshevik, mà còn có binh lính của biệt đội SS và lực lượng vũ trang Đức Quốc xã. Hỗ trợ tích cực cho bọn chúng là những kẻ hợp tác với địch đến từ các nước vùng Baltic, Belarus, Ukraine và cả người Nga.

Thảm sát Babi Yar

Ngày 19-9-1941, quân đội Đức chiếm thủ đô Kiev của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine, và 8 ngày sau, tại đây bắt đầu những cuộc hành quyết tập thể. Những nạn nhân đầu tiên là 752 bệnh nhân của một bệnh viện tâm thần địa phương.

Tiếp đó là đến lượt người dân Kiev gốc Do Thái. Những người này bị ra lệnh tập trung tại hẻm núi Babi Yar nằm ở mạn tây bắc thành phố, lúc 8 giờ sáng ngày 29-9, để ra vẻ như tiến hành kê khai dân số và chuyển chỗ ở. Những ai không phục tùng sẽ lập tức bị giết chết.

Hàng nghìn người mang theo đồ đạc còn không hề biết rằng, họ đang đi đến chỗ chết. Những ai đoán được chuyện gì sắp xảy ra với mình và tỏ ra hoảng hốt, thì bị lính Đức kéo lê một cách cưỡng bức. Bà Genya Batasheva, người sống sót kỳ diệu trong cuộc thảm sát, kể lại: “Mọi người đau đớn lắm, rồi la hét điên loạn. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một đứa bé chưa cai sữa mẹ đang nằm khóc trên mặt đất. Một tên phát xít lao tới và dùng báng súng đập vỡ đầu đứa trẻ. Lúc đó tôi có lẽ là đã ngất lịm đi, sau đó không còn nhớ chuyện gì xảy ra tiếp nữa”.

Tại nơi hành quyết, lính Đức Quốc xã dồn từng nhóm 30-40 người sắp bị xử tử đến mép hố và dùng súng máy bắn họ rơi xuống đó. Tiếng súng nổ bị át lại bởi tiếng nhạc và tiếng ồn của máy bay đang bay phía trên hẻm núi Babi Yar. Những đứa trẻ bị đẩy xuống hố ngay cả khi chúng vẫn thoi thóp còn sống.  

Trong hai ngày 29 và 30-9, tổng cộng có 33.771 người bị hành quyết, tức là gần bằng toàn bộ người Do Thái ở Kiev bị quân phát xít Đức trừ khử. Tính đến thời điểm Hồng quân Liên Xô tiến vào giải phóng thành phố năm 1934, tại Babi Yar có khoảng 70.000 đến 200.000 người bị sát hại.    


Thảm sát Khatyn

Sáng ngày 22-3-1943 tại Minsk thuộc Cộng hòa XHCN Xô viết Belarus, một đơn vị thuộc tiểu đoàn cảnh sát mật thám 118 của Đức Quốc xã bị rơi vào ổ phục kích của lữ đoàn du kích mang tên “Bác Vasi”. Cuộc giao tranh đã giết chết một số lính Đức và nhà vô địch môn đẩy tạ tại Olympic Berlin năm 1936, đại úy Hans Woellke, người rất được Adolf Hitler quý mến. 

Tiểu đoàn 118 với thành phần chủ yếu là người dân tộc thiểu số ở miền Tây Ukraine, cũng như Tiểu đoàn đặc biệt Dirlewanger Waffen-SS khét tiếng bởi sự tàn bạo đã lần theo dấu vết của quân du kích tháo chạy vào làng Khatyn. Sau cuộc giao tranh chớp nhoáng, ngôi làng nhanh chóng bị lính tiễu phạt bao vây.

Người dân bị đuổi ra khỏi nhà của mình, sau đó dồn vào một nhà kho và giam lại. Sau khi những tên lính người Ukraine đốt cháy mái tranh thì những người bên trong nhà kho bắt đầu hoảng loạn. Mọi người la hét, khóc lóc, van xin tha mạng và cố gắng phá cánh cửa chính để thoát ra ngoài.

Vài phút sau, khi mọi người phá được cửa và bắt đầu chạy khỏi nhà kho, thì bọn lính phục vụ cảnh sát Đức bắn xối xả vào họ bằng súng máy.

Một người dân làng Khatyn tên là Joseph Kaminsky nhớ lại: “Tôi cùng cậu con trai 15 tuổi của tôi là Adam đứng gần bức tường, những người bị giết ngã vào phía tôi, những người còn sống chạy cuống cuồng trong đám đông, máu những người bị thương và bị giết chảy ra lênh láng. Mái nhà đang cháy đổ sập xuống, tiếng khóc rống đầy sợ hãi của mọi người càng lúc càng thảm thiết. Bên dưới mái nhà là những người bị thiêu sống đang quằn quại la hét…”. Joseph Kaminsky bị bỏng nặng và sống sót một cách thần kỳ, nhưng trong cơn các mộng đó, ông đã mất đi người con trai của mình. 

149 người dân bị những kẻ tiễu phạt thiêu sống trong nhà chứa vây kín ở làng Khatyn, trong đó có 75 trẻ em, bé nhỏ nhất tên là Tolik Yaskevich lúc đó mới được 7 tuần tuổi. Tiếp sau vụ thảm sát dân làng Khatyn, lính Đức và nhân viên tiểu đoàn 118 người Ukraine tiến hành cướp bóc rồi đốt sạch toàn bộ ngôi làng.

Sau này, tên tham mưu trưởng tiểu đoàn 118 Hryhoriy Vasiura, kẻ chỉ huy cuộc thảm sát Khatyn, đã che giấu được thân phận quá khứ của mình và sau chiến tranh sống lặng lẽ tại Liên Xô với danh nghĩa là cựu chiến binh mặt trận. Mãi đến năm 1986, khi hắn bước sang tuổi 71 thì mới bị phát giác và không lâu sau đó bị xử bắn.

Khatyn hoàn toàn không phải là ngôi làng đầu tiên và cuối cùng của Liên Xô bị quân Đức thảm sát trong Thế chiến II. Tuy nhiên, chính ngôi làng này đã trở thành một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất cho sự tàn bạo của quân phát xít trên những vùng lãnh thổ của Liên Xô bị chiếm đóng.

Câu chuyện về vụ thảm sát Khatyn đã được dựng thành bộ phim khủng khiếp nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đó là phim “Đến mà xem” của đạo diễn Elem Klimov. “Khi đó tôi cứ suy nghĩ rằng, thế giới vẫn chưa biết về làng Khatyn! Người ta chỉ mới biết về vụ xử bắn các sỹ quan Ba Lan tại rừng Khatyn. Còn về đất nước Belarus thì không. Dù tại đó có hơn 600 ngôi làng bị đốt cháy! Và tôi đã quyết định làm bộ phim về thảm kịch này”, đạo diễn Elem Klimov nói. 


Thảm sát Koriukivka

Rạng sáng ngày 27-2-1943, quân du kích thuộc binh đoàn Aleksei Fedorov tấn công một doanh trại Hungary đồn trú tại làng Koriukivka, tỉnh Chernihiv thuộc Ukraine. Cuộc đột kích diễn ra thành công với 78 lính địch bị giết, 8 tên bị bắt làm tù binh, cũng như nhà máy gỗ, ban quân quản, nhà ga đường sắt, cầu và kho nhiên liệu bị cho nổ tung. Ngoài ra, hơn 100 tù nhân được giải phóng khỏi một nhà tù địa phương.

Để trả thù, những kẻ chiếm đóng đã tiến hành chiến dịch trừng phạt. Tuy nhiên, chúng không chống lại quân du kích, mà là nhằm vào người dân làng Koriukivka. Ngày 1-3-1943, các toán lính biệt đội SS của Đức, các đơn vị của Sư đoàn 105 Hungary và cảnh sát hỗ trợ người Ukraine đã bao vây khu dân cư.

Dưới danh nghĩa kiểm tra giấy tờ, bọn lính tiễu phạt xông vào và bắn chết các chủ nhà trong làng. Những người khác thì bị chúng giam lại trong nhà và thiêu sống, còn những ai chạy thoát được ra ngoài thì bị bắn chết bằng súng máy. Những địa điểm xảy ra thảm sát là nhà hát, trường học, nhà hàng và phòng khám bệnh đa khoa. Gần 500 người chạy đến nhà thờ với hy vọng được cứu sống, nhưng rồi cũng bị giết chết tại đó cùng với mục sư.

“Khi đó tôi đang bế con gái mình trước ngực, thì chúng bắt đầu bắn vào chúng tôi tại nhà hàng. Chúng lùa mọi người như lùa gia súc vào lò mổ... Một tên phát xít nhìn thấy tôi… rồi sau đó tôi không còn nhớ gì nữa. Ba đứa con của tôi bị bọn chúng giết chết, thậm chí còn không được chôn cất... Những tên đao phủ đáng nguyền rủa đã thiêu rụi các con tôi”, ông Evgeny Rymar may mắn sống sót kể lại.

Trong hai ngày, những tên tiễu phạt đã đốt cháy 1390 ngôi nhà và giết gần 6700 người, trong đó thi thể của 5612 người thậm chí còn không thể nhận dạng. Điều này đã biến thảm kịch làng Koriukivka thành một trong những tội ác chiến tranh kinh hoàng nhất của phát xít Đức trong Thế chiến II.

Hai tuần sau đó, Hồng quân Liên Xô đã tiến vào giải phóng làng Koriukivka, nhưng không bắt gặp còn ai ở đây cả./.





Yêu nước ST.

CHÂN LÝ VẪN XANH TƯƠI

 Xi-mô-nốp, nếu còn anh trên đời này nóng bỏng
Có lẽ anh sẽ ca một bài ca “Hy vọng”
Như ngày xưa, anh hát “Đợi anh về”

Giữa mùa đông băng giá tái tê
Tôi lại nhớ Lê-nin
Sắp ra đi, vẫn thanh thản niềm tin
Con Người thắng, vì “Tình yêu cuộc sống”

Thật vậy ư? Như trong cơn ác mộng
Chuông nhà thơ rung cùng tiếng cầu kinh
Mấy kẻ đốt đền, quỳ gối cầu xin
Thiên đường máu, từ tay bầy quỷ dữ.

Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử
Cào chiến công, xé cả xác anh hùng
Ôi! nỗi đau này là nỗi đau chung
Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát?

Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát
Và cả bay quân cướp nước, giết người
Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi
Cách mạng Tháng Mười vẫn mở đường đi tới.

Từ đổ nát, ta lại xây dựng mới
Rũ bùn dơ, mặt đất sẽ thanh tân
Không sức nào ngăn nổi sức nhân dân
Ngày mai sẽ là ngày mai cộng sản!
--------------
PT-TG. st

7-11-1991, Tố Hữu, tích tập thơ: "Một tiếng đờn", NXB Văn học, 1992
#Đitruocvesau 

Ảnh: Tượng Đài chiến thắng của Nguyên Soái Zhukov tại Kharkov (Ucraina) bị bọn cực hữu đã kéo đổ vào tháng 3 năm 2019:



GẮN BÓ MÁU THỊT VỚI NHÂN DÂN, PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"

Một trong những yếu tố thuộc về đặc trưng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được xác định trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Đây là nét đẹp truyền thống, là cội nguồn sức mạnh của Quân đội ta, được hình thành ngay từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và ngày càng phát triển lên tầm cao mới theo bề dày thời gian.

Ngược dòng lịch sử, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Từ 34 chiến sĩ, trải qua hơn 77 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ của nhân dân, đội quân ấy đã lớn mạnh không ngừng, phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", tiếp tục khẳng định, tô thắm truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Sự gắn bó đó là mối quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân và dân. Nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội, giúp cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Ngược lại, quân đội luôn “hiếu với dân”, sẵn sàng xả thân chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân bất kể hiểm nguy, gian khổ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Người thường xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”. Với mục tiêu đánh đuổi phát xít, thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, mang lại cơm no, áo ấm cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta đã anh dũng chiến đấu; cán bộ, chiến sĩ quân đội không tiếc máu xương để đổi lấy cuộc sống hạnh phúc, yên bình cho nhân dân. Khi Tổ quốc lâm nguy, cuộc sống của nhân dân bị đe dọa, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ xung phong ra mặt trận, xông pha trong bom đạn chiến tranh, để lại gia đình, cha mẹ, vợ con nơi quê nhà để chiến đấu cho Tổ quốc trường tồn, cho nhân dân không còn cảnh đau thương, cơ cực. Trong số họ, không ít người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường ở tuổi hai mươi.

Ngay cả khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, bao người lính vẫn đằng đẵng xa nhà, chấp nhận mọi khó khăn, vất vả, kể cả hiểm nguy để canh giữ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Hòa bình rồi nhưng máu của Bộ đội Cụ Hồ vẫn đổ trong lúc giúp dân chống thiên tai, lũ lụt. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ dầm mình cứu dân trong lũ dữ; đẫm mồ hôi mang lương thực, thực phẩm tiếp tế nhân dân bị cô lập bởi mưa bão, thiên tai... càng tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Mới đây nhất, đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, hàng chục vạn lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang không quản ngại vất vả, nguy cơ lây nhiễm, dũng cảm lao vào “cuộc chiến” chống dịch, cứu dân. Bộ đội, bác sĩ quân y ở khắp các đơn vị toàn quân hừng hực khí thế “đi về phía nhân dân” với tinh thần “tính mạng của nhân dân trên hết, trước hết”. Ở địa bàn biên giới, Bộ đội Biên phòng cắm chốt tuần tra đường mòn, lối mở để phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ có người thân qua đời vì ốm đau, dịch bệnh nhưng không thể về tiễn biệt lần cuối, phải nén đau thương bái vọng từ xa...

Cũng ở tuyến biên giới, địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi đất cằn sỏi đá, nước độc rừng thiêng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị kinh tế, quốc phòng bám trụ, đồng hành với nhân dân; hằng ngày cầm tay, chỉ việc, hỗ trợ giống, vốn, hướng dẫn kỹ thuật để bà con biết trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cao cả ấy, đã có bao mất mát, hy sinh giữa thời bình vì cuộc sống của nhân dân...

Tất cả những điều đó đã góp phần khẳng định, ở những nơi nguy hiểm nhất, gian khổ nhất, xa xôi nhất đều có mặt Bộ đội Cụ Hồ sát cánh cùng nhân dân vượt qua mọi chông gai, thử thách; tận tình bảo vệ và giúp đỡ nhân dân. Tình đoàn kết quân dân gắn bó máu thịt đã trở thành nét đẹp văn hóa, thẳm sâu trong con tim, khối óc của mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, bởi họ luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Cho nên, dẫu xông pha trong lửa đạn, oằn mình trong bão lũ, vất vả giữa trùng khơi hay nhọc nhằn nơi biên viễn..., mỗi cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rõ trách nhiệm, vinh dự của mình-đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính những người thân yêu của mình nơi quê hương yêu dấu. Bởi thế, họ sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận hy sinh. Và sự hy sinh đó đã góp phần vun đắp thêm truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm sáng đẹp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ...

Đáp lại tình cảm sâu nặng của Bộ đội Cụ Hồ, hơn 77 năm qua, nhân dân luôn tin yêu, quý mến, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân. Thực tiễn lịch sử cho thấy, Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều là con em của nhân dân, nên được dân yêu, dân mến, dân nuôi dưỡng, che chở. Trong những năm chiến tranh, nhân dân chính là hậu phương vững chắc, là căn cứ địa an toàn nhất cho bộ đội đánh giặc. Hình ảnh những bà mẹ, những người chị chắt chiu, gom góp cho đầy “hũ gạo kháng chiến”, gửi áo ấm, chăn màn cho chiến sĩ; đào hầm nuôi giấu bộ đội... mãi là những hình ảnh cao đẹp của tình quân dân, của lòng dân trời biển. Hẳn chúng ta không thể quên những khẩu hiệu, phong trào thi đua: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Tất cả vì tiền tuyến”, “Ba đảm đang”, “Ba sẵn sàng”, “Tay cày, tay súng”... được triển khai sâu rộng để bộ đội “ăn no, đánh thắng”, hỗ trợ tiền tuyến, cổ vũ bộ đội vững tâm chiến đấu, đánh đuổi quân thù, thu non sông về một mối.

Đất nước hòa bình, thống nhất, sự gắn bó máu thịt giữa Quân đội với nhân dân tiếp tục thêm khăng khít. Hàng loạt chương trình, mô hình nhân dân chung sức chăm lo cho bộ đội, chăm lo cho nhiệm vụ QP-AN ngày càng phát triển mạnh mẽ. Điển hình như các phong trào: “Góp đá xây Trường Sa”; “Thắp sáng nhà giàn DK1”, mô hình “Mái ấm cho chiến sĩ, người nghèo nơi biên giới”, “Nước ngọt vùng biên”, Quỹ “Vì biển đảo quê hương-Vì tuyến đầu Tổ quốc”... thể hiện sâu sắc ý Đảng, lòng dân và thấm nhuần bài học từ lịch sử: Trong thái bình vẫn phải lo giữ nước, dưỡng quân, quân có mạnh cơ đồ mới vững.

Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới không chỉ khái quát đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà còn chỉ ra những nhóm giải pháp cụ thể. Thấu triệt và cụ thể hóa những giải pháp ấy, để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt công tác dân vận, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Bằng chính tình cảm, sự chân thành và hành động cao đẹp của mình để thuyết phục nhân dân tin theo Bộ đội; thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; củng cố vững chắc “cái gốc”, cái cội nguồn sức mạnh của Quân đội theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Gốc có vững cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
---------------------
PT-TG. St






NGA VÀ UKRAINE ĐÀM PHÁN LẦN HAI - DỤC CẦM CỐ TÚNG!

         Vừa đánh vừa đàm, mèo đang vờn chuột. Đấy là kế Dục cầm cố túng, thả để bắt. Đôi khi, đừng có dồn địch thủ vào góc tường. Đôi khi, nên giữ chúng sống hơn là triệt hạ. Đôi khi, để chúng trốn thoát, mệt mỏi, mất tinh thần và tan rã lại hay hơn nhiều. Quan trọng nhất là triệt cái tâm. Bởi tâm đã bị triệt thì đầu hàng là vĩnh viễn và sự trung thành cũng được bảo đảm. Kế này khi xưa Gia Cát Lượng dùng để bảy lần bắt Mạnh Hoạch, khiến Mạnh Hoạch và bộ lạc ông ta tâm phục khẩu phục. Bỏ ý định làm phản, quy thuận Thục Hán mãi mãi! Hiện nay, Nga đã dùng binh với Ukraine, rõ ràng là Ukraina đang yếu thế. Nếu dồn lực để đánh, chắc chắn họ sẽ sớm duyệt binh ở Kiev, thậm chí là giải trừ chính quyền Ukraine. 


Nhưng Nga không làm thế. Putin cao tay khi đi nước cờ rất sáng, vừa đánh vừa đàm. Bên ngoài để cho thế giới thấy là Nga chỉ muốn Ukraine trung lập, không gia nhập NATO để chống lại Nga chứ Nga không muốn giết hại người dân Ukraine anh em. Thêm nữa, Nga muốn nhân dân Ukraine hiểu rằng, họ có cùng gốc tích, nguồn cội. Nếu không có cách mạng tháng Mười và lãnh tụ LêNin thì Ukraine không có ngày hôm nay. Thời Sa Hoàng và cả thế chiến thứ nhất, thứ hai, Ukraine là dân tộc chịu khổ đau, bị thôn tính, sát nhập, không có cương vực, lãnh thổ riêng. Chính Liên Xô mà nước Nga là trụ cột đã cho Ukraine phần phía Đông lãnh thổ hiện nay và lấy phần đất của Ba Lan để chia cho Ukraine (Nga dùng phần đất của Đức để đền bù). Nhờ Liên Xô và Nga thì Ukraine có hôm nay nhưng chính quyền Ukraine từ 2014 đã trở cờ theo Mỹ, NATO, chống Nga, hủy hoại quá khứ, phỉ báng cả LêNin và Chủ nghĩa Cộng sản, thậm chí còn đặt Chủ nghĩa Cộng sản dưới cả Chủ nghĩa phát xít. Vậy nên phải giải trừ chính quyền phát xít kiểu mới, thiệt lập trật tự. 


Nếu đàm phán không thành, Nga tiếp tục bao vây và ngày càng siết chặt vòng vây đối với Ukraine cho đến khi hai bên thống nhất trên bàn đàm phán. Khi đó, nhân dân Ukraine chắc chắn sẽ ngã về phía Nga vì chính Jelensky không thực tâm đàm phán hoà bình, đẩy đất nước vào vòng binh lửa. Khi đó, không chừng thì chính quyền Ukraine phải đối đầu với nhân dân Ukraine chứ không chỉ Nga. Binh pháp viết: 


"Cố thượng binh phạt mưu. Kỳ thứ phạt giao. Kỳ thứ phạt binh. Kỳ hạ công thành. Công thành chi pháp, vạn bất đắc dĩ". Có nghĩa là:

"Xuất quân đánh giặc đầu tiên phải dùng Mưu Kế. Dùng kế không được, mới đánh bằng Ngoại Giao. Ngoại giao không xong, mới đánh vào Lực lượng binh chủng địch. Cuối cùng, hạ sách không còn đường nào khác thì tấn công vào thành trì của địch". Ukraine cũng có toan tính của riêng mình, hoãn binh để củng cố lực lượng và chờ viện trợ vũ khí, khí tài và lương thảo. Hy vọng các lệnh trừng phạt Nga của Mỹ và NATO sẽ khiến Nga xuống nước. Vì thế lần đàm phán này cũng khó thành công.

Hạ sách là dùng binh tổng lực, tuy nhiên nếu Nga và Ukraine vẫn không thể hoà hảo, người Nga buộc phải công thành nhổ trại. Chiến trường hoàn toàn trên lãnh thổ Ukraine, nhân dân vô tội sẽ là những người khổ nhất. Không ai cổ súy cho chiến tranh. Vẫn mong cả hai bên kiềm chế, đạt được thoả thuận để nhân dân tránh lầm than, đổ máu. Việt Nam quan ngại hết sức sâu sắc và mong muốn hai bên đàm phán hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, vì hoà bình, ổn định tại Đông Âu và trên thế giới./.
Yêu nước ST.

NẾU KHỐI NATO ĐƯỢC GIẢI TÁN, THẾ GIỚI SẼ YÊN BÌNH HƠN!

         Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được gọi tắt là NATO. Đây là một liên minh quân sự được ký kết thành lập vào ngày 4 tháng 4 năm 1949, bao gồm Mỹ và một số nước ở châu Âu (các nước 2 bên bờ Đại Tây Dương). Trên danh nghĩa, NATO là một liên minh phòng thủ. Tuy nhiên, trên thực tết NATO thực hiện nhiều cuộc tấn công nhằm vào các quốc gia khác (ví dụ như cuộc tấn công Nam Tư năm 1999, Afghanistan năm 2001, Iraq năm 2003, Libya năm 2011...). Vậy thì NATO là một khối quân sự sinh ra để đe dọa các quốc gia không thân với họ chứ đâu là khối phòng thủ?!

Về lý, đáng ra NATO phải được giải thể vào đầu những năm chín mươi của thể kỷ trước rồi. NATO được thành lập để đối trọng với khối quân sự Varsava, mà khối này đã không tồn tại hơn 30 năm nay rồi. Ấy thế mà khối này không những không giải thể mà còn không ngừng tăng thêm về số lượng. Lúc đầu NATO chỉ có 12 nước là thành viên sáng lập, nay đã tăng lên đến con số 30 và có 3 nước là ứng cử viên là Gruzia, Ukraina, Bosnia-Herzegovina. Ngoài ra, thời gian gần đây 2 quốc gia là Phần Lan và Thụy Điển cũng được xem là ứng cử viên tiềm năng (tôi không tin vào điều này vì nếu nội các thay đổi, họ lại có quyết định khác).

Liên hợp quốc nên xem lại cơ sở pháp lý (dựa trên logic của vấn đề) của việc để khối NATO tồn tại và phát triển. Phe xã hội chủ nghĩa tan rã rồi, Liên Xô cũng sụp đổ rồi; vậy quốc gia nào là đối thủ của NATO. Chắc chỉ có Nga, Trung Quốc và Ấn Độ là đối thủ xứng tầm? Trên thực tế trong hơn 70 năm tồn tại, người ta chỉ thấy NATO tấn công các nước khác chứ có thấy nước nào tấn công các nước thành viên NATO đâu?! Việc giải thể NATO hiện nay là điều có vẻ không tưởng đối với nhiều người nhưng xét về logic, nó là điều có lý.

Một điều tôi thấy hơi lạ và không thấy tinh thần thượng võ của Mỹ và các nước Tây Âu ở đâu? Đó là đại đa số đồng minh (cùng khối Varsava ngày xưa) đã gia nhập NATO, vậy sao họ vẫn ngại, vẫn thù Nga? Chính vì vậy Nga rất cảnh giác với việc NATO có thêm những thành viên mới nằm cạnh Nga. Nga đã tiến đánh Gruzia trong cuộc chiến tranh 5 ngày vào năm 2008 để ngăn nước này gia nhập NATO. Và năm 2022 này Nga lại tiến đánh Ukraina với mục đích tương tự.

Như vậy, 2 cuộc chiến tranh do Nga tiến hành trong những năm gần đây đều liên quan đến các nước muốn gia nhập NATO. Nga vô cùng lo lắng khi những nước bên cạnh mình trở thành căn cứ quân sự bố trí tên lửa của Mỹ. Tên lửa ở các nước Tây Âu, ở tàu ngầm Nga không sợ vì khoảng cách đến Thủ đô Moskva lớn, Nga có thể đánh chặn để phá hủy. Còn nếu tên lửa đặt ở lãnh thổ Ukraina thì khoảng cách gần, Nga khó lòng đánh chặn. Vì vậy Nga quyết không để Ukraina gia nhập NATO. Nếu không có khối NATO thì không có chuyện một số quốc gia mong muốn gia nhập NATO, không có chuyện Nga tấn công...

Cũng có người đặt câu hỏi: Tại sao Nga không tìm cách gia nhập NATO? Nếu Nga gia nhập tổ chức này thì có phải là yên ổn hơn không? Nga không thể gia nhập NATO vì nhiều lý do nhưng lý do lớn nhất là Nga không chịu được thái độ trịch thượng của Mỹ, Nga không thể ở vào vị trí chư hầu của Mỹ. Lịch sử, văn hóa, tính cách dân tộc không cho phép Nga làm điều đó.

Những chính khách trên thế giới có cách lập luận theo kiểu nói lấy được nhưng xét ra cũng có lý. Đó là sản xuất vũ khí hạt nhân (gi.ết người hàng loạt) để bảo đảm hòa bình; mua nhiều vũ khí hiện đại cũng là để bảo đảm hòa bình. Mở rộng NATO là để ngăn ngừa chiến tranh... Người ta gọi đây là chiến lược răn đe. Tôi cho rằng đây là sự ngụy biện. Xây dựng lòng tin mới là chiến lược làm cho thế giới trở nên an toàn hơn./.

Yêu nước ST.

Một số giải pháp để ngăn ngừa, vô hiệu hóa sự phá hoại của các thế lực thù địch trên mạng internet

 

           Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; chúng triệt để sử dụng công nghệ thông tin, nhất là các mạng xã hội, blog xấu độc trên mạng internet, tìm mọi cách móc nối giữa các thế lực thù địch bên ngoài với các phần tử cơ hội chính trị trong nước để nhào nặn thông tin, hình ảnh, tung những bài viết có quan điểm sai trái trên mạng internet, thông qua các trang mạng xã hội và blog xấu độc. Để ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu và thủ đoạn phá hoại đó của các thế lực thù địch, cần thực hiện một số giải pháp sau:

         Một là, cấp ủy đảng các địa phương, cơ quan, đơn vị phải thường xuyên nắm chắc âm mưu và thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị; kịp thời có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phản bác; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, góp phần phòng, chống tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

             Hai là, các tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các đoàn thể chính trị-xã hội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị trong việc thu thập, tán phát thông tin và luận điệu sai trái chống phá ta trên các trang mạng xã hội, blog xấu độc, phần lớn có máy chủ đặt ở nước ngoài. Nâng cao cảnh giác không tin theo, không truy cập và tán phát những thông tin xấu độc đó; chủ động đấu tranh ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái không để các thế lực thù địch lợi dụng mạng internet chống phá ta; đồng thời tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, mở rộng việc cung cấp thông tin chính thức, kiến thức pháp luật để nâng cao trình độ nhận thức, tạo sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân chống lại, vô hiệu hóa những thông tin và luận điệu sai trái, thù địch.

             Ba là, các cơ quan thông tin đại chúng duy trì thường xuyên chuyên trang, chuyên mục đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác các thông tin và luận điệu sai trái, thù địch; siết chặt quy trình làm báo không để xảy ra sai sót về chính trị, nhất là những tin, bài liên quan những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, các sự kiện chính trị của đất nước, của các địa phương, đơn vị mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để thổi phồng, vu cáo chống phá ta.

             Bốn là, cơ quan tuyên giáo các cấp, các ngành phải chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên nắm bắt tình hình; kịp thời phát hiện, đề xuất tham mưu với cấp ủy các giải pháp ngăn chặn ảnh hưởng, tác hại của những thông tin xấu độc, luận điệu sai trái do các thế lực thù địch tung lên mạng internet nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

 

Ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay

 

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm phai nhạt dần niềm tin và các chuẩn mực của người đảng viên cộng sản, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dễ dẫn đến xa rời nguyên tắc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thậm chí, có người nhận thức phiến diện, giản đơn, không thấy được sự nguy hại của nó, vô tình đã có những hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch chống Đảng, Nhà nước, sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì thế, đây là vấn đề không thể xem thường, đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phân tích làm rõ nguyên nhân, đề ra giải pháp, làm cơ sở cho từng đảng viên, tổ chức đảng soi vào đó kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, khắc phục, sửa chữa. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng; lòng tin của nhân dân được tăng lên, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng viên ngày càng cao1.

      Mặc dù vậy, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra chưa được khắc phục triệt để, vẫn như “mạch ngầm” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt nghiêm trọng là đã có những biểu hiện: phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; phản bác, phủ nhận nền dân chủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”; nói xấu các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đòi “phi chính trị hoá” Quân đội và Công an, v.v. Trong số đó, có người do thiếu thông tin, lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lừa gạt, lợi dụng. Nhưng cũng có kẻ đã biến chất, không còn là cán bộ, đảng viên của Đảng, có động cơ xấu, quay lưng chống Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Qua một số vụ việc gần đây được Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng xử lý kỷ luật, đề nghị truy tố, cho thấy, một số cán bộ, đảng viên đã suy thoái sâu, bị “lợi ích nhóm” chi phối; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng ở đó bị giảm sút, cá biệt có nơi bị tê liệt. Vì vậy, chủ động, kịp thời nhận diện, xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị.

 

Nhận diện những cách thức chống phá cách mạng nước ta trên mạng Internet thời gian qua

 

          Mạng internet ra đời là một bước đột phá về công nghệ phục vụ con người. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ, internet trở thành công cụ không thể thiếu cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Việc truyền tải, chia sẻ thông tin trên internet về mặt khách quan nó đã hàm chứa tính tiện ích hơn gấp trăm lần các phương tiện truyền thông trước nó. Nó tác động đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Càng ngày phạm vi bao phủ của mạng internet càng lớn, dung lượng chứa đựng và tốc độ kết nối, lưu chuyển dữ liệu càng cao, và càng có nhiều dịch vụ, kết nối nhiều người trên toàn thế giới, bất kể địa lý, không gian và thời gian.

          Vấn đề là ở chỗ, những âm mưu, thủ đoạn xảo trá, những điều vô nghĩa, phi lý được tung lên mạng toàn cầu lại có "khả năng" lung lạc không ít người truy cập. Không phải ai và lúc nào cũng đủ tỉnh táo và có thể phân biệt được thật - giả, đúng - sai, trong khối lượng thông tin khổng lồ và dày đặc được tung lên mạng toàn cầu.

          Cho nên, internet trở thành phương tiện mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội thoái hóa biến chất, đã sử dụng hàng trăm trang tin điện tử để truyền bá quan điểm sai trái, chống chế độ XHCN, chống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và thường bằng các cách thức sau:

          Cách thức phổ biến nhất là các trang tin này được thiết kế nhiều hình thức "bắt mắt" với nhiều thông tin hấp dẫn, có tác dụng thu hút, lôi kéo người dân trong nước truy nhập vào, để rồi sau đó cài vào đó các thông tin phản động, chống đối. Loại hình nói trên đều có đặc điểm chung là sử dụng nhiều phương thức, hình thức dịch vụ tin tức, trao đổi khác nhau để lôi kéo định hướng người sử dụng Internet đến với các nội dung cần tuyên truyền. Đôi khi các thông tin đánh lạc hướng là những thông tin rất có giá trị để nhằm làm người đọc mất cảnh giác khi đến với các nội dung phản động, họ đã "trộn lẫn thật giả". Các nội dung thường bị bóp méo, xuyên tạc dẫn đến làm sai lệch cách nhìn nhận của cộng đồng mạng về tình hình trong nước.

        Cách thức phổ biến thứ hai được sử dụng là tường thuật trực tuyến (livetreams) hoặc thông qua các dịch vụ hội thoại (chat), trao đổi trực tuyến, diễn đàn (forum). Hội thoại trực tuyến bao gồm cả hội thoại dùng chữ (text), dùng lời (voice), dùng hình ảnh (video), ... Hội thoại trực tuyến là dịch vụ cho phép hai hay nhiều người có thể trao đổi trực tuyến với nhau tức thời thông qua Internet. Có thể nói dịch vụ này đã giúp mọi người liên kết được với nhau một cách thuận tiện, vượt qua không gian, thời gian, và quan trọng nhất là rất rẻ tiền, nếu không nói là hoàn toàn miễn phí.

             Cách thức phổ biến thứ ba là sử dụng thư điện tử (email). Hằng ngày có hàng tỷ email được truyền đi qua Internet. Thư điện tử đã trở thành một dạng dịch vụ không thể thiếu đối với người sử dụng Internet. Có rất nhiều giao dịch, kể cả giao dịch thương mại đã sử dụng email như phương pháp truyền thông hiệu quả và tin cậy. Do đó thông qua email để tiếp cận đối tượng tuyên truyền là một hình thức rất hiệu quả trong thời đại Internet. Hiện tại việc lạm dụng email để quảng cáo, tuyên truyền, thậm chí lừa đảo đã trở thành một vấn nạn toàn cầu. Trong trào lưu đó, các phần tử phản động đã nhanh chóng áp dụng các phương pháp tiếp cận bằng email vào hoạt động của mình.

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, những người "đào ngũ tư tưởng" đang tăng cường sử dụng mạng internet với hàng trăm trang mạng xã hội và blog, với nội dung xấu độc, với liều lượng, tần suất ngày càng tăng để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tập trung vào một số vấn đề chính như:

         Thứ nhất, qua các trang mạng xã hội và blog xấu độc, tung ra những thông tin và quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Kêu gọi thay đổi chế độ chính trị, đòi đa nguyên, đa đảng; kêu gọi biểu tình gây áp lực đối với Đảng, Nhà nước; âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phi chính trị hóa quân đội…

             Thứ hai, họ phát tán trên mạng internet những tin, bài, tài liệu có nội dung sai trái, thù địch và khuyến khích nhiều người lên mạng “trao đổi”, “thu nhận” thông tin; dùng các trang mạng xã hội và blog làm “nóng” các vấn đề trong nước để tuyên truyền chống phá ta, kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xuyên tạc, tung tin thất thiệt gây chia rẽ nội bộ, kêu gọi biểu tình, phản đối...

            Thứ ba, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” “đất đai”... để vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép về chính trị và kinh tế, gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với các điều kiện về hợp tác kinh tế; tìm cách tác động, kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế gia tăng sức ép với Việt Nam…nhằm gây chú ý của dư luận, tạo áp lực với Đảng, Nhà nước ta; nhào nặn, lan truyền những thông tin thất thiệt gây tâm lý bi quan, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, thực hiện mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từng bước hướng lái Việt Nam theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

            Thứ tư, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, xã hội, những vấn đề “nóng”, “bức xúc” trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo, lấy hiện tượng quy thành bản chất nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

           Thứ năm, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, định hướng thông tin, tác nghiệp ở một số cơ quan báo chí để xảy ra tình trạng một số bài viết phản ánh về các vụ việc phức tạp, nhạy cảm sai sự thật, thiếu khách quan; cá biệt một số tờ báo có những bài viết “giật tít” nhằm câu khách; tần suất, số lượng bài viết về các mặt trái, tiêu cực xã hội quá nhiều, nhất là trên một số báo điện tử, để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá ta.

             Tình hình đó  đặt ra nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết đối với cách mạng nước ta cần phải tỉnh táo nhận diện các âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống “DBHB”, trên mạng internet.

 

Biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay


 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm phai nhạt dần niềm tin và các chuẩn mực của người đảng viên cộng sản, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dễ dẫn đến xa rời nguyên tắc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thậm chí, có người nhận thức phiến diện, giản đơn, không thấy được sự nguy hại của nó, vô tình đã có những hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch chống Đảng, Nhà nước, sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì thế, đây là vấn đề không thể xem thường, đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, phân tích làm rõ nguyên nhân, đề ra giải pháp, làm cơ sở cho từng đảng viên, tổ chức đảng soi vào đó kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, khắc phục, sửa chữa. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng; lòng tin của nhân dân được tăng lên, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng viên ngày càng cao.

Để đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) đã xác định; trong đó, tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:

      Một là, tăng cường giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Đây là điều kiện tiên quyết trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”. Vì, mọi sự mơ hồ, xem nhẹ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, Cương lĩnh của Đảng đều là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng, trong xã hội. V.I. Lênin đã dạy: “…, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản” . Vì vậy, không thể thờ ơ, xem thường vấn đề này. Hơn nữa, nhận diện biểu hiện trên không khó, nó diễn ra ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Để phòng ngừa, ngăn chặn, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc, kiên định hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Quá trình tuyên truyền, giáo dục, cần tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam; hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hết sức chú trọng phòng ngừa nguy cơ sa vào giáo điều, xét lại, sai lầm về đường lối. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

      Hai là, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Có thể khẳng định rằng, kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa qua, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí với nhiều vụ án lớn đưa ra xét xử, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã góp phần quan trọng giáo dục, rèn luyện, cảnh tỉnh cán bộ, đảng viên. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) xác định, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, cần duy trì nghiêm các chế độ, nền nếp, nguyên tắc sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa”, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và có biện pháp bảo vệ người trung thực, dám đấu tranh với những vấn đề tiêu cực, sai trái. Ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo. Đề cao vai trò nêu gương của bí thư cấp ủy, người chủ trì cơ quan, đơn vị về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong công tác để cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo. Cùng với đó, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở tất cả các cấp, các ngành. Đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài, song toàn Đảng cần nêu cao quyết tâm chính trị, cũng như tổ chức thực hiện; có như vậy mới củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Bên cạnh việc điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng đã phát hiện, các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, tham mưu ban hành các quy định, cơ chế đủ mạnh để ngăn ngừa hành vi tham nhũng, cũng như quan hệ “lợi ích nhóm”, đặc quyền, đặc lợi, “tư duy nhiệm kỳ”; phát huy tốt vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng,… đối với nhiệm vụ này, cũng như công tác xây dựng Đảng.

      Ba là, đẩy mạnh công tác quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống. Suy thoái về đạo đức, lối sống là nguồn gốc dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, toàn Đảng cần coi trọng xây dựng cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có sức đề kháng, tự bảo vệ, miễn dịch trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế. Đồng thời, có lề lối, tác phong công tác khoa học, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Đối với từng cán bộ, đảng viên, trước hết là bí thư cấp ủy, cần nêu cao trách nhiệm trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch, đăng ký thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII). Đồng thời, cần chú trọng gắn chặt công tác giáo dục với công tác quản lý và tự quản lý của đảng viên, nhất là các mối quan hệ trong cuộc sống, sinh hoạt ở nơi cư trú, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện vi phạm; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, cục bộ, “lợi ích nhóm”, cơ hội, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều làm ít”, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

      Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần nắm vững, thực hiện tốt phương châm, phương pháp, nguyên tắc của công tác kiểm tra, giám sát; xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung cụ thể, sát với đặc điểm, nhiệm vụ từng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát phải tiến hành toàn diện cả về tư tưởng, chính trị, năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; nhất là chú trọng kiểm tra, giám sát về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, những đảng viên giữ cương vị cán bộ chủ trì ở các cơ quan, đơn vị. Trong quá trình thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, tổ chức, gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, bảo đảm kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, công bằng; nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên đồng thời với tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

      Nhận diện và có giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt và là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu trên là tiền đề vững chắc để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ mới.

 

 

Một vài suy nghĩ về việc sử dụng mạng xã hội của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay

 

          Mạng xã hội (MXH) và việc sử dụng MXH là một vấn đề “nóng bỏng”, có nhiều tranh cãi về những mặt tích cực cũng như hệ lụy của nó trong điều kiện xã hội “bùng nổ thông tin” hiện nay. Ở Việt Nam, MXH xuất hiện sau mạng thông tin toàn cầu (Internet) nhưng mức độ phát triển về số lượng người dùng và của nó đang là vấn đề đặc biệt quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý.

         Khi sử dụng MXH, hành vi và động cơ hành vi của người dùng rất đa dạng. Bên cạnh giao tiếp bằng hữu, chia sẻ kinh nghiệm, niềm vui trong cuộc sống; quảng bá thương hiệu sản phẩm... hành vi nói xấu, đả kích, bôi nhọ người khác, đăng tin giả... cũng đã và đang xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội gây ảnh hưởng nhiều mặt của đời sống văn hóa, tư tưởng, đạo đức xã hội, nhất là những chủ thể chịu tác động trực tiếp bởi các thông tin tiêu cực. Theo suy nghĩ cá nhân, cán bộ, công chức, viên chức – mặc dù chưa phải là nhóm xã hội có mức sống cao hiện nay – nhưng cũng là lực lượng không nhỏ có điều kiện tham gia MXH với cả hai hình thức gồm máy tính (computer, Laptop) và điện thoại di động thông minh đa chức năng (smartphone).

          Hệ thống chế tài đóng vai trò rất quan trọng trong điều chỉnh hành vi cá nhân nhưng điều quan trọng hơn cả là văn hóa ứng xử của mỗi người trong MXH. Chúng ta đã biết, hành vi ứng xử trên MXH cũng như hành vi ứng xử trong xã hội nói chung đã được quy định ở Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật hay đến hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Thế nhưng, như đã nêu trên, chúng ta đã và đang có nhiều điều lo lắng về ứng xử của người dùng trên MXH trong điều kiện việc xử lý của cơ quan công quyền, tổ chức đoàn thể, cộng đồng... còn nhiều bất cập. Nhận thức về những hệ lụy do hành vi tiêu cực mà mình có thể gây ra của người dùng MXH còn nhiều khác biệt, phức tạp gắn lới lối sống cá nhân.

          Là những người tham gia công tác ở các quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, mỗi cán bộ, công chức cũng cần nhận thức đầy đủ về những mặt tích cực và tiêu cực khi sử dụng MXH, nhất là xác lập thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn của bản thân trong giao tiếp, tiếp nhận, xử lý thông tin trên MXH. Vừa không làm phương hại đến mọi chủ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp luật, đạo đức, văn hóa... vừa góp phần tích cực xây dựng một môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới. Vì vậy, mỗi người sử dụng MXH, trong đó có cán bộ, công chức, viên chức cần lưu tâm một số vấn đề:

          - Có thái độ phù hợp trong tiếp cận, xử lý và tiếp nhận thông điệp được gửi đến. Thông điệp được gửi đến bởi chủ thể cụ thể (chủ tài khoản) trong MXH gắn với động cơ, mục đích đưa tin của người gửi. Sẽ càng tối ưu hơn trong phân tích tốt – xấu, đúng – sai nếu ngưỡi dùng nắm bắt được đời sống tâm lý – nhân cách của người gửi, nhất là người có tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên. Phân tích thông điệp bằng việc làm rõ ý nghĩa câu, từ, hình ảnh, video clip mà người gửi muốn nhắn gửi để có định hướng thái độ tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; đồng tình hay phản bác...

          - Thận trọng trong truyền đạt thông điệp trên MXH. Đăng tải thông điệp phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Không chia sẻ, bình luận thuận chiều với những thông điệp có nội dung sai trái, vu khống, giả tạo, kích động hành vi tiêu cực.

          - Không đăng tải, chia sẻ thông điệp chưa được xác minh tính chân thực, nhất là thông điệp có nội dung làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; gây mất an ninh trật tự trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật...

          - Mỗi cán bộ, công chức, viên chức cũng cần xác lập ý thức và thái độ đúng đắn xây dựng phong cách, văn hóa ứng xử không chỉ trong công việc mà còn trong sử dụng MXH; coi đó là một nội dung rèn luyện về đạo đức, tác phong, văn hóa ứng xử trong điều kiện mới hiện nay./.

 

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


         Để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù dịch đặt trong tâm là chống phá nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt nam, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách để xuyên tạc, hạ thấp và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống, tinh thần xã hội Việt Nam. Vì vậy, tăng cường bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách trong công tác tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Văn kiện trình đại hội XIII khẳng định: "Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn" và "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"

         Chủ nghĩa Mác-Lênin được hiểu theo nghĩa chung nhất là học thuyết khoa học về quy luật  phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại mọi sự bất công, nô dịch, áp bức; về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác-Lênin là sự thống nhất toàn vẹn hữu cơ của ba bộ phận cấu thành không thể tách rời: triết học Mác-Lênin, kinh tế - chính trị học Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Đảng ta, trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và đã tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hôi và chủ nghĩa công sản"

       Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, là lãnh tụ thiên tài, nhà tư tưởng, văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành nên một hệ thống, quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam và lãnh đạo Đảng ta, dân tộc ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giành nhiều thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp đổi mới. Từ thành quả và kinh nghiệm trong tổ chức lãnh đạo cách mạng, Dự thảo các văn kiện trình đại hội XIII của Đảng, thống nhất quan điểm: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"

        Nhìn lại lịch sử, từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời cho đến nay, luôn phải đương đầu với những cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các lập trường, tư tưởng đối lập nhau. Đặc biệt, ngay sau khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội; lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và bọn cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin đã tuyên truyền, xuyên tạc, tấn công quyết liệt, lớn tiếng cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu; rằng chủ nghĩa Mác Lênin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thế kỷ XXI không còn phù hợp nữa. Đồng thời, các thế lực thù địch cũng ra sức phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, thậm chí đem đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh theo chủ nghĩa dân tộc...
       Hiện nay và những năm sáp tới, lợi dụng những khó khăn, những diễn biến phúc tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, các thế lực thù địch dang và sẽ tiếp tục ra sức chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta. Đặt biệt là tiếp tục công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đi tới xóa bỏ nền tảng lý luận của Đảng ra khỏi đời sống tinh thân của xã hội ta. Xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truyền bá hệ tư tưởng tư sản phản động, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, hòng làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cùng với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, thì những diễn biến trong đời sống xã hội, sự tác động từ những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, giảm sút lòng tin, chạy theo lối sống thực dụng, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

      Trước những chống phá bằng các thủ đoạn, phương pháp ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống và đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần phê phán các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó đã góp phần định hướng nhận thức, tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân, củng cố niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

     Tuy nhiên, công tác đấu tranh phòng, chống các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong việc xác định chương trình, kế hoạch và tổ chức lực lượng, triển khai các hoạt động đấu tranh chống các quan diểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa thật sự chủ động, tích cực. Việc phối hợp, kết hợp đấu tranh và điều kiện bảo đảm thông tin, tư liệu, kinh phí cho hoạt động đấu tranh chống các quan diểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn chưa theo kịp diễn biến của tình hình.

     Vì vậy, việc đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhằm khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh việc phê phán, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đang trỏ thành nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng và lý luận ở nước ta hiện nay.

      Để tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" với "chống". Vừa kiên định, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa tích cực chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

      Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và phát triển. Nghĩa là, phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, với xu thế của thời đại. Thực tiễn luôn vận động, phát triển và biến đổi không ngừng nên lý luận Mác - Lênin cũng cần được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn đương đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống mở, không thể coi những nhận thức đạt được cho đến ngày nay là những chân lý tuyệt đối cuối cùng. Không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác _ Lênin vừa là yêu cầu thực tiễn xã hội, vừa là yêu cầu nội tại của học thuyết Mác - Lênin. Có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác - Lênin mới tự bảo vệ được mình, mới phát huy sức sống và sức mạnh với thời đại. Tư tưởng Hồ Chí minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Vì vậy, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là phát huy sức mạnh, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta.

      Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái, bảo vệ tính khoa học, trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể, trên từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cúa các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng trong quan điểm chính trị, sâu sắc về tính khoa học, hiệu quả trong phương pháp đấu tranh. Cần huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí...tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức, để kịp thời định hướng đấu tranh. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện, vật chất cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

      Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những chuyển biến mau lẹ, phức tạp, khó lường; cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng trở nên khó khăn. Vì vậy, đi đôi với tăng cường đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải từng bước hiện thực hóa những mục tiêu, chính sách, lý tưởng về chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Phải chứng minh trên thực tế tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng những kết quả hiện thực, bằng những thành quả trong công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

        Hơn 90 năm lãnh đạo và trưởng thành, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta, Nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực củ đời sống xã hội. "Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay". Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Song, chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta luôn tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh được hiện thực hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận sẽ sớm bị vạch trần bởi tính chất phản khoa học, cách mạng của chúng.

 

Phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên

 

Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi để phát triển, chúng ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, trong đó “bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

        Thực tế cho thấy, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng  - an ninh và đối ngoại, với trọng tâm là cổ xúy hệ tư tưởng tư sản, âm mưu xóa bỏ lý luận chủ nghĩa Mác  - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội... Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực thù địch hướng tới là làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặc dù âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng là nhất quán, nhưng trong bối cảnh mới, nó được thực hiện với những phương thức, thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt hơn. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông và mạng internet để tiến hành các hoạt động chống phá ta, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

         “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trước hết trong cá nhân cán bộ, đảng viên và nếu không được ngăn chặn kịp thời, có thể dẫn đến sự suy thoái của tổ chức, và về lâu dài, sẽ dẫn đến chuyển hóa chế độ chính trị. Bởi vậy, Đảng ta xác định, cùng với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng là nguy cơ không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng.

        “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái. Và từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, có thể từng người đến đội ngũ. Nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu.

        Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên cũng rất lớn, nó không chỉ đối với vai trò của cán bộ, đảng viên mà còn đối với vai trò và sự lãnh đạo của Đảng. Từ những hạn chế, yếu kém của cán bộ, đảng viên sẽ làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội. Từ đó, Nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều đó sẽ hạn chế việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

        Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu nhất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí phấu đấu; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Sự chống phá quyết liệt, nhất là hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch cũng là một tác nhân trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nội bộ ta.

        Có thể thấy, “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời nhau, trong đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là thủ đoạn, vừa là mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII Đảng ta chỉ ra những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cơ sở cho việc nhận diện và đề ra các giải pháp phù hợp để ngăn chặn, đẩy lùi. Để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thiết nghĩ chúng ta cần phải tập trung các nhiệm vụ, giải pháp sau:

        Trước hết cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mục tiêu giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên.  Công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, để khi đối mặt với khó khăn, thử thách, đứng trước những cám dỗ vật chất, tác động từ các tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường hay đòn tấn công hiểm độc của các thế lực thù địch, cán bộ, đảng viên vẫn kiên định, vững vàng, không hoang mang, dao động, phai nhạt lý tưởng, giảm ý chí chiến đấu.

        Thứ hai, các cấp uỷ Đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị các cấp cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên.

        Thứ ba, tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần loại trừ những yếu tố nguy cơ đóng vai trò thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tập trung đấu tranh, phản bác các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch bằng những luận cứ khoa học, có sức thuyết phục cao, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng và thành quả của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, nâng cao nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng, tinh thần cảnh giác, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên đối với Đảng và tương lai của dân tộc.

        Thứ tư, bản thân cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng” và “độ miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Vì vậy, muốn phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, bản thân cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng.

        Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp quan trọng, chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.