Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022

ỨNG VẠN BIẾN ĐỂ GIỮ NỀN TẢNG BẤT BIẾN

 

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.
Nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục có bước đột phá việc học tập lý luận chính trị (LLCT) trong điều kiện mới. Cùng với đó, phải có những giải pháp căn bản, quyết liệt để việc học LLCT trở thành nhu cầu thiết thân của mỗi người.
Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.
Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.
Để việc học tập LLCT trở thành tự giác, là nhu cầu tự thân thì mỗi CB, ĐV cần thay đổi nhận thức về nó, tiên quyết là phải xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Việc học LLCT là trang bị cho chính mình thế giới quan, phương pháp luận khoa học, là cơ sở để mỗi người vận dụng nó trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong công việc hằng ngày. Đó là cái chất tiên phong của người đảng viên so với quần chúng. Mục tiêu cao hơn là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lý luận giúp chúng ta xây dựng niềm tin, thái độ, trách nhiệm, sự nhân văn trong cuộc sống. Học tập, bồi dưỡng lý luận không phải chỉ có mục tiêu duy nhất là lấy bằng cấp để hợp thức, đối phó với tiêu chí đề bạt, bổ nhiệm mà quan trọng hơn là học để làm việc tốt. Ở một góc độ khác, CB, ĐV là những người đem đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ, đồng thời trực tiếp thực hiện và hướng dẫn nhân dân thực hiện. CB, ĐV cũng lại là người báo cáo tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của nhân dân với Đảng và Nhà nước, để đề ra chính sách cho đúng, do đó họ phải học LLCT. Để kiến thức lý luận thấm và ngấm, người học phải xây dựng cho mình phương pháp học phù hợp, tránh lối tầm chương trích cú, học thuộc lòng mà không vận dụng gì vào thực tế. Lối tầm chương trích cú, kinh viện càng khiến cho lý luận trở nên khô khan, thiếu thực tế và làm người học chán nản. Chính các nhà lý luận kinh điển cũng không tán thành cách học đó. Học lý luận, nghiên cứu lý luận là phải nắm được tinh thần của lý luận, bản chất của lý luận để vận dụng nó vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tính lịch sử-cụ thể luôn là điểm then chốt trong phương pháp tiếp cận của LLCT. Bởi theo Các Mác, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó; lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, được tổng kết, khái quát từ thực tiễn. Bản thân các nhà lý luận Mác-xít chưa bao giờ coi học thuyết của mình là bất biến mà luôn coi đó là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển bằng thực tiễn sinh động. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”.
Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.
Một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đó là người truyền lửa (người thầy dạy lý luận, người truyền đạt nghị quyết của Đảng). Thực tế hiện nay việc giảng dạy lý luận ở các nhà trường, việc truyền thụ nghị quyết của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng không phải ở đâu cũng chọn lọc được đội ngũ truyền thụ tinh hoa, dẫn đến nhiều nơi hiệu quả thấp. Không phải ai cũng có khả năng đứng trên bục giảng hay truyền tải nghị quyết của Đảng hiệu quả. Người truyền lửa lý luận phải thổi lên được ngọn lửa nhiệt huyết, sự say mê của cả mình và người học, người nghe. Do đó, người truyền lửa phải là người có kiến thức, hiểu biết, có phương pháp truyền thụ, có kỹ năng phân tích, đánh giá, định hướng, dự báo tình hình, biết giải quyết nhuần nhuyễn các vấn đề đang đặt ra giữa lý luận và thực tiễn giúp người học tiếp cận được sát nhất những kiến thức ấy. Điều tiên quyết là bài giảng LLCT phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới, hóc búa từ thực tiễn đặt ra, nhất là việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó tạo niềm tin cho người học. Bởi thế, các nhà trường, cơ sở đào tạo có thể nghiên cứu để tăng cường hơn nữa đội ngũ giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phương pháp truyền thụ tốt tham gia giảng dạy LLCT. Đi liền với yêu cầu lựa chọn người giảng dạy, người truyền đạt LLCT, cũng cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo động lực tốt nhất để họ cống hiến. Chế độ, chính sách đối với người giảng dạy, truyền thụ lý luận hiện nay về cơ bản là chưa đủ sức hút để họ chuyên tâm với nghề.
Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.
-Nguồn: Quân đội nhân dân-
Có thể là hình ảnh về ngoài trời

NGHỆ SĨ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI


Những ngày qua, loạt hình ảnh đuổi bắt, đập phá có tính bạo lực, đặc biệt là cảnh kết đầy tiêu cực xuất hiện trong MV mới phát hành của một nam ca sĩ nổi tiếng đã làm dư luận dậy sóng.
Việc để cho nhân vật chính trong MV lựa chọn cách giải quyết là nhảy lầu tự sát để kết thúc tất cả chuỗi bi kịch bế tắc và tăm tối của cuộc đời đã khiến công chúng, nhất là những phụ huynh học sinh rất bức xúc.
Không ít ý kiến bày tỏ lo ngại MV có thể sẽ gây những tác động xấu tới nhận thức, tâm lý và sức khỏe tinh thần của học sinh - độ tuổi còn chưa có sự chín chắn, trưởng thành trong tư duy và hành động. Đáng nói, MV phát hành đúng thời điểm cả xã hội đang nhức nhối trước nhiều vụ việc đau lòng liên quan trẻ nhỏ xảy ra thời gian qua.
Nhiều người cho rằng, sự xuất hiện của MV không những làm xoáy sâu thêm nỗi đau xã hội mà còn có khả năng kích hoạt, cổ súy cho những hành động cực đoan, tiêu cực ở những bạn trẻ tuổi mới lớn - đối tượng đang phải gồng gánh nhiều áp lực và dễ bị tổn thương. Đáng lo ngại hơn, MV được thực hiện bởi một nam ca sĩ đang được coi là “thần tượng” của giới trẻ với lượng theo dõi thường xuyên lên tới cả chục triệu người trên mạng xã hội, cho nên mức độ ảnh hưởng càng lớn.
Ngay sau khi nhận được thông tin, các ban, ngành chức năng đã nhanh chóng vào cuộc để đưa ra hướng xử lý. Nam ca sĩ cũng đã chính thức lên tiếng xin lỗi và tuyên bố chủ động ngừng phát hành MV. Ngày 5/5, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 70 triệu đồng đối với công ty của nam ca sĩ, đồng thời yêu cầu triển khai biện pháp khắc phục hậu quả là có trách nhiệm tiêu hủy bản ghi hình MV, nộp lại số lợi thu được từ MV, tháo gỡ bản ghi hình MV dưới hình thức điện tử trên môi trường mạng và kỹ thuật số. Đây là động thái quyết liệt cho thấy quyết tâm của cơ quan chức năng trong việc cố gắng thanh lọc môi trường hoạt động văn hóa nghệ thuật trên không gian mạng, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh về trách nhiệm với xã hội của nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật.
Trên thực tế, mọi người đều có quyền thể hiện quan điểm của mình trước các hiện tượng xã hội. Tuy nhiên, nghệ sĩ và nhất là những người nổi tiếng là đối tượng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, cho nên trách nhiệm đối với cộng đồng của họ cũng nặng nề hơn. Đây là điều hiển nhiên mà nghệ sĩ phải chấp nhận và tôn trọng bởi hơn ai hết, sự thành công hay hào quang nổi tiếng của họ đều được xây dựng dựa trên tình cảm của công chúng đương thời. Mỗi sản phẩm nghệ thuật do nghệ sĩ thực hiện đều tạo ra những tác động nhất định đến đối tượng thụ hưởng.
Vì thế, người nghệ sĩ khi sáng tạo cần có sự cân nhắc, tính toán cẩn trọng cũng như sự nhạy cảm cần thiết về cách thức chuyển tải thông điệp, thời điểm phát hành phù hợp cũng như hiệu ứng xã hội mà sản phẩm mang lại. Thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, nghệ sĩ có quyền lên tiếng cảnh báo về những thực trạng tiêu cực, nhưng hơn hết cần mở ra ánh sáng ở cuối con đường, mang đến những năng lượng tích cực, hướng con người đến các giá trị nhân văn, nâng đỡ họ vượt qua khó khăn để vươn lên trong cuộc sống. Đó cũng chính là những giá trị tốt đẹp mà nghệ thuật hướng tới gắn liền trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ.
Trước sự xuất hiện của những sản phẩm có nguy cơ gây độc hại tới công chúng tiếp nhận, nhiều chuyên gia cho rằng, bên cạnh chế tài xử lý vi phạm mạnh tay ở khâu hậu kiểm, các cơ quan chức năng còn cần thắt chặt khâu tiền kiểm, có cơ chế phối hợp kiểm soát để những bản ghi âm, ghi hình có yếu tố đi ngược lại truyền thống, thuần phong mỹ tục dân tộc không có cơ hội xuất hiện trên môi trường mạng Việt Nam.
Liên quan trách nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ, Nghị định 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn đã nêu rõ những quy định cấm, trong đó có cấm “sử dụng trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác, phương tiện biểu đạt, hình thức biểu diễn hành vi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng và tâm lý xã hội.
Vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Bộ quy tắc ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có đề cập quy tắc nghệ sĩ không được sáng tác, lưu hành, phổ biến, biểu diễn những tác phẩm có nội dung không phù hợp với giá trị đạo đức, văn hóa và truyền thống của dân tộc, gây tác động tiêu cực đến tư tưởng, thẩm mỹ của công chúng. Đây là những căn cứ về cả luật pháp và đạo đức mà người nghệ sĩ cần ghi nhớ trong sáng tạo nghệ thuật để không bước qua lằn ranh giới hạn, để luôn phát huy được trách nhiệm với cộng đồng và xã hội./.
Nguồn: -Báo Nhân Dân-
Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng và văn bản

TỰ HÀO CHIẾN THẮNG VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN


Buổi sáng đầu tháng 5, trời Điện Biên dường như cao xanh hơn. Chúng tôi đến Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ để chiêm ngưỡng bức tranh panorama tái hiện chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cách đây 68 năm “chấn động địa cầu”.
Trước quầy vé, dòng người nườm nượp xếp hàng; trên sân bảo tàng có rất nhiều xe ô tô căng biển “Đoàn cựu chiến binh về thăm Điện Biên”. Đối diện bảo tàng, khoảnh sân trước cửa Nghĩa trang Liệt sĩ A1 ngày thường thênh thang là thế, nhưng nay thành chật chội. Trong dòng người lặng lẽ nhẹ bước vào nghĩa trang có nhiều cựu chiến binh mắt rưng rưng...
Đợi xếp hàng vào bảo tàng sẽ mất nhiều thời gian, chúng tôi quyết định chuyển sang thăm cứ điểm Him Lam-nơi bộ đội ta đánh trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ vào ngày 13-3-1954. Thật mừng, khi vừa đến thì tôi được gặp 5 cựu chiến binh, trong đó có ông Nguyễn Hữu Chấp từng là Khẩu đội trưởng Khẩu đội cối 82mm của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 (nay là Sư đoàn 312, Quân đoàn 1) tham gia đánh trận mở màn vào “cánh cửa thép” Him Lam.
Dọc con đường nhỏ láng xi măng sạch sẽ dẫn đến các cứ điểm trên đồi Him Lam, ông Nguyễn Hữu Chấp xúc động kể: "Nhận định Him Lam sẽ là hướng tiến công chính của bộ đội ta nên địch đã bố trí công sự rất vững chắc, hỏa lực tại chỗ và hỏa lực yểm trợ mạnh. Đại đoàn 312 được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ đánh trận mở màn và nhất định phải thắng. Đêm 12-3-1954, từ Tà Lèng, chúng tôi hành quân chiếm lĩnh trận địa. Gần sáng, đội hình của ta đã đến cánh đồng quanh cứ điểm. Cả ngày bao quanh cứ điểm Him Lam, cứ nghe tiếng loa của Pháp ra rả: “Điện Biên Phủ là cứ điểm bất khả xâm phạm, các bạn đừng nghe lời Tướng Giáp mà đánh vào vì sẽ không còn đường về với bố mẹ”... Nhưng chúng tôi không hề nao núng mà chỉ nóng lòng đợi lệnh tấn công. Cuối chiều 13-3, toàn bộ lực lượng pháo binh của ta đồng loạt nhả đạn khiến địch không kịp phản ứng. Bộ đội rất anh dũng xung phong chiến đấu và đến gần nửa đêm thì hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam"...
Theo lời của các cựu chiến sĩ Điện Biên tôi từng được gặp, chiến thắng trận mở màn Him Lam đã tiếp thêm niềm tin, quyết tâm chiến đấu mãnh liệt đối với bộ đội ta trên tất cả mặt trận. Những ngày sau, quân ta lần lượt giành chiến thắng ở đồi Độc Lập, Bản Kéo, C1, D1, đồi Cháy, A1, Hồng Cúm, Mường Thanh..., để rồi lúc 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta đã tung bay trên nóc hầm Đờ Cát. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu"!
Hôm nay, chúng tôi cùng hàng nghìn người tham quan chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa. Vẫn còn đó dòng sông Nậm Rốm lặng lẽ trôi xuôi dưới chân cầu Mường Thanh. Bên dòng sông, cánh đồng Mường Thanh lúa trĩu hạt; bản làng, thôn xóm bừng lên sức sống mới với những sắc màu rực rỡ, ấm no. Ông Lường Văn Tọ là người con của đồng bào dân tộc Thái tại xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tự hào khoe: "Xã Thanh Hưng hôm nay đổi thay rất nhiều. Người dân không còn canh cánh lo cái ăn, cái mặc như trước, thay vào đó là ước mong xây dựng Thanh Hưng thành xã điểm nông thôn mới nâng cao, để tới đây đón thêm nhiều bạn bè, du khách về thăm"...
68 năm qua, với khát vọng cháy bỏng xây dựng Điện Biên trở thành trung tâm của vùng Tây Bắc, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên luôn đoàn kết, nỗ lực thực hiện mục tiêu biến chiến trường thành nông trường, thành những khu dân cư mới và thành đô thị trẻ trên miền biên viễn; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, xây dựng Điện Biên thành điểm đến hấp dẫn nhân dân trong nước và du khách quốc tế.
Đồng chí Lê Thành Đô, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cho biết: Với quyết tâm phát huy lợi thế vùng đất, vùng biên, từng bước biến tiềm năng thành thế mạnh, xây dựng Điện Biên trở thành trung tâm vùng Tây Bắc, là cửa ngõ giao thương của Việt Nam với các tỉnh Bắc Lào và một số tỉnh phía Đông Nam Trung Quốc, thời gian qua, tỉnh Điện Biên đã tích cực phối hợp với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam tổ chức khởi công Dự án nâng cấp mở rộng cảng hàng không Điện Biên; phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương để đầu tư nâng cấp Quốc lộ 6 trở thành đường cao tốc trước năm 2030; nâng cấp lối mở A Pa Chải-Long Phú với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) thành cửa khẩu quốc gia...
Nhấn mạnh mục tiêu xây dựng Điện Biên thành tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đồng chí Lê Thành Đô khẳng định: Tỉnh Điện Biên luôn ưu tiên thu hút đầu tư, sẵn sàng đón các nhà đầu tư vào tỉnh làm ăn với những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn mà tỉnh có lợi thế cạnh tranh vượt trội, tiềm năng khác biệt, nhất là du lịch và sản xuất, dịch vụ nông, lâm nghiệp... Điện Biên cam kết tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục hành chính, đất đai, giải phóng mặt bằng, đồng thời đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, cung cấp các dịch vụ công tiện ích, môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, minh bạch để các nhà đầu tư yên tâm gắn bó, đồng hành trên hành trình xây dựng Điện Biên phát triển, xứng đáng với mong muốn của những thế hệ đã làm nên chiến thắng hào hùng Điện Biên Phủ năm xưa...
+Nguồn: -Báo QĐND-
Có thể là hình ảnh về 12 người, mọi người đang đứng, cây và ngoài trời


KỶ NIỆM 68 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (7/5/1954-7/5/2022) BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VIỆT NAM


Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã trở thành một trong những chiến công chói lọi, như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX trong lịch sử dân tộc; là kết quả sự hội tụ của nhiều nhân tố, trong đó có bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.
Điện Biên Phủ - vị trí chiến lược quan trọng
Điện Biên Phủ là một thung lung lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng núi Tây Bắc, có chiều dài khoảng 20 km, rộng từ 6-8km; cách Hà Nội khoảng 200km, cách Luang Prabang (Lào) khoảng 190km theo đường chim bay. Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp - Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc”. "Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn nhất, đông dân và giàu có nhất vùng Tây Bắc". Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của ta.
Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20-11-1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.
Tính đến tháng 3-1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm 4 tiểu đoàn, 2 đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.
Về phía ta, việc quân Pháp nhảy dù tái chiếm Điện Biên Phủ không làm đảo lộn kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trên các hướng đã được xác định, khối chủ lực vẫn mở các cuộc tiến công đúng như kế hoạch gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và bị động đối phó.
Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta”.
Các đòn tiến công chiến lược quan trọng của ta trong Đông Xuân 1953-1954 đã buộc khối cơ động của địch phải phân tán đối phó trên nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam thực hiện trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.
Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000 quân. Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch. Trên 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch... Đến đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm 3 phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ. Đợt 1 của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13-3-1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt 2 diễn ra ngày 30-3-1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt 3 chiến dịch diễn ra ngày 1-5 và kết thúc ngày 7-5-1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu, vượt qua muôn vàn gian khổ, “gan không núng, chí không mòn”, đến chiều ngày 7-5-1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng!
Khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân Việt Nam. Có thể nói, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã hoàn toàn bất ngờ trước sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, trước việc “Việt Minh” có đủ lương thực và vũ khí để chiến đấu liên tục trong suốt gần hai tháng trên địa bàn hiểm trở, xa hậu cứ trước việc xuất hiện của trọng pháo trên trận địa đỉnh núi…
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneve chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneve đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
Cho đến nay, thế giới vẫn đặt câu hỏi vì sao một đất nước nhỏ bé và lạc hậu, vừa thoát ra khỏi ách thực dân gần 100 năm lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ, tại sao Pháp lại thua. Ph.Leclerc, một Đại tướng giỏi của quân đội Pháp, cũng đã nói một cách cô đọng và rõ ràng bài học thất bại của Pháp rằng: “Người ta không thể nào dùng sức mạnh để phá tan chủ nghĩa dân tộc Việt Nam”.
Mc.Namara - nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thừa nhận: “sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc”, “chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó…”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự cộng hưởng của sức mạnh dân tộc và thời đại, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh Việt Nam, bản sắc văn hóa giữ nước Việt Nam mà nền tảng là lòng yêu nước; các nhân tố đó tiếp tục là sức mạnh bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
+Nguồn: -Báo QĐND-

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”

 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

PHẢN BIỆN HAY PHẢN BỘI?

Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...

Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.

Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  

Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế.

Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.

Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. 

KHẮC PHỤC NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”...

Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT.

Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước.

Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.

Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.

Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế.

Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).

Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHƯNG KHÔNG LÀM THAY

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch COVID-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với COVID-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này./.

Theo QĐND

Vẫn trò “Vơ đũa cả nắm”

 Sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có vi phạm, những kẻ đội lốt “dân chủ” lại lợi dụng quy chụp, thổi phồng, “vơ đũa cả nắm”... rêu rao rằng: “Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...”(!)

Đây thực ra vẫn là trò cũ soạn lại của các đối tượng chống phá, chỉ khác mức độ, tần suất được các trang mạng phản động đưa tin, giật tít nhằm thu hút sự chú ý của dư luận, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hòng làm suy giảm uy tín, vai trò của quân đội, tiến tới thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội.

Thực tế cho thấy, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên chỉ đạo, triển khai, kiểm tra, giám sát... công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn quân và quyết liệt xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệnh, quy định của quân đội. Vì thế, Đảng bộ Quân đội được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá là trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân trân trọng, tin yêu.

Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số ít quân nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đơn vị sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... Những quân nhân vi phạm pháp luật đều được điều tra, xử lý nghiêm minh. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị tiếp tục thực hiện ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Từ những vấn đề trên cho thấy, sai phạm của một số quân nhân trong thời gian qua liên quan đến tham nhũng chỉ là hiện tượng cá biệt, không phải là hiện tượng phổ biến, càng không phải là bản chất của quân đội như một số đối tượng thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị cố tình lợi dụng để xuyên tạc, thổi phồng, quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm”. Do đó, mỗi chúng ta trong quá trình tiếp nhận thông tin cần phải hết sức cảnh giác, biết lựa chọn, sàng lọc và xem xét khách quan, toàn diện để tránh mắc mưu của kẻ xấu.

Theo QĐND