Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

ĐẤU TRANH, ĐẨY LÙI “VI TRÙNG ĐỘC HẠI” PHÁ HỦY NHÂN CÁCH TỪ BÊN TRONG

 

Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong cuộc kháng chiến cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường.

Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không.

Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lùi, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai.  

Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng Nhân dân.  

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

 

Cuối tháng 3/2022, Thanh tra Chính phủ có Báo cáo kết quả giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri gửi sau kỳ họp thứ 2 (20/10/2021-13/11/2021), Quốc hội khóa XV (2021-2026). Báo cáo cho biết, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (02 Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Đây mới chỉ là những cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, có liên quan đến tham nhũng.

Những con số thống kê mà Thanh tra Chính phủ công bố, thông tin 2 đồng chí lãnh đạo bị kỷ luật nêu trên chỉ là những sự việc gần đây có liên quan đến công tác cán bộ, nhưng cùng với các sự việc tương tự xảy ra thời gian qua đã gây ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của Đảng, gây hậu quả rất nghiêm trọng đến xã hội: làm thiệt hại tài sản của Nhà nước; làm xói mòn, phai nhạt niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Không thể tiếp tục để lọt vào hàng ngũ những “con sâu”, những “mầm bệnh” có thể gây ung nhọt, bệnh tật tàn phá “cơ thể Đảng”, việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ cần thiết phải được coi trọng hơn, phải luôn được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, được thực hiện với quyết tâm chính trị cao.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Trên trang “Facebook: Đài Á châu tự do”, kẻ tự xưng “Thanh Trúc” phát tán tài liệu có tựa đề “Kêu gọi Mỹ gây sức ép lên Việt Nam về tự do tôn giáo trước Thượng đỉnh Mỹ – ASEAN”.

Trong thực tế, tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, đúng tôn chỉ, mục đích luôn được Nhà nước Việt Nam tôn trọng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để hoạt động; các tôn giáo ở Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Năm 2006, cả nước có 16 tổ chức thuộc 6 tôn giáo đăng ký được công nhận hoạt động; năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo đăng ký được công nhận hoạt động. Năm 2019, có trên 25 triệu tín đồ, trên 110 nghìn chức sắc, nhà tu hành; nhiều cơ sở đào tạo được cấp phép hoạt động: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo, các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo; Các ấn phẩm về tôn giáo được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong in ấn và phát hành.

Hằng năm, Việt Nam có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng; nhiều chức sắc tôn giáo được Nhà nước tạo điều kiện đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn trên thế giới được tổ chức rất thành công ở Việt Nam: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2008, 2014; Lễ Bế mạc Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Đại lễ kỷ niệm 72 năm khai sáng đạo Phật giáo Hòa hảo; Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới năm 2010; Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc -Vesak 2019… từ năm 2011, Vatican cử đại diện không thường trú tại Việt Nam, đặc phái viên đã có nhiều chuyến công tác tới hầu hết các tỉnh, thành phố của Việt Nam.

Lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tôn giáo chung sống gắn bó, hòa hợp, “tốt đời, đẹp đạo”; các tín đồ, chức sắc tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phát huy truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc, đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vẫn biết rằng, các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của nhân dân ta; tuy vậy, một vài tiếng nói lạc lõng của họ, không thể xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam; hơn nữa, càng không thể hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

VIỆT NAM CHỈ ĐỨNG VỀ CHÍNH NGHĨA

 

Sau khi kết quả Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bỏ phiếu đình chỉ Nga trong Hội đồng Nhân quyền được công bố, lợi dụng việc Việt Nam bỏ phiếu chống, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam với những nhận định xiên xẹo, suy diễn cho rằng, quyết định của Việt Nam là “khá lạ lùng” hay “chính thức chọn phe, nhưng là phe của những kẻ tội đồ”.

Chúng ta luôn khẳng định lập trường không thay đổi đó là Việt Nam không đứng về bên này để chống bên kia mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý và chính nghĩa.

Như vậy, việc Việt Nam bỏ phiếu chống không phải Việt Nam đứng về bên có lợi ích nhiều hơn (Nga), càng không phải là cổ súy cho những hành động vi phạm nhân quyền, những tội ác chiến tranh. Ngược lại Việt Nam phản đối và lên án mọi hành vi tấn công dân thường, vi phạm luật pháp quốc tế, luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế. Những hành vi này phải được điều tra, làm rõ một cách minh bạch, khách quan.

ĐẨY LÙI THAM NHŨNG, TIÊU CỰC ĐẶT TRỌNG TÂM VÀO SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC TRONG CÁN BỘ

            Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 32 "về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, mối quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực", thay thế Quy định số 211, năm 2019, một lần nữa khẳng định mạnh mẽ quyết tâm của Ðảng trong phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

          Tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đều là những biểu hiện tiêu cực, thường gắn liền với nhau, gây khó khăn cho con đường đi lên của đất nước. Trong đó, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là căn nguyên dẫn đến tham nhũng và ngược lại, tham nhũng sẽ làm cho suy thoái ngày càng trầm trọng hơn, nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta.

          Những năm gần đây, cuộc chiến chống tham nhũng được thực hiện một cách kiên trì, bài bản với quyết tâm chính trị cao nhất, đã mang lại kết quả rõ rệt; nhưng việc đấu tranh, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dù có chuyển biến, song thực trạng này vẫn còn phức tạp. Vì thế, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 32 là để tăng cường sự chỉ đạo toàn diện, tập trung, thống nhất, quyết liệt trong toàn Ðảng; thực hiện đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tiêu cực, nhằm ngăn chặn, tiến đến đẩy lùi căn bệnh trầm kha của mọi thời đại.

          Phòng, chống tham nhũng đã khó; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" lại càng khó gấp bội, bởi nó trừu tượng, thường xuyên ẩn náu trong mỗi con người và sẵn sàng trỗi dậy làm cho con người ta gục ngã trước một cám dỗ nào đó. Thực tế đã có những người từng được xã hội tôn vinh, từng vang bóng một thời, nhưng không thắng nổi cái tôi vị kỷ, vun vén cá nhân, dẫn đến vi phạm pháp luật, tham nhũng, vướng vào vòng lao lý. Ðể chiến thắng kẻ thù hiểm nguy vô hình này, không thể một sớm, một chiều. Ðó là cuộc chiến lâu dài cần sự đồng lòng, góp sức của các tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên.

          Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực như người nhạc trưởng, tập hợp, khơi dậy và phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng để thực hiện đồng bộ các giải pháp, nhiệm vụ, từ xây dựng, tổ chức thực hiện chủ trương, cơ chế, chính sách pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử thi hành án đối với những trường hợp vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ nào.

          Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, xây dựng, chỉnh đốn Ðảng nói chung là nhiệm vụ then chốt lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Ðó là một quá trình vươn lên, hoàn thiện bản thân để chiến thắng chính mình, để Ðảng ta mãi mãi là niềm tự hào, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trên tiến trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; hoàn toàn không phải là đấu đá nội bộ như luận điệu xuyên tạc của kẻ xấu, của địch. Thành tích trong những năm phòng, chống tham nhũng gần đây là cơ sở để chúng ta tin rằng tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị đẩy lùi.

          VTT (ST) 

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ KÍCH ĐỘNG CHỌN PHE TRƯỚC BỐI CẢNH XUNG ĐỘT GIỮA NGA VÀ UKRAINE.

 

Trước bối cảnh xung đột giữa Nga và Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chính sách đối ngoại là đa dạng hóa, đa phương hóa, độc lập, tự chủ, luôn đứng về công lý, không đứng về bên này để chống bên kia. Vậy mà, trên các trang mạng xã hội, xuất hiện các bài viết với lối suy diễn ác ý, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam, hoặc đưa những lời khuyên là Việt Nam nên theo nước nọ, không quan hệ với nước kia… khiến dư luận rất bất bình. Bởi lẽ:

Thứ nhất, đường lối đối ngoại của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Thứ hai, việc xác định đối tác, đối tượng của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và lợi ích quốc gia dân tộc.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, Việt Nam không theo bên nọ để chống bên kia, cũng không liên minh, liên kết với bất cứ nước nào để chống lại nước khác. Những luận điệu xuyên tạc của Jackhammer Nguyễn không ngoài mục đích nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

LỢI DỤNG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Ở Việt Nam, tham nhũng được nhận diện là một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp.

Tuy nhiên, không thể lợi dụng vấn đề phòng, chống tham nhũng để xuyên tạc, nói xấu Đảng với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thực tế, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về các giải pháp trong công tác phòng, chống tham nhũng những năm vừa qua. Cụ thể, giáo sư Carl Thayer (Học viện Quốc phòng Australia) nhận định: “Đây không chỉ là xử lý một nhóm các quan chức có sai phạm, mà còn giải quyết các lỗ hổng trong hệ thống quản trị, pháp quyền”. Đồng quan điểm này, giáo sư Dennis McCornac (ĐH Loyola Maryland, Mỹ) cho rằng, rõ ràng là mọi chuyện đã có chuyển biến khi luật pháp phòng chống tham nhũng của Việt Nam nghiêm minh hơn. Hiện giới đầu tư nước ngoài tin tưởng rằng Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh chống tham nhũng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không còn nhũng nhiễu, hối lộ.

Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần dã tâm thâm độc, xảo quyệt của những kẻ phản động như Hiếu Chân./.

SỰ NGUY HẠI KHÔN LƯỜNG CỦA ÂM MƯU ĐÒI “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”

Thời gian qua, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác. 

Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... 

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người. (trích tapchicongsan)

Việt Nam thăng hạng trên bảng xếp hạng chính phủ tốt

 

Viện Quản trị Chandler (Singapore) vừa công bố bảng xếp hạng "Chỉ số chính phủ tốt Chandler" năm 2022.

Việt Nam đứng thứ 3 trong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và thứ 56 trong số tổng 104 quốc gia/vùng lãnh thổ được xếp hạng.

"Chỉ số chính phủ tốt Chandler" là chỉ số toàn diện nhất trên thế giới, được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của chính phủ quốc gia. Dựa trên hơn 50 nguồn dữ liệu mở, bảng xếp hạng này được xây dựng theo nguyên tắc và theo hướng dữ liệu để giúp hiểu rõ năng lực, kết quả của 104 chính phủ trên toàn thế giới và gần 90% dân số thế giới.

Việt Nam thăng hạng trên bảng xếp hạng chính phủ tốt -0Ảnh minh họa.

Theo bảng xếp hạng này, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ về chỉ số bình đẳng thu nhập, tăng 33 bậc so với năm ngoái, lên vị trí thứ 42. Việt Nam cũng tăng 18 bậc lên vị trí thứ 39 về chỉ số thu hút đầu tư. Đặc biệt, Việt Nam đứng thứ 15 về chỉ số sự hài lòng với các dịch vụ công và thứ 27 về bình đẳng giới. Những thành công trong công tác phòng, chống COVID-19 với phương châm "không để ai bị bỏ lại phía sau" và công cuộc chống tham nhũng ngày càng quyết liệt đã đóng góp rất lớn vào thành tích của Việt Nam trong xếp hạng Chỉ số chính phủ Chandler 2022./. 



Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. 

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người. (Trích tapchicongsan)

Ngày này năm xưa (Ngày 4 tháng 5)

- Ngày 4-5-1814: Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte sau khi thoái vị bị đày ra đảo Elba. Napoleon ở đây cho đến ngày 26-2-1815, sau đó đổ bộ lên đất Pháp, bắt đầu thời kỳ trị vì ngắn ngủi trong 100 ngày, cho đến khi ông và quân đội thất bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm đó.

- Ngày 4-5-1869: Thomas Fitch Rowland (người Mỹ) nhận được bằng sáng chế cho “thiết bị khoan dưới biển” để tìm dầu khí và khí đốt đầu tiên trên thế giới.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 15 ra ngày 4-5-1951 đăng trang trọng huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18. Trong bài Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

Là người trực tiếp tổ chức sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Người đặc biệt quan tâm, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đoàn kết quân dân.      

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thực hiện lời dạy của Người, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn giữ vững và phát huy tốt mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước.

Quân đội ta luôn được nhân dân tin yêu. Tình đoàn kết quân dân là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội ta. Nguồn sức mạnh đó thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc, nhân dân không chỉ là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho bộ đội, mà còn là lực lượng luôn che chở, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ, giúp quân đội ta chiến thắng mọi kẻ thù.

Vì vậy, dù ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đều phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thiện bản thân, tăng cường mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt giữa quân đội và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của nhân dân. (Trích báo QĐND)

Theo dấu chân Người (tiếp)

- Ngày 4-5-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị bàn về công tác tổ chức Đảng năm 1959. Phát biểu tại hội nghị, Người lưu ý phải đẩy mạnh sửa đổi về tổ chức, đẩy mạnh đào tạo cán bộ cho 5, 10, 15 năm sau này và phải chú ý giúp cho sự phát triển của thanh niên.

Cùng ngày, Người dự họp Bộ Chính trị thảo luận việc giúp đỡ cách mạng Lào.

- Ngày 4-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) để kiểm điểm sự lãnh đạo của Trung ương trong ba năm qua. Người nêu nhận xét: “Cán bộ quản lý tốt thì tư tưởng tốt. Không phải tư tưởng bay ở trên trời”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 24-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho ông Cố Bân Hoa, kỹ sư trong đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Bộ Kiến trúc.

- Ngày 4-5-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu của Người cho 4 cá nhân có thành tích trong lao động, học tập và tặng lụa cho 3 cháu gái sinh 3 ở Nam Định.

- Ngày 4-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 19-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn cán bộ đo đạc của Trung Quốc vì những đóng góp trong thời gian công tác tại Việt Nam.

- Ngày 4-5-1965, Bác tiếp tục tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuyển hướng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ đã lan ra miền Bắc. Phát biểu tại hội nghị (theo biên bản của phiên họp), Bác chỉ rõ một mặt phải chuẩn bị những khả năng xấu nhất nhưng cũng phải chuẩn bị khả năng để xây dựng tương lai. Khẩu hiệu trước mắt là tất cả để thắng Mỹ. Chúng ta quyết tâm không sợ tổn thất. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng được Mỹ sẽ làm được tất cả. Bác phê bình tác phong làm việc luộm thuộm, thưởng phạt thiếu nghiêm minh và đề nghị phải chú trọng vấn đề con người, nhất là thanh niên. Phải thấy hết khó khăn và dự báo mùa mưa tới, địch có thể phá đê...

Theo dấu chân Người

- Ngày 4-5-1945, Lãnh tụ Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình từ Pác Bó về Tân Trào. Cùng hành quân với Tiểu đội tự vệ theo Bác còn có hai báo vụ viên Mc Shin và F. Tan đều gốc Hoa, biên chế của đơn vị Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) từ Côn Minh theo Bác về Việt Nam. Đoàn bắt đầu từ Khuổi Nậm, dọc theo suối Lênin qua các bản thuộc địa phận Cao Bằng rồi về Tân Trào (Tuyên Quang), tức là xa dần vùng biên giới Việt-Trung để mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc.

- Ngày 4-5-1946, Bác viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ thể hiện rõ quan điểm của chế độ mới: “Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học. Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là: 1. Tăng gia sản xuất. 2. Chống nạn mù chữ.

Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.

- Ngày 4-5-1953, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí MinhDân chủ tập trung, ký bút danh Đ.X, đăng Báo Cứu quốc, số 2329. Tác giả giải thích về dân chủ tập trung: Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các đại biểu thay mặt mình vào các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, Quốc hội cùng Chính phủ trung ương để thi hành chính quyền. Thế là dân chủ. Mặt khác, các cơ quan chính quyền là thống nhất tập trung. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

Hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực

Trên cơ sở rút kinh nghiệm những hạn chế, thiếu sót trước đây và quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định, hơn một năm qua, nhất là sau khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã có sự chuyển biến rõ nét; các quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện...

Chuyển biến rõ nhất là toàn Đảng đã từng bước khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”; tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; chủ động dự báo những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong tình hình mới để kiểm tra trước và đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm, từ lúc còn manh nha... Thực tế thời gian qua, việc xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, bảo đảm thực sự không có “vùng cấm” đã góp phần giải tỏa được những bức xúc, bất bình của nhân dân và dư luận xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, giúp phòng ngừa vi phạm.

Lan tỏa tinh thần chủ động kiểm tra, tăng cường giám sát (không chỉ trong Đảng mà toàn hệ thống chính trị và trong nhân dân) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý vi phạm là điều mà cán bộ, đảng viên cùng người dân cảm nhận rất rõ. Nhiều người đã dùng câu ví “lò luôn nóng” để nói về điều này.

Tại Hội nghị toàn quốc giao ban công tác kiểm tra, giám sát quý I, triển khai nhiệm vụ quý II năm 2022 được tổ chức ngày 25-4 vừa qua, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UBKT Trung ương, cho biết: Trong 3 tháng đầu năm 2022, UBKT thuộc cấp ủy các địa phương, đơn vị đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 297 tổ chức đảng và 921 đảng viên. Hiện UBKT Trung ương đang có 20 đoàn kiểm tra dấu hiệu vi phạm (tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm 2021), đồng thời chỉ đạo cấp ủy và UBKT 63 tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với một số tổ chức đảng, đảng viên. Qua kiểm tra, đã xử lý và đề nghị xử lý kỷ luật nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Trong đó: Cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 32 tổ chức đảng và 1.953 đảng viên; Ban Bí thư thi hành kỷ luật 3 tổ chức đảng và 9 đảng viên; UBKT các cấp thi hành kỷ luật 26 tổ chức đảng, 1.017 đảng viên; UBKT Trung ương thi hành kỷ luật 5 tổ chức đảng và 21 đảng viên.

Thực tế đã cho thấy, hầu hết các tổ chức đảng và đảng viên sau khi được kiểm tra, giám sát đã nghiêm túc khắc phục, sửa chữa vi phạm, khuyết điểm và hậu quả gây ra; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa... (Trích báo QĐND)

Quyết tâm chống tham nhũng

Với quyết tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tiến hành một cách bài bản, từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm; kiên quyết xử lý kỷ luật theo đúng quan điểm “không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, không có hạ cánh an toàn”, mọi đảng viên đều bình đẳng khi xử lý kỷ luật và làm nghiêm từ trên xuống..., từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến hết năm 2021, cấp ủy và UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên (trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý...).

Đặc biệt, quán triệt quan điểm “Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”, UBKT Trung ương đã tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc dư luận. Riêng năm 2021, UBKT Trung ương đã xử lý và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý nghiêm 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Theo thông tin tại cuộc họp của Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, được tổ chức ngày 27-4: Từ đầu năm 2022 đến nay, UBKT Trung ương đã khẩn trương kiểm tra, phát hiện, xử lý, kiến nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý.

Vừa qua, việc kiểm tra, làm rõ các sai phạm, xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với nhiều tập thể, cá nhân sai phạm liên quan đến những vụ việc nổi cộm (như: Vi phạm trong việc quyết định giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam; những sai phạm trong mua sắm vật tư phục vụ phòng, chống dịch Covid-19, điển hình là vụ việc liên quan đến Công ty Việt Á; vi phạm trong việc tham mưu xây dựng thể chế, chính sách và thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước...) được dư luận rất hoan nghênh, bởi thấy rằng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng ngày càng hiệu quả. Nhất là, UBKT Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và kiến nghị xử lý được những vi phạm trong các lĩnh vực mới, khó và nhạy cảm, thể hiện rõ bản lĩnh, quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong những lực lượng, cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm, tội phạm. Vì thế, nhiều cán bộ, đảng viên và người dân đã chú tâm theo dõi, đặt niềm tin vào những kỳ họp của UBKT Trung ương. (Sưu tầm)

Giữ gìn danh dự người Đảng viên

Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Chỉ tính riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn 1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ. 

Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất. (trích báo QĐND)

Danh dự người Đảng viên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội, nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây họa cho xã hội... Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131.000 đảng viên, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Không chỉ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước trừng trị thích đáng mà hơn cả là tòa án lương tâm, dư luận lên án, bị “xã hội tiến bộ sa thải”. Cái mất lớn nhất vẫn là phẩm giá, thanh danh, bởi một khi đã bị vấy bẩn thì không dễ gì gột rửa.

Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. (Sưu tầm)

 

Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam” và “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Từ các luận điểm sâu sắc đó, có thể thấy rằng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa là yếu tố quan trọng để định hình, vừa là ngọn cờ định hướng con đường đi lên của cách mạng nước ta. Phạm vi bài viết sẽ góp phần làm rõ thêm tầm quan trọng của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), là: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”. Nhất quán với các kỳ Đại hội trước, trong các quan điểm chỉ đạo định hướng phát triển đất nước thời gian tới, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta thấy rằng, sự lựa chọn của Đảng và của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì thế, chúng ta có đầy đủ luận cứ để khẳng định, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là “đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh” - như Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định.

1. Như chúng ta biết, dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, nhân dân ta giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước. Cùng với đó, các bậc sĩ phu, nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng đều thất bại do không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.

Trong bối cảnh đó, vấn đề độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó? Nhưng rồi lịch sử đã có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã chỉ ra cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động cần lao con đường đấu tranh để tự giải phóng mình thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị. Và, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra - mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã chỉ ra con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng; là ngọn đèn dẫn đường tỏa sáng, là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Đó là: độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội và gắn kết với chủ nghĩa xã hội.

Ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga đã được kết nối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất Việt Nam để chung đúc nên cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; nhìn rộng hơn, là không chấp nhận bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình; là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI, và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hòa bình, hạnh phúc của con người.

Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, bởi xét về lôgíc, là một tất yếu khách quan; về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; về xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

2. Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là: độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ của quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.

Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế, phong phú, đa dạng về văn hóa, tinh thần và thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập, tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ mạnh mẽ.

Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức, bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trên thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.

Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

3. Qua 77 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 36 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tất nhiên, trong suốt hành trình đó cũng gặp nhiều trở ngại, gian nan; chúng ta không phải không có những hạn chế, yếu kém khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng nền độc lập dân tộc và hướng tới chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

4. Đã qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động - một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông,… dù đã có được độc lập, nhưng do hướng đi sai lệch tạo nên sự bất ổn bên trong và sự can thiệp từ bên ngoài, làm cho đất nước bị hoang tàn, cuộc sống của nhân dân vô cùng cơ cực. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với mọi khó khăn thách thức, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi những bộ áo sặc sỡ của chủ nghĩatư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động của chúng ta vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta nhất định giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nguồn:TCQP