Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

LÝ GIẢI NGUYÊN NHÂN NGA ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI VỀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ

 

LÝ GIẢI NGUYÊN NHÂN

NGA ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI VỀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ

Nga đứng đầu thế giới về tác chiến điện tử và Il-22PP Porubshchik là minh chứng rõ nét nhất, trên cơ sở đó Nga tiếp tục phát triển Porubshchik-2.

Tác chiến điện tử đã trở thành “bàn chân vô hình” và “nắm đấm vô ảnh” trên chiến trường hiện đại, các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các cường quốc quân sự nhìn chung rất coi trọng việc phát triển và ứng dụng các hệ thống, nền tảng tác chiến điện tử.

Máy bay tác chiến điện tử được ưa chuộng nhờ khả năng cơ động cao, hiệu quả tác chiến toàn diện. Nga là quốc gia hùng mạnh về tác chiến điện tử, máy bay tác chiến điện tử Porubshchik là đại diện tiêu biểu cho sự phát triển về năng lực tác chiến điện tử của nước này.

Ra đời từ tình thế khẩn cấp và trở thành máy bay mạnh nhất thế giới

Việc đưa máy bay tác chiến điện tử vào tác chiến tương đương với việc thiết lập một "hàng rào" vô hình trong một vùng trời nhất định, vừa làm triệt tiêu một số tín hiệu của đối phương vừa đảm bảo thông suốt liên lạc của chính mình.

Tu-16P của Liên Xô là máy bay tác chiến điện tử được chế tạo trên cơ sở máy bay Tu-16. Năm 1993, chiếc Tu-16P mà Nga thừa kế từ Liên Xô đã ngừng hoạt động. Kể từ đó, lực lượng hàng không đặc biệt của Nga đã không có sẵn máy bay tác chiến điện tử phù hợp.

Mặc dù máy bay tác chiến điện tử An-12BK-IS được chế tạo từ những năm 1970 vẫn còn trong biên chế nhưng nó không có khả năng chế áp radar tần số biến thiên của đối phương, điều này làm giảm đáng kể khả năng sống sót trên chiến trường của máy bay chiến đấu Nga.

Năm 2009, Viện thiết kế thử nghiệm mang tên V. M. Myasishchev nằm ở ngoại ô Moscow, bắt đầu cải tiến ba chiếc máy bay Il-22, biến chúng thành máy bay được trang bị hệ thống tác chiến điện tử.

Năm 2011, máy bay Il-22 được trang bị hệ thống tác chiến điện tử mới đã được bay thử nghiệm. Năm năm sau, máy bay tác chiến điện tử Il-22PP Porubshchik mới được đưa vào biên chế trong Lực lượng Hàng không Vũ trụ Nga.

Các thông số kỹ thuật cơ bản của máy bay tác chiến điện tử này là: tốc độ tối đa 675 km/h, trần bay 6.000-7.000 mét, tầm bay tối đa 6.500 km, hoạt động liên tục 12 giờ.

Porubshchik có phạm vi gây nhiễu tương đối rộng. Máy bay cảnh báo sớm tầm xa, máy bay chỉ huy trên không, máy bay trinh sát, máy bay chiến đấu, hệ thống phòng không mặt đất (radar), trung tâm liên lạc và thậm chí cả hệ thống vũ khí của đối phương, miễn là chúng sử dụng các mô-đun chức năng vô tuyến, đều nằm trong phạm vi gây nhiễu của Porubshchik.

Cùng với đó, máy bay tác chiến điện tử Porubshchik sẽ không vô tình làm bị thương hệ thống thông tin điện tử của chính mình. Trước khi thực hiện gây nhiễu, máy bay có thể xác định tần số điện từ nào là của đối phương và tần số nào là của mình thông qua quét điện tử có độ chính xác cao và gây nhiễu có chọn lọc tần số hoạt động.

Porubshchik có thể được coi là một trong những máy bay tác chiến điện tử mạnh nhất trên thế giới, nó có thể chế áp nhất định các radar tìm kiếm đường không, radar dẫn đường tên lửa đất đối không của đối phương và các tên lửa hành trình trong giai đoạn giữa hay các kênh sửa đổi, liên kết dữ liệu chiến thuật thường được sử dụng bởi quân đội Mỹ và các đồng minh NATO.

Lực lượng Không quân Nga tuyên bố rằng khả năng sống sót trên chiến trường của các máy bay chiến đấu thuộc Lực lượng Không quân Nga đã tăng gấp đôi do việc sử dụng máy bay tác chiến điện tử Porubshchik.

Kịp thời thúc đẩy chuyển đổi và nâng cấp

Sự phát triển của công nghệ tác chiến điện tử và sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tác chiến điện tử đã liên tục gia tăng, làm cho các thiết bị tác chiến điện tử không ngừng được nâng cấp.

Trên thực tế, khi máy bay tác chiến điện tử Il-22PP Porubshchik được chuyển giao sử dụng vào năm 2016, Quân đội Nga đã bắt đầu phát triển máy bay tác chiến điện tử Porubshchik-2.

Hệ thống máy bay tác chiến điện tử chủ yếu được tạo thành từ hệ thống tác chiến điện tử và máy bay. Hệ thống tác chiến điện tử lớn mà máy bay tác chiến điện tử cần mang theo thường nặng khoảng 20 tấn, cộng với phi hành đoàn khoảng 20 người và các phương tiện sinh hoạt cơ bản, nên đa số thường sử dụng máy bay chở khách lớn để có thể đáp ứng điều kiện tốt nhất.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Nga đã không phát triển máy bay chở khách cỡ lớn mới. Do đó, nền tảng cho máy bay tác chiến điện tử Porubshchik-2 vẫn chỉ có thể được lựa chọn trong số các nền tảng trên không hiện có.

Trên phương diện nâng cấp hệ thống tác chiến điện tử, một cải tiến quan trọng của máy bay tác chiến điện tử Porubshchik-2 được cho là tăng chức năng gây nhiễu vệ tinh quân sự của đối phương.

Một người trong ngành của tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga cho biết: “Việc nghiên cứu và phát triển thiết bị gây nhiễu mới đang được tiến hành. Thiết bị gây nhiễu mới sẽ là một thiết bị hoàn toàn mới có thể gây nhiễu điện tử và chế áp bất kỳ mục tiêu nào trên bộ, trên biển hoặc trên không. Một trong những chức năng quan trọng của nó là chế áp các vệ tinh dẫn đường và liên lạc trên mặt đất của đối phương với cường độ cao".

Xu hướng mới trong phát triển tác chiến điện tử

Xu hướng thông minh hóa công nghệ và quân sự hóa không gian đang ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của chiến tranh điện tử. Từ máy bay tác chiến điện tử Porubshchik đến chuyển đổi và nâng cấp máy bay tác chiến điện tử Porubshchik-2, có thể thấy một số xu hướng phát triển của tác chiến điện tử:

Một là phát triển tác chiến điện tử theo hướng tích hợp trên không và vũ trụ. Năm 2018, Chính phủ Mỹ đã quyết định tách Bộ Tư lệnh Không gian khỏi Không quân Mỹ và trở thành Bộ chỉ huy cấp một. Đây là một động thái quan trọng của Mỹ nhằm thúc đẩy quá trình quân sự hóa không gian.

Sau đó, Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản đã thành lập lực lượng vũ trụ đầu tiên “Đội tác chiến không gian”. Vương quốc Anh cũng đã kích hoạt Bộ Tư lệnh Không gian, đẩy nhanh tốc độ xây dựng lực lượng quân sự trong không gian.

Trong bối cảnh đó, việc phát triển máy bay tác chiến điện tử Porubshchik-2 rất có thể là biện pháp phòng ngừa, có tính đến mối đe dọa từ sự tích hợp không gian và vũ trụ, đồng thời gia tăng khả năng gây nhiễu điện tử đối với các vệ tinh dẫn đường và liên lạc trên mặt đất.

Thứ hai, vai trò của máy bay tác chiến điện tử quan trọng hơn. Dưới sự ngăn chặn chiến lược của các nước phương Tây đứng đầu là Mỹ, Nga đã quyết định phát triển một loại hệ thống máy bay tác chiến điện tử mới, điều này chứng tỏ đầy đủ vị thế và vai trò quan trọng của máy bay tác chiến điện tử với tư cách là một loại máy bay chiến lược.

Thứ ba là tác chiến điện tử sẽ phát triển theo hướng tình báo. Nga là một quốc gia hùng mạnh về tác chiến điện tử và chú trọng sử dụng tác chiến điện tử vào thực chiến. Trong cuộc chiến Chechnya, xung đột giữa Nga và Gruzia, các hoạt động quân sự ở Syria hay cuộc đối đầu với NATO, Nga đã rất coi trọng vai trò của tác chiến điện tử và hiệu quả đã thấy rõ.

Có thể thấy rằng, với việc ứng dụng sâu rộng công nghệ thông minh vào các hệ thống tác chiến điện tử, trình độ thông minh của tác chiến điện tử sẽ còn tăng cao hơn nữa. st/5147

Hình tượng tiêu biểu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng

 

Hình tượng tiêu biểu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng

MẸ THỨ-9 LẦN NHẬN GIẤY BÁO TỬ CỦA CÁC CON TRAI

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ (SN 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ mẹ SN 1902) tại xóm Rừng (thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam), Mẹ mất ngày 10-12-2010 tại TP.Đà Nẵng, đại thọ 106 tuổi. Mẹ Thứ với 14 lần tiễn con cháu ra chiến trường thì 12 người không về là hình tượng tiêu biểu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. st/5147

“RÁC CHÍNH TRỊ” CHỈ CÓ XUẤT CHỨ KHÔNG NHẬP LẠI!

 

“RÁC CHÍNH TRỊ” CHỈ CÓ XUẤT CHỨ KHÔNG NHẬP LẠI!

-----------------------

Xem video của luật sư Hoàng Duy Hùng trên Phố Bossa tivi, nói về "Mụ Nấm" Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Quỳnh than thở rằng: nếu có cơ hội chọn lựa, Quỳnh sẽ xin được ở lại Việt Nam.

Cho sáng mắt ra, kiếm được miếng ăn ở xứ người đâu có dễ, bày đặt đấu tranh nhân quyền. Ai cho về mà về!?

Luật sư Hoàng Duy Hùng khuyên cũng có lý, thôi thì cứ chịu khó kiếm việc làm, cạo móng, làm neo gì đó, kiếm cơm nuôi mẹ già với 2 đứa con, xong rồi lúc nào về già chống gậy như mấy cụ ở bển… đấu tranh…

Chính sách của Việt Nam nếu bị trục xuất hoặc tước quốc tịch thì làm gì có cửa trở về. Cứ chịu khó làm ăn, rồi hẵng nghĩ những cái chuyện xa xôi.

Kết cục chả tốt đẹp gì cho những kẻ như Quỳnh, vậy mà ở trong nước vẫn có kẻ nuôi mộng ảo tưởng. Gần đây nhất là có một số đang tiếp tục vào "kho" muốn trở thành tù nhân lương tâm, hay nói cách khác là muốn trở thành một loại rác thải chính trị của Việt Nam, xuất khẩu bằng đường chính ngạch qua bên bển.

Một kết cục mà không phải kẻ lạc loài nào cũng nhìn thấy trước, và khi Việt Nam đã xuất khẩu "rác chính trị" thì sẽ không cho nhập lại, vì rác này làm dơ bẩn đất nước. st/5147

Tính tiên phong của đảng cộng sản

Là một nhà bác học lỗi lạc nhưng trước hết C.Mác là một nhà cách mạng vĩ đại. Một trong những cống hiến lớn lao của C.Mác đối với nhân loại là góp phần nâng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và mọi tầng lớp cần lao chống áp bức, bóc lột, bất công và tàn bạo từ trình độ tự phát lên tự giác mà người dẫn dắt cuộc đấu tranh đó là đảng cộng sản, bộ phận ưu tú, đội tiên phong của chính họ. C.Mác phân biệt rõ đội tiên phong của giai cấp vô sản và mọi tầng lớp lao động cần lao với toàn thể giai cấp vô sản. Ông đã chỉ ra tính tất yếu khách quan xuất hiện đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp vô sản, đồng thời ông cũng chỉ rõ những điều kiện cần và đủ để đảng cộng sản có thể làm tròn nhiệm vụ của đảng tiên phong. Theo C.Mác, hai điều kiện đó là có “đầu não” và “trái tim”. “Đầu não” là trí tuệ, là triết học (phép biện chứng duy vật, sau này V.I.Lê-nin gọi là chủ nghĩa duy vật chiến đấu). “Trái tim” là nhiệt tình sôi nổi, hăng hái, dũng cảm, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, bất công, tàn bạo; là lương tâm và trách nhiệm đối với quần chúng cần lao; là yêu thương con người và chống lại tất cả những cái xấu xa, mất nhân tính. Giai cấp vô sản đấu tranh để giải phóng mình, đồng thời giải phóng cho mọi tầng lớp xã hội, do đó nó phải tiến hành một cuộc cách mạng triệt để, mà theo C.Mác “triệt để có nghĩa là xét sự vật đến tận gốc rễ của nó. Nhưng gốc rễ đối với con người chính là bản thân con người”(1). Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động về bản chất là cuộc đấu tranh giải phóng triệt để con người mà lực lượng dẫn đầu phải là một tổ chức vững mạnh gồm những con người kết hợp được cả “đầu não” và “trái tim”. “Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản”(2). Sự hăng hái nhiệt tình của “trái tim” cần phải được dẫn dắt bởi “đầu não” điềm tĩnh, sáng suốt, nếu không sự nhiệt tình ấy chỉ dẫn phong trào bùng lên một cách tự phát, hỗn loạn và thất bại. Chính vì thế, C.Mác đã khẳng định cuộc đấu tranh, phê phán xã hội cũ, xây dựng xã hội mới “không phải là nhiệt tình của đầu óc mà là đầu óc của nhiệt tình”. Theo cách hiểu của người phương Đông, nhiệt tình mà thiếu hiểu biết, chỉ là “hữu dũng vô mưu”, hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó chỉ như người mò mẫm trong đêm tối không có đèn, không có đuốc hoặc như con tàu đi giữa biển rộng, bão giông mà không có la bàn. Sự kết hợp giữa lý luận tiên tiến (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) với những người tiên tiến trong phong trào công nhân đã dẫn đến sự ra đời của đảng cộng sản. Đảng cộng sản mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học, tiên phong về lý luận chính trị và tiên phong về tinh thần, tình cảm và hành động cách mạng, tiên phong trong đạo đức và tư cách làm người, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Thiếu một trong hai tính tiên phong đó (đầu não và trái tim), đảng cộng sản không còn là đảng tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc nữa. Không có lý luận tiên phong thì không thể làm tròn nhiệm vụ của đảng tiên phong. Đảng nếu không bao gồm những đảng viên đi tiên phong, gương mẫu trong đạo đức và hành động cách mạng thì đảng cũng chỉ còn là một tổ chức lạc hậu, nói suông và lừa phỉnh (chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bác Hồ thường nói một cách giản dị dễ hiểu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” là muốn nhấn mạnh tính tiên phong của người cộng sản. Dường như tiên lượng được về bệnh giáo điều, hủ lậu có thể xảy ra với lớp hậu sinh, C.Mác đã nhiều lần nhấn mạnh, lý luận của C.Mác và bạn ông là Ph.Ăng-ghen, không phải là những công thức cứng đờ, càng không phải là những lời giải đáp có sẵn cho mọi vấn đề, mọi hoàn cảnh, mọi không gian và thời gian khác nhau mà ngược lại, các ông chỉ đặt những viên gạch đầu tiên cho “lâu đài” lý luận cách mạng mà các thế hệ kế tiếp phải ra sức bổ sung, phát triển. Chính V.I.Lê-nin và Hồ Chí Minh là những nhà cách mạng sáng tạo, thấm nhuần tinh thần của Chủ nghĩa Mác, coi linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật, còn Hồ Chí Minh đã hành xử trong mọi tình huống với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Lịch sử ra đời và phát triển của nhiều đảng cộng sản trên thế giới cho tới nay đã thể hiện rõ sự kết hợp biện chứng giữa “đầu não” và “trái tim”, làm nên tính tiên phong của một đảng chân chính cách mạng: Thời kỳ C.Mác còn sống: Đảng là sự kết hợp triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng) với phong trào công nhân. Sau khi C.Mác qua đời, với V.I.Lê-nin và Quốc tế III: Đảng là sự kết hợp Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Sau khi V.I.Lê-nin qua đời, những người cộng sản chân chính đánh giá đúng vai trò, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Đảng là sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ là một người học trò kiệt xuất của C.Mác và V.I.Lê-nin, trung thành, sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn Việt Nam, đưa ra và thực hành kết hợp nhuần nhuyễn điển hình: Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, khẳng định sự đóng góp lớn lao của Người đối với việc vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng và cách mạng thế giới nói chung, Đảng ta đã ra nghị quyết nêu rõ Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Đảng luôn luôn là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng đã “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc...”(3). 92 năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời nhận sứ mệnh lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, mặc dù có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, rơi vào chủ quan duy ý chí, chưa nắm được quy luật khách quan... nhưng xuyên suốt lịch sử lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, về cơ bản luôn giữ được vai trò là đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc, tiên phong trong lý luận cách mạng, chủ trương, đường lối, quyết sách chính trị, chỉ đạo chiến lược, biết tự vượt qua chính mình, tiếp tục tiên phong, gương mẫu trong hành động cách mạng, hy sinh anh dũng vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Có thể nói vắn tắt rằng: Tính tiên phong về mặt lý luận của Đảng ta là trung thành và sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; là chống mọi biểu hiện của tư tưởng bảo thủ, giáo điều, hữu khuynh và tả khuynh, kịp thời đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nhận ra sai lầm, khuyết điểm; không che giấu và thành thật sửa chữa, biết làm theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương. ... Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không. ... Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng... ... Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”(4). Tính tiên phong về hành động của Đảng ta thể hiện rất rõ ở lòng trung thành với lý tưởng cách mạng: Vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân. Biết bao đồng chí đã đi tiên phong trong mọi nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc. Tính tiên phong của Đảng thể hiện ở đức hy sinh và lòng dũng cảm. Hy sinh vì Tổ quốc và dân tộc. Dũng cảm chống lại kẻ thù ngoại xâm và nội xâm là bọn đế quốc thực dân, là chủ nghĩa cá nhân mà những biểu hiện của nó là tệ quan liêu, tham ô, lãng phí, tranh giành quyền lực, xa hoa, hưởng thụ một cách vô liêm sỉ… Tính tiên phong của Đảng đối với giai cấp và dân tộc là một yêu cầu ngày càng không ngừng nâng cao, không bao giờ được suy giảm nếu Đảng còn giữ vững vai trò là người lãnh đạo duy nhất của Nhân dân. Nhưng nội dung của tính tiên phong ở mỗi thời kỳ rất khác nhau. Ở thời chiến là mưu lược để dám đánh, biết đánh và biết cách giành thắng lợi, là dũng cảm chịu đựng gian khổ, hy sinh quên mình để giành cho được độc lập, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước là chiến lược, sách lược tranh thủ thời cơ, phòng tránh nguy cơ để lái con thuyền cách mạng đi đúng giữa dòng thời đại đang không ngừng phát triển, đưa nhân dân sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Ta vẫn mãi mãi là Ta: Nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh, hiện đại, thái bình, thịnh vượng, nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc bền vững. Thời nào cũng có kẻ thù bên ngoài và bên trong. Thời nào cũng đều có giặc ngoại xâm dưới hình thức này hay hình thức khác và luôn luôn bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trong mỗi con người đều tiềm ẩn giặc nội xâm. Nội xâm lúc này là tệ si mê quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, là chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, học hàm, học vị và cả chạy tội nữa; là lợi dụng mọi sơ hở của cơ chế, chính sách, là lạm quyền, là thói vô trách nhiệm, là ô dù che chắn, là quan liêu, khinh thường kỷ cương, phép nước, là cơ hội, tham nhũng, lãng phí, là ăn chơi sa đọa, là thói vô cảm trước vất vả, thiếu thốn, khó khăn của đồng bào, đồng chí. Nội xâm len lỏi vào trong Đảng và Nhà nước, vào từng ngõ ngách xóm thôn, phố phường, cơ quan, công sở, từng gia đình, mọi tầng lớp và đến cả những người được đào tạo có bằng cấp, học vị, học hàm, được giao chức trọng, quyền cao… Vì vậy, tính tiên phong của Đảng lúc này là phải có dũng khí, có bản lĩnh để dám trừ giặc nội xâm ở ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên. Tính tiên phong lúc này là sáng suốt trong các quyết sách chính trị, trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước của toàn dân tộc, đặc biệt là làm tốt công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, thực hiện đúng đắn chính sách dùng người. Tính tiên phong lúc này là dũng khí đấu tranh với đồng chí, đồng cấp, với cả cấp trên và cấp dưới vi phạm kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trừ diệt mọi thói hư, tật xấu và tội lỗi. Tính tiên phong lúc này là làm trong sạch đội ngũ, là giáo dục, thuyết phục và trừng phạt công khai, công minh, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng với những quyết nghị làm sáng lên niềm tin và hy vọng của mọi người dân Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Niềm tin và hy vọng ấy đang đặt lên vai những người vinh dự được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Vinh dự càng cao, trách nhiệm càng lớn. Trách nhiệm và vinh dự của những chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân, trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc của xã hội. C.Mác vĩ đại đã dạy chúng ta rằng: “Hạnh phúc xã hội sản sinh ra lý trí chính trị”(5). Và đến lượt nó, lý trí chính trị Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang đòi hỏi phải nâng cao chất lượng “đầu não” và “trái tim” của mỗi chúng ta. Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng

Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích một cách khoa học những tiền đề, những điều kiện khách quan cho sự ra đời một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và khẳng định chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, là một quy luật tất yếu trong sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một xã hội ưu việt so với các chế độ xã hội trước đó. Đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong hệ tư tưởng và các hoạt động cả về lý luận và thực tiễn của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, chúng ta đã và đang gặp nhiều thách thức, trong đó có những quan điểm xuyên tạc, chống phá về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no hoà bình, hạnh phúc. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường tất yếu ấy. Tiếp tục khẳng định và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển) đã khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”1. Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua đã cho thấy con đường kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu khách quan của dân tộc, là chân lý, là động lực xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn và khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930, được bổ sung, phát triển qua 13 kỳ Đại hội và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán, trong hành trình đi tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Để kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, Đảng ta không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn phải có trí tuệ; dám đổi mới và biết đổi mới. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn gian khổ với một xuất phát điểm thấp, lại phải trải qua 2 cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp chưa có tiền lệ trong lịch sử, lại diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng và thoái trào nên càng khó khăn. Đây là quá trình vừa học, vừa làm, vừa tổng kết, vừa rút kinh nghiệm, khái quát thành lý luận trên cơ sở lấy thực tiễn làm chân lý. Chính trong quá trình đó, Đảng ta từng bước hình thành những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, từng bước khắc phục những quan điểm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ về chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động và cơ hội chính trị, phê phán bệnh bảo thủ, giáo điều và những sai lầm tả hoặc hữu khuynh. Chủ thể của những tư tưởng phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, gồm có hai loại chính: Trước tiên là các lực lượng của chủ nghĩa đế quốc, những thế lực đang ráo riết triển khai chiến lược diễn biến hòa bình, những phần tử lưu vong phản động. Đây là những kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa xã hội, cần kiên quyết đấu tranh. Thứ hai là, những người nhẹ dạ, non yếu về bản lĩnh chính trị, cả tin, cơ hội và hùa theo những luận điệu sai trái. Họ đã sai lầm khi nghi ngờ, công kích con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vô hình chung tạo ra những điểm nóng trong dư luận chính trị xã hội, ảnh hưởng không tốt đến lòng tin và đồng thuận xã hội. Việc phân định rõ các đối tượng trên đã góp phần tăng hiệu quả của cuộc đấu tranh chống những quan điểm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Công an, trên thế giới hiện có khoảng 300 tổ chức phản động người Việt lưu vong và hàng chục cơ quan đặc biệt, các tổ chức nước ngoài có hoạt động chống phá Việt Nam. Các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước thù địch với chế độ ta, các đài, báo, tạp chí như: BBC, AFP, Châu Á tự do,… các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Quốc hận… Các thế lực thù địch đã tận dụng công cụ thông tin hiện đại - mạng internet để truyền bá các quan điểm sai trái, hành động chống phá chế độ ta với mức độ ngày càng quyết liệt. Có thể khái quát một số quan điểm thù địch trực tiếp và gián tiếp chống lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện ở số vấn đề sau đây: Thứ nhất, xuyên tạc bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô, Đông Âu sụp đổ, một số cán bộ, đảng viên bi quan, hoang mang, dao động, niềm tin suy giảm, có những cán bộ cấp cao của Đảng mắc sai lầm về quan điểm thậm chí quay ngược lại, cá biệt có người từ bỏ lý tưởng, ý thức hệ, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó nhiều người trong số họ tham gia vào các hoạt động trái với quy định của Đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để hoạt động dưới danh nghĩa các “tổ chức” thể hiện là người “cách tân”, là “xu hướng mới” để phê phán đường lối đổi mới của Đảng, Một số cán bộ, đảng viên đã từng giữ những cương vị, trọng trách trong lãnh đạo, quản lý, hoặc là những trí thức có uy tín khoa học nhưng lại tham gia vào các nhóm ký tên, gửi “ kiến nghị” trong đó có nhiều vấn đề trái với nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tạo dư luận xấu trong xã hội. Gần đây, khi góp ý cho dự thảo Báo cáo chính trị trình các kỳ Đại hội, nhất là chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng, trong Đảng và xã hội vẫn có những người băn khoăn, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Họ cho rằng làm thế nào vượt qua được những thách thức nghiệt ngã và bảo vệ được thành quả cách mạng, liệu Đảng có thể tự bảo vệ mình để lãnh đạo Nhân dân ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc? Các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội đã vu cáo rằng: “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”2. Các lực lượng chống cộng, cơ hội chính trị thì thừa cơ ra mặt xuyên tạc, chống phá, họ tuyên truyền và kích động đổi mới phải là đổi hướng, phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, đòi đa nguyên, đa đảng. Họ cố tình quy kết một cách sai trái những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội là do chủ nghĩa Mác-Lênin, do Đảng Cộng sản, do định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ý kiến khác cho rằng không cần phải định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ cần dân giàu, nước mạnh là được. Thứ hai, xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do không nhận thức được tính khó khăn, phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà nhiều người đã dao động, mất lòng tin, cho rằng chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đổ cả trên bình diện lý luận và thực tiễn. Nhiều lý luận gia phương Tây cũng đã rêu rao rằng chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, chủ nghĩa tư bản đã toàn thắng. Hoặc chủ nghĩa xã hội do nảy sinh trên một mảnh đất hoang nên đã sụp đổ, thế kỷ XX là thế kỷ chứng kiến sự ra đời và cả hồi kết của chủ nghĩa cộng sản. Lại có những ý kiến cho rằng, tán thành định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng trong thực tế lại coi nhẹ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, họ muốn tất cả nền kinh tế cho bàn tay vô hình của kinh tế thị trường. Thực chất, đó là sự hướng tới chủ nghĩa tự do mới vốn đang thịnh hành ở phương Tây. Đã có rất nhiều các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thứ ba, các thế lực thù địch là tìm mọi cách xuyên tạc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Mỗi khi Đảng ta tiến hành Đại hội toàn quốc bàn việc nước, việc dân, việc Đảng thì những phần tử cơ hội, chống đối, được sự tiếp tay, giật dây của các thế lực thù địch ở bên ngoài, trắng trợn đòi Đảng ta, Nhân dân ta nên từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số phe, nhóm cố tình khai thác, khoét sâu vào những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo… ở vùng dân tộc thiểu số để mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu gây mất ổn định an ninh trật tự và an toàn xã hội trên những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Các thế lực phản động ở trong và ngoài nước ra sức chống phá và chờ thời cơ thực hiện hành động lật đổ. Lực lượng thù địch lưu vong ra sách báo, lập đài phát thanh chống cộng, thực hiện chiến dịch “chuyển lửa về quê hương”, hy vọng “diễn biến hòa bình”, can thiệp, bạo loạn diễn ra ở Việt Nam. Chúng đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp, với các thủ đoạn chia rẽ Đảng với Nhân dân; lôi kéo kích động, tách Nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền...; kích động luận điệu xuyên tạc về “phe phái trong Đảng”, rằng nhà nước, xã hội cần nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất, đó là ý đồ muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản và dần dần lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc. Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua là bằng chứng sống động bác bỏ những toan tính của các phần tử chống đối, thù địch muốn Đảng và dân tộc ta từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chia rẽ sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới chính là đem lại nhiều giá trị của chủ nghĩa xã hội trong các lĩnh vực cho sự phát triển bền vững, cho từng con người. Vượt qua thách thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”3. Trong tiến trình đổi mới, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước được hình thành, bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Điều đó, được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, được bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh đã khái quát những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Nhân dân ta xây dựng, chỉ ra những phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội và những vấn đề lớn (những mối quan hệ biện chứng) cần phải nắm vững và giải quyết tốt. Văn kiện các kỳ Ðại hội Ðảng toàn quốc trong thời kỳ đổi mới đều bổ sung những nhận thức mới làm cho lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Vì vậy, Văn kiện Ðại hội XIII nhận định: "Tư duy lý luận của Ðảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển"4. Chúng ta tin tưởng rằng, Ðại hội XIII của Ðảng với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng tạo được thể hiện trong 12 định hướng, các mục tiêu phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược sẽ đưa đất nước phát triển lên một giai đoạn mới trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Do vậy, trong thời gian tới để nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm phản diện sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Kiên định mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành vũ khí lý luận sắc bén, luôn là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng ta. Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng đã nêu rõ: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Ðảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"5. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Ðảng. Nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận trên cơ sở đúc kết thực tiễn, vận dụng có phê phán, có sáng tạo, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ, lạc hậu và sai lầm trong nhận thức và hành động. Phải tôn trọng quy luật khách quan, coi sự phát triển của thực tiễn là yêu cầu, là cơ sở để đổi mới tư duy lý luận, đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ thực tiễn. Ðể dân tin, dân ủng hộ, dân tích cực thực hiện đường lối đổi mới, Ðảng, Nhà nước phải giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra; kịp thời điều chỉnh, bổ sung các thể chế, thiết chế, cơ chế, chính sách không còn phù hợp, cản trở phát triển. Chú trọng công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức và trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý cấp chiến lược. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trang bị, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động kiến thức lý luận, góp phần khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao trách nhiệm và bản lĩnh trong việc bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có giải pháp tích cực, cụ thể trong xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, quan tâm đến việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện. Cần phải có sự kết hợp giữa sự giáo dục nghiêm túc của Đảng với tự tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí rất nguy hiểm, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực thù địch phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái và thù địch. Cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình, xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Cần nhận diện từ sớm, chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, góp phần vô hiệu hóa sự tác động, ảnh hưởng của các quan điểm thù địch, độc hại. Tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền và giáo dục để tất cả cán bộ, đảng viên và toàn thể quần chúng nhân dân kịp thời phát hiện, nhận rõ bản chất của những âm mưu, thủ đoạn, cùng những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động trong tình hình hiện nay. Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lãng phí, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tình trạng tham nhũng, lãng phí, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang là một trong bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra và đang quyết liệt đấu tranh, ngăn chặn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, phải “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước... có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với Nhân dân”6. Thường xuyên chăm lo công tác cán bộ và huấn luyện cán bộ. Làm tốt hơn nữa công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và ngang tầm nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đó là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, và của toàn bộ hệ thống chính trị. Chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, hoặc bao che, dung túng, tiếp tay can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế khuyến khích và bảo vệ tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiện nay./. Nguồn: Báo Mặt trận Chú thích:

Xây dựng các đơn vị báo chí Học viện phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

 - Lời giới thiệu: Trong không khí toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng linh hoạt, an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, đồng thời, trong không khí toàn hệ thống Học viện đang nỗ lực triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm 2022 theo tinh thần “trọng tâm, trách nhiệm, kỷ cương, nêu gương, sáng tạo”, Liên Chi hội Nhà báo Học viện tổ chức Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2021-2025. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng đăng bài phát biểu của GS, TS NGUYỄN XUÂN THẮNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương tại Đại hội. Tiêu đề do Ban Biên tập đặt.

Xây dựng các đơn vị báo chí Học viện phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng tặng hoa chúc mừng Ban Chấp hành Liên Chi hội nhà báo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khóa I - Ảnh: LLCT

Với vai trò là trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước; trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị, tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, Học viện có 12 cơ quan tạp chí, 06 bản tin và các cổng thông tin, trang tin điện tử. Đồng thời, Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cơ sở đào tạo đại học trọng điểm quốc gia về chuyên ngành báo chí, truyền thông. Có thể nói, hệ thống cơ quan báo chí của Học viện khá hùng hậu, và có những đặc thù so với các Liên Chi hội Nhà báo khác trong cả nước.

Nhằm kiện toàn bộ máy và tổ chức hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, bảo đảm yêu cầu quản lý hệ thống, sau nhiều năm chuẩn bị dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, Liên Chi hội Nhà báo Học viện đã được thành lập và ra mắt vào dịp Kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-2021). Sự ra đời của Liên Chi hội Nhà báo Học viện là một dấu mốc phát triển quan trọng của đội ngũ những người làm báo, tạp chí của hệ thống Học viện, tạo điều kiện cho các hội viên - cán bộ, biên tập viên các tạp chí, bản tin, giảng viên cơ sở đào tạo báo chí trong toàn hệ thống Học viện có môi trường và điều kiện được trao đổi chuyên môn, giao lưu, học hỏi, trau dồi đạo đức, phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời, Liên Chi hội còn là cơ sở chính trị quan trọng để Đảng ủy Học viện thực hiện tốt Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 08-4-2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới. 

Đại hội lần thứ nhất của Liên Chi hội Nhà báo Học viện là dịp để nhìn lại vai trò và kết quả hoạt động của Liên Chi hội kể từ sau khi thành lập và điều quan trọng hơn là dịp để nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của Liên Chi hội nhà báo Học viện với công tác báo chí của Học viện và trong nền báo chí quốc gia; là dịp để chúng ta cùng nhìn nhận đúng đắn hơn về nhiệm vụ chính trị của các cơ quan báo chí; động viên và đề cao trách nhiệm của đội ngũ người làm báo Học viện thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần vào thắng lợi chung của đất nước trên các mặt trận, thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của Học viện được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 

Việc chỉ đạo thành lập Liên Chi hội Nhà báo Học viện, một nội dung nhiệm vụ quan trọng của Đề án sắp xếp, phát triển báo chí của Học viện đến năm 2025, tầm nhìn 2030, thể hiện sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Lãnh đạo Học viện, các cấp ủy đảng, lãnh đạo các đơn vị trong toàn Học viện đối với công tác báo chí và yêu cầu phát huy vai trò quan trọng của báo chí trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, tham mưu, tư vấn hoạch định đường lối, chính sách cho Đảng, Nhà nước.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, các tạp chí, bản tin, trang tin điện tử của hệ thống Học viện đã hoạt động trong điều kiện khó khăn. Tuy nhiên, với tinh thần trách nhiệm, sự chung sức đồng lòng của đội ngũ những người làm báo đối với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học của Học viện, công tác báo chí của Học viện đã đạt được nhiều kết quả nổi bật: 

Thứ nhất, các tạp chí, bản tin, cổng thông tin, trang tin điện tử trong hệ thống Học viện luôn hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và định hướng của Học viện. Chú trọng nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; công bố các kết quả nghiên cứu phong phú của Học viện và của giới nghiên cứu lý luận chính trị trong cả nước, góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. 

Thứ hai, đồng hành cùng quá trình xây dựng và phát triển của Học viện, diện mạo báo chí của Học viện đã có nhiều khởi sắc, nhiều nét mới mang tính tích cực. Một số tạp chí đã khẳng định vị trí, vai trò báo chí thuộc cơ quan lý luận của Đảng, giữ vững vị thế, uy tín khoa học quốc gia. 

Một số tạp chí đã xuất bản tạp chí tiếng Anh, tạp chí điện tử, các số phụ trương, số chuyên đề đến với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Nhiều bài viết, nhiều chuyên mục chất lượng, phản ánh sinh động đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, thành tựu mọi mặt của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. 

Các tạp chí, trang tin tích cực công bố, góp phần đưa những kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện vào thực tiễn, phục vụ hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tham mưu, tư vấn hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Học viện trong nước và quốc tế.

Thứ ba, trong năm qua, hầu hết các tạp chí đã xây dựng được các chuyên mục, chuyên đề nghiên cứu có ý nghĩa, như: đưa “Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống”, “Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, Học viện Trung tâm có trang vietnamthinhvuong.com trên môi trường mạng; Học viện Chính trị khu vực II có blog “Sáng mãi niềm tin”, Học viện Chính trị khu vực III có fanpage “Những ngọn lửa nhỏ”,... 

Thứ tư, tổ chức - bộ máy và đội ngũ cán bộ các tạp chí, hội đồng biên tập đã cơ bản được kiện toàn. Đội ngũ cán bộ, hội viên các Chi hội Nhà báo phần lớn đều có học vị, học hàm, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn cao, luôn vững vàng trên trận địa tư tưởng - lý luận, yêu nghề, nhiệt tình trong công việc, nỗ lực khắc phục khó khăn để thực hiện nhiệm vụ. 

Thứ năm, công tác đào tạo chuyên ngành báo chí, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác báo chí đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp; đã tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng gắn học với thực hành, chú trọng cả số lượng và chất lượng, đồng bộ kiến thức, kỹ năng và đạo đức làm báo; nghiêm túc thực hiện các quy chế, quy định theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo bước tiến trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực báo chí chất lượng cao. 

Trong những kết quả đạt được đó, có sự đóng góp tích cực của các đồng chí hội viên Liên Chi hội Nhà báo Học viện. 

Bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác báo chí và hoạt động của Liên Chi hội Nhà báo Học viện cũng còn nhiều hạn chế, tồn tại cần được thẳng thắn chỉ ra để tìm phương hướng và giải pháp khắc phục, trong đó có những vấn đề nổi bật cần quan tâm: 

Một là, nhận thức về công tác tổ chức Liên Chi hội chưa đầy đủ và thống nhất. Có nơi, có lúc do dự, lừng chừng và chưa sẵn sàng. Theo đó, công tác chuẩn bị thành lập tổ chức hội và phát triển hội viên thời gian qua còn nhiều hạn chế. Hệ thống tạp chí, bản tin, cổng thông tin điện tử Học viện khá lớn, với 12 tạp chí, 06 bản tin nhưng mới có 06 chi hội ở cơ quan báo chí (và 02 chi hội ở đơn vị nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành báo chí). Hệ thống cơ quan báo chí, đội ngũ những người làm báo đông đảo nhưng chưa có Liên Chi hội. Sau nhiều năm chỉ đạo, phải đến tháng 6-2021 mới thành lập được Liên Chi hội và đến nay lần đầu tiên tổ chức Đại hội của những người làm báo toàn Học viện.

Các chi hội nhà báo trong hệ thống còn hoạt động rời rạc, thiếu tính thống nhất, gắn kết, phối hợp trong triển khai công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Mối quan hệ giữa Chi hội và lãnh đạo chuyên môn các tạp chí chưa chặt chẽ, chưa có quy chế làm việc, vai trò của tổ chức hội còn mờ nhạt, chưa có nhiều đóng góp vào hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, chuyên môn báo chí, chia sẻ kinh nghiệm công tác phát hành và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác báo chí. 

Hai là, nhiều hội viên của các chi hội còn chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí, xuất bản, ít kinh nghiệm trong công tác biên tập, trị sự và quản lý tòa soạn, đặc biệt là tòa soạn trong thời đại số hiện nay. Cán bộ làm công tác báo chí, bản tin hầu hết là cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên viên làm việc kiêm nhiệm, nên chưa dành thời gian thỏa đáng và công sức cần thiết để phát triển hoạt động nghiệp vụ báo chí. 

Ba là, các đơn vị báo chí chưa xây dựng được các quy định về quy chuẩn biên tập; chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng và thực hiện các quy chuẩn tạp chí khoa học quốc tế, quy trình xuất bản trực tuyến, phản biện bài viết, thể thức trình bày bài báo khoa học,... Chưa có tạp chí nào tham gia được vào các hệ thống trích dẫn, danh mục trích dẫn khoa học quốc tế. 

Việc thực hiện đa dạng loại hình và chuyển đổi số báo chí còn chậm. Hiện mới chỉ có 03 tạp chí thực hiện 02 loại hình cả tạp chí in và điện tử; 05 tạp chí xuất bản ấn phẩm tiếng Anh, trong đó có tạp chí tiếng Anh chưa xuất bản đều kỳ. Chưa có tạp chí được số hóa hoàn toàn, chưa có toà soạn số với việc áp dụng số hoá quản trị hệ thống, biên tập, duyệt bài, thiết kế trình bày, đo lường nhu cầu công chúng; chưa xây dựng được mô hình toà soạn hội tụ...

Bốn là, các tạp chí cũng như các Chi hội Nhà báo chưa tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và kết nối nhà báo do Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, chưa quan tâm gửi bài dự các giải báo chí quốc gia, giải báo chí chuyên đề; chưa chú trọng phối hợp trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ,... Số bài đoạt giải trong các giải báo chí (Giải Búa liềm vàng, Giải báo chí quốc gia,...) còn rất khiêm tốn. 

Năm là, hầu hết các tạp chí Học viện được phát hành theo phương thức cấp phát, biếu tặng trong hệ Học viện và một số chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các trường chính trị, một số trường đại học. Số lượng được đặt mua còn rất hạn chế. 

Trong bối cảnh hiện nay, những công việc hệ trọng của đất nước đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với giới báo chí cả nước nói chung và đối với hoạt động của các đơn vị báo chí và công tác báo chí trên toàn hệ thống Học viện nói riêng. Đó là có giải pháp đột phá để vượt qua các thách thức chuyển đổi số quốc gia; xu hướng hội nhập quốc tế về báo chí đang diễn ra mạnh mẽ; những yêu cầu mới đối với quy trình, quy chuẩn xuất bản tạp chí khoa học cùng với sự thay đổi nhu cầu tiếp nhận của công chúng; báo chí trong thực thi nhiệm vụ chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng và của Đảng nói chung trên mặt trận chính trị, tư tưởng, lý luận. Nói cách khác, các cơ quan báo chí, những người làm báo Học viện phải có những bước chuyển mình và phát triển mạnh mẽ hơn. 

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Liên Chi hội Nhà báo và yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Học viện hiện nay, tại Đại hội này, tôi nhấn mạnh một số nội dung công tác trọng tâm, để các đồng chí cùng suy nghĩ và triển khai tốt hơn các hoạt động trong thời gian tới:

Một là, quán triệt chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Hội Nhà báo Việt Nam đối với các cơ quan báo chí 

Liên Chi hội Nhà báo Học viện là tổ chức trực thuộc Hội Nhà báo Việt Nam, trước hết, phải thực hiện thật tốt Điều lệ, tôn chỉ, mục đích hoạt động Hội. Theo đó, các Chi hội và Liên Chi hội Nhà báo Học viện cần nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, thực hiện sứ mệnh phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Các Chi hội cần phải chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động bằng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo; quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, nêu cao đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng lý luận, lập trường tư tưởng chính trị, nghiệp vụ, đặc biệt là về đạo đức của nhà báo, góp phần nâng cao trách nhiệm, sứ mệnh của người làm báo cách mạng. 

Tổ chức Chi hội phải thực sự vững mạnh, đề cao tính tư tưởng, tính chuyên nghiệp, hiện đại, trở thành điểm tựa về nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp đối với người làm báo, đồng thời, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong các cơ quan báo chí, các cấp hội nhà báo theo nội dung Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII bằng những chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể, sát hợp với thực tế...

Hai là, bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, thực tiễn đổi mới đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Học viện

Chú trọng tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, đóng góp tích cực cho công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị; chủ động thông tin, tuyên truyền một cách sinh động, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất ý chí và hành động để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Cùng với các chuyên mục Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các tạp chí cần xây dựng chuyên mục tuyên truyền, giới thiệu, lan tỏa nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách bài bản, có chất lượng và hiệu quả. 

Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí của Học viện tiếp tục đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện, bám sát để thông tin và thực hiện kịp thời các chủ trương, kế hoạch, chương trình hành động do Đảng ủy, Ban Giám đốc ban hành; chú trọng tuyên truyền kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học của Học viện, các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng biên tập để các sản phẩm báo chí của Học viện ngày càng có chất lượng cao hơn, trở thành nguồn học liệu chính thống, tin cậy không chỉ đối với cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên Học viện, mà còn đối với giới khoa học, những người quan tâm đến lý luận chính trị và báo chí truyền thông cả nước. Các ấn phẩm báo chí của Học viện phải trở thành tài liệu học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cung cấp cứ liệu khoa học cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật nói chung và trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chính trị, báo chí truyền thông nói riêng.

Ba là, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo của Học viện. 

Để phát huy được vai trò của báo chí, tạp chí khoa học nói riêng, đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức của đội ngũ người làm báo. Thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi những người làm báo khoa học phải tự mình học tập, đổi mới và hoàn thiện. Đó là có vai trò tích cực vào tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa xã hội con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về chiến lược đối ngoại, bảo vệ an ninh quốc gia, v.v..

Mỗi cán bộ làm công tác báo chí của Học viện phải là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, lý luận, có nhiệt huyết, dấn thân, trách nhiệm cao trong công việc; tuyệt đối tuân thủ Luật báo chí, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; góp phần bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; không để xảy ra những bài tạp chí vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, hoặc để hiểu sai chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước... 

Các cơ quan chủ quản trực tiếp, các Chi hội Nhà báo và mỗi hội viên cần thẳng thắn đánh giá, nhìn nhận những thành công, hạn chế, khuyết điểm để tu dưỡng, rèn luyện. Ban Chấp hành Liên Chi hội và Ban Thư ký các Chi hội phải thể hiện rõ vị trí, vai trò của tổ chức hội trong phát triển, bồi dưỡng chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ cho hội viên, đẩy mạnh phong trào Học tập và noi gương tư tưởng, phong cách và đạo đức làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bốn là, tiếp tục kiện toàn tổ chức Chi hội, Liên Chi hội Nhà báo, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý hội viên

Cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức chi hội, phát triển tổ chức hội và hội viên, một mặt, khẳng định sự gắn kết, thống nhất khối báo chí toàn Học viện. Mặt khác, tạo bước chuyển để Liên Chi hội Nhà báo Học viện thực sự trở thành một tổ chức có dấu ấn, bản sắc riêng của báo chí Trường Đảng trong hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam.

Liên Chi hội Nhà báo Học viện chịu trách nhiệm tham mưu sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan báo chí nhằm bảo đảm thống nhất về mô hình tổ chức, bộ máy, quy mô nhân lực phù hợp trong toàn Học viện, bảo đảm tính hệ thống, khắc phục tình trạng khu biệt, hoạt động rời rạc giữa các đơn vị báo chí như hiện nay. Đồng thời, Liên Chi hội Nhà báo và các Chi hội Nhà báo phải làm tốt vai trò tham mưu, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác báo chí của Học viện; xây dựng cơ chế để thu hút cán bộ có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ quản lý làm công tác báo chí; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người làm báo trong Học viện.

Ban Chấp hành Liên Chi hội có trách nhiệm tham mưu cho Đảng ủy, Giám đốc Học viện xây dựng cơ chế, chính sách phát triển, giáo dục, bồi dưỡng hội viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tạp chí, bản tin, cổng thông tin, trang tin điện tử. Các Chi hội, Liên Chi hội cũng cần chú trọng nâng cao vai trò của mình trong giám sát việc tuân thủ pháp luật, quy định về đạo đức nghề nghiệp của hội viên; chú trọng tham gia đóng góp vào công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các Chi hội.

Các Chi hội cũng cần chủ động tham mưu cho các cấp lãnh đạo mở các khóa đào tạo, bồi dưỡng hằng năm, đồng thời, tạo điều kiện để cán bộ, biên tập viên, nhân viên được tham gia các khoá bồi dưỡng nâng cao trình độ viết, biên tập tin, bài, ứng dụng công nghệ mới, trau dồi ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu báo chí hiện đại, hội nhập. 

Năm là, đối với các Chi hội Nhà báo ở đơn vị nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo chuyên ngành báo chí

Cần tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận báo chí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, đề xuất những luận cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về báo chí; thể hiện tốt hơn nữa vai trò trung tâm quốc gia nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành báo chí, chú trọng đào tạo toàn diện cả về chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nhà báo, đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực báo chí chất lượng cao của đất nước. Hoạt động của các Chi hội cần hướng vào xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có lý luận tốt, vừa am hiểu thực tiễn sâu sắc, có năng lực sáng tạo, kỹ năng sư phạm. Chú ý phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ trẻ. Quan tâm mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu về báo chí, góp phần trực tiếp thúc đẩy xây dựng hệ thống báo chí Học viện hiện đại và hội nhập quốc tế.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là Trường Đảng Trung ương, là Trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chính trị, tham mưu chủ trương, chính sách cho Đảng, Nhà nước. Các đơn vị báo chí của Học viện phải khẳng định được uy tín, vị thế trong khu vực và quốc tế, trở thành địa chỉ tin cậy để các nhà khoa học trao đổi học thuật, công bố những kết quả nghiên cứu mới, mở rộng ảnh hưởng ra toàn xã hội. 

Sự nghiệp cách mạng, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang cho giới báo chí cả nước nói chung và báo chí Học viện nói riêng. Tin tưởng rằng, với những kết quả đã đạt được, với những nỗ lực, quyết tâm của các Chi hội, của đội ngũ hội viên, trong thời gian tới, báo chí và đội ngũ những người làm báo Học viện sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới

Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994 Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra, nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay gắt, phức tạp hơn. Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước. Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch. Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành. Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Tiếp tục xây dựng lực lượng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về tư tưởng, chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó (Ảnh: tuyengiao.vn) Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình” Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là: Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó, phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ. Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân. Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập. Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc. Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”. Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/. Nguồn: Báo Đảng Cộng sản