Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

ỨNG VẠN BIẾN ĐỂ GIỮ NỀN TẢNG BẤT BIẾN


          Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

          Nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục có bước đột phá việc học tập lý luận chính trị (LLCT) trong điều kiện mới. Cùng với đó, phải có những giải pháp căn bản, quyết liệt để việc học LLCT trở thành nhu cầu thiết thân của mỗi người.

          Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

          Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.

          Để việc học tập LLCT trở thành tự giác, là nhu cầu tự thân thì mỗi CB, ĐV cần thay đổi nhận thức về nó, tiên quyết là phải xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Việc học LLCT là trang bị cho chính mình thế giới quan, phương pháp luận khoa học, là cơ sở để mỗi người vận dụng nó trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong công việc hằng ngày. Đó là cái chất tiên phong của người đảng viên so với quần chúng. Mục tiêu cao hơn là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lý luận giúp chúng ta xây dựng niềm tin, thái độ, trách nhiệm, sự nhân văn trong cuộc sống. Học tập, bồi dưỡng lý luận không phải chỉ có mục tiêu duy nhất là lấy bằng cấp để hợp thức, đối phó với tiêu chí đề bạt, bổ nhiệm mà quan trọng hơn là học để làm việc tốt. Ở một góc độ khác, CB, ĐV là những người đem đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ, đồng thời trực tiếp thực hiện và hướng dẫn nhân dân thực hiện. CB, ĐV cũng lại là người báo cáo tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của nhân dân với Đảng và Nhà nước, để đề ra chính sách cho đúng, do đó họ phải học LLCT. Để kiến thức lý luận thấm và ngấm, người học phải xây dựng cho mình phương pháp học phù hợp, tránh lối tầm chương trích cú, học thuộc lòng mà không vận dụng gì vào thực tế. Lối tầm chương trích cú, kinh viện càng khiến cho lý luận trở nên khô khan, thiếu thực tế và làm người học chán nản. Chính các nhà lý luận kinh điển cũng không tán thành cách học đó. Học lý luận, nghiên cứu lý luận là phải nắm được tinh thần của lý luận, bản chất của lý luận để vận dụng nó vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tính lịch sử-cụ thể luôn là điểm then chốt trong phương pháp tiếp cận của LLCT. Bởi theo Các Mác, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó; lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, được tổng kết, khái quát từ thực tiễn. Bản thân các nhà lý luận Mác-xít chưa bao giờ coi học thuyết của mình là bất biến mà luôn coi đó là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển bằng thực tiễn sinh động. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”.

          Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.

          Một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đó là người truyền lửa (người thầy dạy lý luận, người truyền đạt nghị quyết của Đảng). Thực tế hiện nay việc giảng dạy lý luận ở các nhà trường, việc truyền thụ nghị quyết của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng không phải ở đâu cũng chọn lọc được đội ngũ truyền thụ tinh hoa, dẫn đến nhiều nơi hiệu quả thấp. Không phải ai cũng có khả năng đứng trên bục giảng hay truyền tải nghị quyết của Đảng hiệu quả. Người truyền lửa lý luận phải thổi lên được ngọn lửa nhiệt huyết, sự say mê của cả mình và người học, người nghe. Do đó, người truyền lửa phải là người có kiến thức, hiểu biết, có phương pháp truyền thụ, có kỹ năng phân tích, đánh giá, định hướng, dự báo tình hình, biết giải quyết nhuần nhuyễn các vấn đề đang đặt ra giữa lý luận và thực tiễn giúp người học tiếp cận được sát nhất những kiến thức ấy. Điều tiên quyết là bài giảng LLCT phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới, hóc búa từ thực tiễn đặt ra, nhất là việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó tạo niềm tin cho người học. Bởi thế, các nhà trường, cơ sở đào tạo có thể nghiên cứu để tăng cường hơn nữa đội ngũ giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phương pháp truyền thụ tốt tham gia giảng dạy LLCT. Đi liền với yêu cầu lựa chọn người giảng dạy, người truyền đạt LLCT, cũng cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo động lực tốt nhất để họ cống hiến. Chế độ, chính sách đối với người giảng dạy, truyền thụ lý luận hiện nay về cơ bản là chưa đủ sức hút để họ chuyên tâm với nghề.

          Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý./.

                                                                                      QĐND

Nâng cao cảnh giác, đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội

 

Một trong những âm mưu xuyên suốt của các thế lực phản động trong chống phá cách mạng Việt Nam đó là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; kêu gọi thực hiện “phi chính trị hóa quân đội”; xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”...

          Chống phá cách mạng Việt Nam là một mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Liên tục trong những qua, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch đã thường xuyên đưa ra những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập,… Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa quân đội” được những đối tượng này xác định là một nội dung trọng tâm. Chúng cố tình rêu rao quan điểm cho rằng, “quân đội phải đứng ngoài chính trị”; quân đội cần phải “trung lập”, “đứng giữa”, không lệ thuộc hoặc đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào… Chúng cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc thành công là Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử; Đảng chỉ nên lãnh đạo quân đội trong chiến tranh, khi hòa bình Đảng cần giao quyền lãnh đạo quân đội cho Nhà nước...

          Rõ ràng, đây là những luận điệu sai trái, đánh lừa dư luận xã hội. Nhìn xa hơn vào lịch sử, nhân loại tiến bộ vẫn chưa thể quên được “cơn địa chấn chính trị” đã diễn ra tại Liên Xô vào thập niên cuối thế kỷ XX. Những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô), chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đây được xác định là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối năm 1991; một tổn thất nặng nề của phong trào cách mạng thế giới.

          Gần 30 năm đã trôi qua tính từ lúc chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ và tan rã. Cùng với dòng chảy của thời gian, chúng ta có thêm góc nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về “cơn địa chấn chính trị” đặc biệt này. Có thể thấy, “phi chính trị hóa quân đội” suy đến cùng là luận điệu chống phá của các thế lực phản động nhằm mục đích tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội; tiến tới làm cho Quân đội xa rời bản chất giai cấp công nhân, mất phương hướng chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu... Âm mưu sâu xa của luận điệu này là làm Quân đội suy yếu về chính trị, lâu dài là vô hiệu hóa Quân đội, với tính cách là công cụ bạo lực chính trị sắc bén của Đảng.

          Nhìn nhận khách quan, bài học về xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Quân đội Liên Xô là cơ hội để chúng ta nhận thức rõ hơn tính chất nguy hiểm trong các thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động liên quan đến vấn đề “phi chính trị hóa quân đội”; từ đó, đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, luận điệu chống phá nói trên.

          Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa đã nhấn mạnh rõ: “khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và Công an; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội” (1).

          Để thực hiện điều này, vấn đề quan trọng đầu tiên hiện nay là chúng ta cần luôn luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nói riêng; thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Tiếp tục xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

          Đồng thời, coi trọng phát huy vai trò, tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội gắn với cương vị, chức trách được giao; thực sự nêu gương trước bộ đội... Qua đó, vừa góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị; vừa tạo cơ sở để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch./.

PHAO

 

Ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam - Từ truyền thống đến Hồ Chí Minh và trong công cuộc đổi mới.

 Bài viết phân tích, làm sáng tỏ ý chí, bản lĩnh và khát vọng của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, đặc biệt trong di sản Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới, vì độc lập, tự do, hạnh phúc, xây dựng, phát triển một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, bước tới đài vinh quang, cùng nhịp bước thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam - Từ truyền thống đến Hồ Chí Minh và trong công cuộc đổi mới

Mục tiêu của Đảng và dân tộc ta là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

1. Ý chí, bản lĩnh và khát vọng trong truyền thống dân tộc

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong tại Đền Hùng (Phú Thọ) ngày 19-9-1954, sau khi nhắc nhớ “vua Hùng là một vị khai quốc, nhiệm vụ giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta còn rất nặng nề và quan trọng”, Hồ Chí Minh nói:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”(1).

Đây là một tổng kết rất đặc sắc về truyền thống dựng nước và trách nhiệm giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Một trong những điều quý giá nhất tạo nên giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam là, trên cơ sở của lòng yêu nước, con người Việt Nam luôn luôn thể hiện khát vọng độc lập, tự do, phát triển đất nước và bản lĩnh trước những gian nguy, thử thách của thiên tai, địch họa. Hồ Chí Minh đúc kết “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v.. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”(2). Nhìn lại lịch sử dân tộc ta đánh thắng quân xâm lược, Người viết: “Nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng”(3).

Một dân tộc anh hùng mà Hồ Chí Minh nói đến chứa đựng lòng nồng nàn yêu nước, bản lĩnh diệt giặc ngoại xâm và khát vọng giải phóng, phát triển đất nước. Từ Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn với lòng nhiệt huyết “Sát thát” của quân sĩ đến Hội nghị Diên Hồng với câu trả lời đồng thanh “Quyết đánh” cho thấy khí phách của một dân tộc “Thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”(4).

Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XIII là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh sáng tạo, sức mạnh đoàn kết của toàn dân và lòng khát khao tự do.

Thắng lợi oanh liệt của quân và dân ta ở thế kỷ XV là thắng lợi của ý chí độc lập, tự do, khát vọng giải phóng dân tộc, tư tưởng tiến công, chủ động của một cuộc chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đó lấy sức mạnh đại nghĩa, tinh thần nhân văn của nhân dân ta để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo. Một trong những điều tạo nên sức mạnh quan trọng nhất là bản lĩnh khẳng định chủ quyền dân tộc, một quốc gia đã “xưng nền văn hiến từ lâu, núi sông bờ cõi đã phân, phong tục Bắc, Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi nói đến trong Bình Ngô đại cáo.

Điều đặc biệt là có sự trùng hợp thật tự nhiên trong đoạn cuối tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và những lời dặn cuối cùng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoạn cuối trong Bình Ngô đại cáo:

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Để mở nền muôn thuở thái bình

Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.

Đoạn cuối trong Di chúc của Hồ Chí Minh: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(5).

Sự trùng hợp ở đây là cái bất biến “đại nghĩa”, “chí nhân” và khát vọng đổi mới. Nếu Nguyễn Trãi đã nói “giang sơn từ đây đổi mới”, thì Hồ Chí Minh nói tới mong muốn cuối cùng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Phạm Văn Đồng viết: “Hai người chắc rất hào hứng ôn lại lịch sử dân tộc và của thế giới. Bác Hồ có thể đem lại cho Nguyễn Trãi biết bao cái mới trải qua năm thế kỷ đầy những diễn biến không sao tưởng tượng được từ thời Nguyễn Trãi. Nhưng rồi hai người cũng thấy cái bất biến của dân tộc Việt Nam ta, rất thích thú về những truyền thống biết bao đẹp đẽ và hào hùng của dân tộc:

Lấy đại nghĩa thắng hung tàn

Dùng chí nhân thay cường bạo”(6).

Từ giữa thế kỷ XIX, khi phải chống lại một kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân phương Tây hơn nước ta một phương thức sản xuất, nhân dân ta từ Nam ra Bắc vào Trung tiếp nối truyền thống của dân tộc, tiếp tục xả thân vì đại nghĩa cứu nước, cứu dân với tinh thần “bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”(7) như lời tuyên bố của Nguyễn Trung Trực trước kẻ thù.

Ở miền Bắc, những tấm gương tuyệt thực của Nguyễn Tri Phương khi Hà Nội thất thủ năm 1873, hay Hoàng Diệu tuẫn tiết khi Hà Nội rơi vào tay giặc năm 1882 đã tỏ rõ khí phách hiên ngang của con người Việt Nam “thà chết vinh chứ không sống nhục”(8); “thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ”(9) như Hồ Chí Minh đã đúc kết.

Không phải chỉ có Nguyễn Trung Trực ở miền Nam, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu ở miền Bắc, mà khi giặc Pháp tấn công ở miền Trung thì tinh thần chống Pháp vẫn hừng hực với khẩu hiệu “Bình Tây sát tả” và những lời hịch có giá trị cứu nước lớn như “Dập dìu trống đánh cờ xiêu. Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”(10).

Khi giai cấp phong kiến Việt Nam đã đầu hàng thực dân Pháp, kết thúc vai trò lãnh đạo toàn dân với ý nghĩa là giai cấp, thì phong trào dân tộc vũ trang không những tiếp tục với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn trên địa bàn trải rộng từ miền Trung ra Bắc vào Nam, mà còn hình thành những trung tâm kháng chiến lớn trong Phong trào Cần Vương (1885-1896) do các văn thân, sĩ phu đại biểu cho lòng yêu nước của dân tộc đứng lên chống Pháp. Những gương mặt tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến như Tạ Hiện ở Thái Bình, Nam Định; Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Hải Dương; Phạm Bành, Đinh Công Tráng ở Thanh Hoá; Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.

Xuất phát từ lòng yêu nước, phong trào Cần Vương là phong trào dân tộc chống xâm lược và triều đình phong kiến đầu hàng. Phong trào tuy thất bại,  nhưng tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất, khát vọng độc lập và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam

2. Hồ Chí Minh - biểu tượng sáng ngời cho ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam

Ngay từ thời thiếu niên, Nguyễn Tất Thành rất khâm phục lòng yêu nước, chí căm thù giặc và khát vọng giành độc lập của các phong trào chống Pháp và các thủ lĩnh từ Phan Đình Phùng cuối thế kỷ XIX đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám đầu thế kỷ XX. Với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, lúc trạc 13 tuổi còn trên ghế trường tiểu học, Người đã hoài nghi đằng sau những từ Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Từ thuở ấy, Người đã “rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”(11).

Không chỉ muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau các chữ Pháp, Người muốn đi ra ngoài xem cho rõ, đến tận nơi xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào. Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(12).

Việc Nguyễn Tất Thành ở tuổi 21 quyết định đi ra nước ngoài để về giúp đồng bào là tỏ rõ ý chí, khát vọng giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu “Đông du” và “muốn đưa anh và một số thanh niên sang Nhật, nhưng anh không đi”(13). Người “thấy rõ và quyết định con đường nên đi”(14), không “Đông du” mà lại “Tây du”. Điều này cho thấy tính độc lập, bản lĩnh và trí tuệ sáng suốt của Nguyễn Tất Thành.

Tuy chưa có sự hiểu biết khoa học, lý tính như sau này khi có ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi rọi, nhưng sự hoài nghi tuổi trẻ như Nguyễn Tất Thành là rất đáng khâm phục. Hai từ “văn minh” và những chữ Pháp Tự do - Bình đẳng - Bác ái là những khái niệm rất đẹp, phản ánh giá trị phổ quát của nhân loại mà các dân tộc và mọi người hướng tới. Nhưng, vấn đề là ở chỗ, Người “muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”, bởi trên thực tế đất nước ta lúc bấy giờ chẳng thấy tự do, bình đẳng, bác ái đâu, mà chỉ thấy nô dịch, bóc lột, đầy rẫy áp bức, bất công, nhà tù nhiều hơn trường học. Đoạn văn sau đây do nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam kể lại khi được tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc ở Mátxcơva năm 1923 cho thấy sự tìm hiểu, hoài nghi của Nguyễn Tất Thành là có cơ sở để từ đó Người tìm ra vũ khí để giúp đồng bào: “Đồng chí nói tiếng Pháp - tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê hương đồng chí. Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “văn minh” một cách đầy khinh bỉ”(15).

Tháng 6-1911 là bước khởi đầu hành trình khát vọng “tìm đường” (1911-1920) cứu đồng bào của Người. Sau mười năm “mở đường” (1921-1930), Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, Người cùng Đảng thực hiện sứ mệnh “dẫn đường” (1930-1945). Đây là một trong những quãng thời gian nhiều cam go, thử thách nhất trong cuộc đời cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trong việc thực hiện sứ mệnh giải phóng Tổ quốc. Người không những bị đế quốc Anh bắt giam, tù đày hơn 18 tháng (6-6-1931 - 28-12-1932), mà còn chưa được Quốc tế Cộng sản hiểu, đánh giá đúng về tư tưởng và hoạt động của mình với tư cách là một người cộng sản chân chính, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng, chính trong gian lao, thử thách, nhân cách của người cách mạng cộng sản Nguyễn Ái Quốc càng bộc lộ một cách rõ rệt nhất. Người vẫn chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc để làm cách mạng giải phóng dân tộc. Gần sáu năm từ khi được trả tự do, về Liên Xô hoạt động, học tập, nghiên cứu, làm được nhiều việc có ích cho phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa và Quốc tế Cộng sản, nhưng Người vẫn coi đó là thời gian trong “tình trạng không hoạt động”(16), “như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(17), một “tình cảnh đau buồn”(18).

Không có gì ngăn cản được ý chí, bản lĩnh và khát vọng giải phóng của Nguyễn Ái Quốc. Sau khi rời khỏi biên chế của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, trong lộ trình về nước, khi nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (ngày 20-6-1940), Nguyễn Ái Quốc phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(19).

Ngày 28-01-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 biên giới Việt - Trung. Sống trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, chỉ với “cháo bẹ, rau măng”, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận ra rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang”(20) và sẵn sàng “hai tay xây dựng một sơn hà”(21).

Khó khăn lớn nhất của cách mạng lúc này là “dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật”(22). Trước sức mạnh của kẻ thù hung bạo Pháp - Nhật và tay sai của chúng, Hồ Chí Minh và Đảng ta thể hiện bản lĩnh cách mạng phi thường “thay đổi chiến lược”(23). Ý chí, bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng giải phóng của Hồ Chí Minh và Đảng ta thể hiện rõ: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(24).

Trong thư Kính cáo đồng bào, Người nói rằng, trước tình cảnh đau đớn, xót xa, dân ta quyết không chịu khoanh tay chờ chết. Hơn 20 triệu con Lạc, cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi. Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm… Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(25).

Hồ Chí Minh truyền quyết tâm, tín tâm, đồng tâm và cảm hứng cho cả dân tộc “Đoàn kết vững bền như khối sắt/Để cùng nhau cứu nước Nam ta”(26). Người thổi bùng ngọn lửa đánh Pháp, đuổi Nhật, đặng giải phóng Tổ quốc, xây nước non nhà:

“Việt Nam độc lập đồng minh

Có bản Chương trình đánh Nhật, đánh Tây

Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:

Làm cho con cháu Rồng Tiên,

Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta”(27).

Với Hồ Chí Minh, “trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do?”(28). Vì vậy, “muốn nên sự nghiệp lớn/Tinh thần càng phải cao”(29); “gian khó không lùi vẫn tiến lên/Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên/Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị/Nhất định thành công sẽ có phen”(30).

Khát vọng, tin tưởng, lạc quan là nguồn mạch vô tận ở Hồ Chí Minh. Cho nên, ở trong tù nhưng Người luôn nghĩ tới ngày mai tươi đẹp, quy luật cuộc sống cũng như quy luật tự nhiên “Sự vật vần xoay đã định sẵn/Hết mưa là nắng hửng lên thôi… /Người cùng vạn vật đều phơi phới/Hết khổ là vui vốn lẽ đời”(31). Trong lúc sốt cao, ốm nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(32).

Cách mạng Tháng Tám thành công. Đó là sự thắng lợi của sức dân, lòng dân, trí dân, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cho nên, chúng ta không những phải được tự do, phải được độc lập, mà còn có quyền hưởng tự do và độc lập. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp, thì vấn đề không chỉ có quyền hưởng tự do và độc lập mà điều quan trọng là “toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(33). Ý chí, bản lĩnh và khát vọng ấy của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập được chuyển tải cho toàn dân tộc khi thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Người nói: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào. Chúng ta phải đứng lên!”(34). Khi cuộc kháng chiến ở giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, “có người cho rằng: Cuộc kháng chiến của ta là “châu chấu đấu voi”(35). Nhưng, Hồ Chí Minh với cách nhìn biện chứng, “quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

Nay tuy châu chấu đấu voi

Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”(36).

Khi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở đỉnh cao của ác liệt, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(37).

Viết Di chúc năm 1965, Người khẳng định: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(38). Năm 1969, Người khẳng định lại ý chí, quyết tâm và niềm tin chắc chắn thắng lợi: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”(39).

Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất là, cùng với ý chí, bản lĩnh, niềm tin, Hồ Chí Minh luôn luôn nuôi dưỡng và thể hiện khát vọng về một đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, bước tới đài vinh quang, cùng nhịp bước với các nước trên hoàn cầu, sánh vai các cường quốc năm châu. Người có niềm tin: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”(40).

“Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”(41).

Trong nhiệm vụ “sẽ xây dựng lại đất nước to đẹp, đàng hoàng”, Hồ Chí Minh không hề ảo tưởng, chủ quan, Người nhận thức rõ đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp, khó khăn và nặng nề. Đây là “một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”(42). Vì vậy, Người dặn “chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót, sai lầm”(43). Trong kế hoạch đó, trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng; là công việc đối với con người; là phát huy vai trò của nhân dân. Người viết: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(44).

3. Ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam trong công cuộc đổi mới

Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới. Để khắc phục, sửa chữa những hạn chế, sai lầm, Đảng đã tỏ rõ thái độ, bản lĩnh của mình là “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”(45).

Đại hội VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều bất lợi cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. CNXH ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Trong sự dao động của không ít những người cộng sản, Đảng ta đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định giữ vững định hướng XHCN. Quan điểm của Đảng rõ ràng: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”(46). Đồng thời, Đảng nêu lên điểm mới về nền tảng lý luận - tư tưởng của cách mạng, đó là “cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”(47).

Trong Cương lĩnh, Đảng ta nói rõ khát vọng về CNXH, trong đó chứa đựng những nhân tố tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, con người, quan hệ các dân tộc trong nước, quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước. Đảng có niềm tin trên cơ sở khoa học, nhận thức đúng quy luật và hành động theo quy luật: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(48). Những quan điểm đó tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2021). Bổ sung quan trọng là Đảng ta nêu hệ mục tiêu trong khát vọng phát triển là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng ta xác định, Cương lĩnh của Đảng là ngọn cờ chiến thắng vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH, “thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”(49).

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, tại Đại hội XIII, Đảng rút ra một số bài học kinh nghiệm, có những khía cạnh liên quan trực tiếp tới ý chí và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, như: phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động sáng tạo, tích cực.

Một trong những khía cạnh trong mục tiêu tổng quát thể hiện khát vọng của Đảng và dân tộc ta là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cơ sở của niềm tin thực hiện khát vọng mà Đảng ta nêu lên chứa đựng cả lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động. Về lý luận, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn và hành động, Đảng chỉ rõ phải chủ động, nhạy bén nắm chắc thời cơ, quyết vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực cho phát triển. Phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ XHCN, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chính là nguồn động lực mới, to lớn để đất nước phát triển nhanh, bền vững hơn.

Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới bản lĩnh, ý chí kiên cường, quyết tâm và khát vọng của cả dân tộc “vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thuận lợi, thời cơ, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(50).

Nhất quán mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta khẳng định: “Với định hướng đúng đắn, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta”(51).

DẤU ẤN NGÀY 09/5 - HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC

          - Ngày 9-5-1946: tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp gần 50 đại biểu thuộc đủ các lứa tuổi, các giới của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang và Hà Giang về thăm thủ đô. Tại đây, Người đã ân cần dặn dò con cháu đoàn kết giúp Chính phủ và động viên anh chị em phụ nữ, hỏi thăm tình hình xóa nạn mù chữ và khuyên đồng bào gắng sức học tập cho biết chữ và đoàn kết chặt chẽ. (Trang tin điện tử Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh)

          - Ngày 9-5-1950, Bác dự Hội nghị Trung ương thảo luận về công tác chuẩn bị triệu tập Đại hội II. Phát biểu về vấn đề “đổi tên Đảng”, Bác cho rằng: “Đó là điều cần thiết..., bởi vì có như thế mới tập hợp được tất cả các phần tử tiên tiến trong công, nông, trí thức vào Đảng... dễ kêu gọi dân tộc hơn, vì ta đang cần đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp”. (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử)

          - Ngày 9-5-1961: Bác Hồ ra thăm đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Nói chuyện với cán bộ và bà con trên đảo, Bác động viên: “Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ…”. (Hồ Chí Minh Toàn tập - Tập 13, Nxb: Chính trị quốc gia - Sự thật 2011)

          - Ngày 9-5-1965, kỷ niệm 20 năm ngày Chiến thắng chủ nghĩa phát xít, Bác viết bài “Hai ngày kỷ niệm vẻ vang” với bút danh “Chiến Sĩ” đăng trên Báo Nhân dân, liên hệ với Chiến thắng Điện Biên Phủ để đi đến một kết luận mang tính thời sự: “Trước mắt đế quốc Mỹ chỉ có hai con đường: Một là tự động chấm dứt ngay chiến tranh và rút khỏi miền Nam một cách “lịch sự”. Hai là ngoan cố bị động chờ quân và dân miền Nam tống cổ chúng về nước mẹ Hoa Kỳ”. (Hồ Chí Minh Toàn tập - Tập 14, Nxb: Chính trị quốc gia - Sự thật 2011)

          - Trên Báo Nhân dân số 183 từ ngày 9 đến ngày 11-5-1954. Bác viết “Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”. Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài giáo dục chi bộ và cốt cán ở nông thôn.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hơn 80 năm thực dân Pháp đô hộ và tiến hành việc cải cách ruộng đất. Do vậy, yêu cầu đặt ra phải sớm xây dựng những cán bộ cốt cán gương mẫu, nhất là ở nông thôn để làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đạt được nguyện vọng của quần chúng. Phương pháp giáo dục dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, lý luận gắn với thực hành của Người thực sự đem lại hiệu quả tích cực, không gây áp lực, mang đến sự hào hứng và nhu cầu học tập thiết thực cho người học, để hiểu biết thêm, nâng cao thêm trình độ, gắn lý thuyết đã học vào giải quyết các công việc do thực tiễn đặt ra. Lời Bác dạy, là những chỉ dẫn quan trọng về phương pháp trong giáo dục, huấn luyện cán bộ, coi trọng cán bộ cấp huyện, xã, góp phần không nhỏ vào việc đào tạo một đội ngũ cán bộ cốt cán, thạo việc, tư tưởng thông, lập trường vững, giải quyết tốt các công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó và các vấn đề phát sinh từ thực tiễn…

          - Ngày 9-5-1954: Bác Hồ căn dặn "Lý luận gắn chặt với thực hành"

          Niềm vui của các chiến sĩ mới tại Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 692, Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội sau buổi huấn luyện.

          Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong giai đoạn đổi mới hiện nay, công tác giáo dục, nhất là giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chi bộ, được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, địa phương coi là công việc thường xuyên, gắn với chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ… đã có nhiều chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

          Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện trong Quân đội được Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, khoa học, sáng tạo, đã tích cực đổi mới huấn luyện theo hướng "cơ bản, thiết thực, vững chắc", coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu ở các cấp, huấn luyện cơ bản cho các đối tượng, trên tất cả các nội dung, theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ phân đoạn đến tổng hợp, từ luyện tập tổng hợp đến diễn tập vòng tổng hợp có bắn chiến đấu; kết hợp huấn luyện lý thuyết với thực hành, lấy huấn luyện thực hành làm chính; kết hợp huấn luyện với rèn luyện, huấn luyện chính khóa với huấn luyện ngoại khóa… đã trực tiếp nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy tác chiến của cán bộ, khả năng làm chủ vũ khí trang bị của bộ đội, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ chiến đấu của đơn vị, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

                                                                                                st

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh qua các bức thư gửi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An.

 - Với tình cảm sâu nặng của một lãnh tụ và là một người con của quê hương, trong những năm 1945 - 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều thư cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An. Những bức thư đó đã thể hiện sâu đậm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây cũng là khát vọng, mong muốn của Người đối với “quê hương nghĩa trọng tình cao”, trở thành “kim chỉ nam” cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An giành những thắng lợi to lớn qua các thời kỳ.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh qua các bức thư gửi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An

Bức thư Bác Hồ gửi đồng bào và cán bộ các dân tộc trong toàn huyện Quế Phong vào ngày 12-4-1966. Ảnh: baonghean.vn

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành muôn vàn tình yêu thương cho quê hương Nghệ An, từ khi nước nhà giành được độc lập cho đến khi “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Ngoài hai lần về thăm quê và những lá thư gửi chung cho nhân dân Liên khu IV, Bắc Trung Bộ; gửi đoàn viên và thanh niên công trường đường sắt Thanh Hóa - Nghệ An; Thư khen các lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An…, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi 23 bức thư cho Đảng bộ, chính quyền, cùng quân và dân Nghệ An(1). Qua các thư trên, Người đã gửi gắm những tình cảm sâu nặng đối với quê hương, đặc biệt là đã toát lên tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Điều đó có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, đặc biệt chú trọng phát huy vai trò sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, quyết tâm bảo vệ và giữ vững nền độc lập.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là phạm trù cao quý nhất: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(2). Người khẳng định, dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không địch nổi. “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”(3).

Vấn đề phát huy vai trò sức mạnh của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh và bằng những tiếp cận khác nhau. Trong thư ngày 17-9-1945, Người khẳng định vai trò, sức mạnh vô địch của sự đoàn kết toàn dân và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám: “Một phần là vì tình hình quốc tế thuận tiện cho ta. Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc”(4). Từ đó, Người kết luận: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”(5). Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An, ngày 21-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ thực hiện dân chủ với nhân dân và chăm lo bồi dưỡng, nâng cao sức dân, qua việc chỉ ra hai trong bốn nhiệm vụ trước mắt mà Đảng bộ, chính quyền Nghệ An cần triển khai là: “Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa” và  “hết sức chăm lo đời sống nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của dân chủ, coi dân chủ là động lực của sự phát triển, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong thư, Người chỉ ra những biện pháp, như: “mọi việc sản xuất, phân phối, quản lý kinh tế, bầu cử các cơ quan phụ trách đều phải để cho nhân dân bàn bạc kỹ và tự mình quyết định một cách thật sự dân chủ … Khiêm tốn lắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa những việc sai, làm công tác tốt hơn”(6); khuyến khích nhân dân tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng; bàn bạc dân chủ trong việc cải tiến quản lý kinh tế, cải tiến lề lối làm việc. Đối với các hợp tác xã, “nên chọn thời gian thích hợp để cho các xã viên hợp tác xã nông nghiệp thảo luận bản Điều lệ của hợp tác xã, cùng nhau bàn bạc nhằm thực hiện tốt bản Điều lệ đó”(7), còn ở các nhà máy, các cơ quan cũng “cần phát động cán bộ, công nhân bàn bạc dân chủ việc cải tiến quản lý kinh tế, cải tiến lề lối làm việc của đơn vị mình”(8) để nhằm mục đích làm cho sản xuất và công tác mau tiến bộ.

Người luôn yêu cầu phải hết sức chăm lo đời sống nhân dân, bồi dưỡng và nâng cao sức dân. Vừa lo cho dân có đời sống vật chất no đủ, vừa phải vun bồi đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú; hun đúc nhiệt huyết cách mạng của nhân dân ngày càng lớn, tình yêu Tổ quốc ngày một cao, lòng nhiệt tình với chế độ ngày một dày.

Người căn dặn những vấn đề cụ thể mà các cấp ủy đảng, chính quyền của Nghệ An cần quan tâm: “Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong. Trên miền Bắc nước ta, rất nhiều xã và hợp tác xã đã có thành tích khá về mặt này, như xã Nhân Trạch (tỉnh Quảng Bình), xã Đình Cao (tỉnh Hải Hưng). Tỉnh ủy nên phái cán bộ đến những nơi ấy học kinh nghiệm về làm cho tốt”(9).

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh qua những bức thư gửi cho Nghệ An còn thể hiện rõ quyết tâm giữ vững nền độc lập. Đó là ý chí quyết tâm “nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do” khi phải đương đầu với những kẻ thù có sức mạnh kinh tế - quân sự hàng đầu thế giới.

Giữa biết bao khó khăn, thách thức của công cuộc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, trong bức thư ngày 22-9-1945 gửi Nghệ An, Người vẫn luôn tin tưởng vào quyết tâm, đồng lòng của nhân dân với Chính phủ: “Khó thì khó thật, nhưng chúng ta quyết tâm; chúng ta vừa làm vừa học, nhất là chúng ta cố mà theo cho đúng chính sách của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua hết thảy những sự khó khăn đó”(10).

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, viết Thư cảm ơn đồng bào trại sản xuất Nghệ An, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tôi mong đồng bào hăng hái xung phong Thi đua ái quốc, làm cho đủ tự cấp tự túc và tiến bộ về mọi mặt. Mỗi người thi đua với nhau, các trại thi đua với nhau. Như thế nhất định tiến bộ và thành công”(11). Tháng 4-1949, trong thư gửi ông Hoàng Phan Kính (là Cậu) và Trần Lê Hữu (là Dượng) ở xã Nam Liên, huyện Nam Đàn (Nghệ An), Người viết: “Trong lúc kháng chiến và kiến quốc, nhân dân ta có những thành công to lớn, vẻ vang, nhưng cũng không khỏi có nhiều khuyết điểm. Chúng ta sửa chữa những khuyết điểm ấy dần dần. Chúng ta nhất định sửa chữa được, vì chúng ta quyết tâm sửa chữa”(12).

Trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược 1954-1975, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao quyết tâm trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: “Phải giành thắng lợi quyết định trong một thời gian, ta không nói mấy năm, mấy tháng, mấy ngày, nhưng trong một thời gian càng ngắn càng tốt”(13). Trong giai đoạn này, ngoài hai lần về thăm quê, nói chuyện với cán bộ, đảng viên, quân và dân tỉnh nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều bức thư cho tỉnh Nghệ An nhắn nhủ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Ngày 10-3-1966, Người gửi thư khen quân và dân Nghệ An và nhắc nhở: “Bác nhắc đồng bào và cán bộ chớ vì thắng lợi mà chủ quan. Cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, phải chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, kiên quyết đập tan mọi thủ đoạn man rợ của giặc Mỹ và cố gắng giành nhiều thắng lợi vẻ vang hơn nữa”(14). Ngày 16-9-1966, Người đã gửi thư khen quân và dân thành phố Vinh, thể hiện quyết tâm sắt đá - quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, xâm lược: “Quân và dân thành phố Vinh cần luôn luôn phát huy truyền thống Xôviết Nghệ - Tĩnh anh hùng, nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hăng hái thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa”(15). Quyết tâm đó lại được Người đề cập trong Thư gửi cán bộ và nhân viên nhà thương Nghệ An ngày 16-3-1967: “Bác rất vui lòng khen các cô, các cháu và mong tất cả mọi người đoàn kết tốt và tiến bộ nhiều, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước thắng lợi”(16). Trong Thư khen quân và dân Nghệ An ngày 22-7-1968, ngoài gửi lời khen ngợi, Người chỉ rõ: “Giặc Mỹ đã thua to nhưng chúng còn nhiều âm mưu độc ác. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta còn khó khăn gian khổ nhưng nhất định thắng lợi”(17). Trong Thư gửi đội thanh niên xung phong số 333, Người nhắc nhở: “Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”(18). Trong bức thư cuối cùng gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An, Người viết: “Một điều phải luôn luôn nhớ là: Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đang ở vào thời kỳ quyết liệt. Đế quốc Mỹ đã bị thua đau, nhưng còn rất ngoan cố. Quân và dân ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững công tác phòng không sơ tán, củng cố hầm hào. Cố gắng góp nhiều công sức hơn nữa để cùng quân dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”(19).

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyết tâm bảo vệ nền độc lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An đã nỗ lực chiến đấu, xây dựng quê hương, chi viện miền Nam, góp phấn làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thứ hai, khát vọng xây dựng, phát triển Nghệ An giàu mạnh, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đường lối kiến thiết đất nước, từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, cường thịnh luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cách cụ thể, phù hợp, sáng tạo và quyết liệt.

Khát vọng xây dựng, phát triển Nghệ An giàu mạnh, hạnh phúc cho nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập trong các bức thư gửi Đảng bộ, chính quyền cùng quân và dân Nghệ An. Qua thư gửi ông Hoàng Phan Kính và Trần Lê Hữu, tháng 4-1949, Người đã thể hiện những tình cảm họ tộc, gia đình đằm thắm và khát vọng: “làm cho Nam Đàn thành một huyện kiểu mẫu, Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc”(20). Bốn tháng sau, trong Thư gửi đồng bào Nghệ An, Người viết: “Tỉnh ta đã có đà khá vững để tiến bộ mọi mặt. Mong đồng bào tiếp tục thi đua và giúp nhau thi đua làm cho Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc”(21). Trong thư ngày 21-7-1969, Người nêu một khát vọng, một di huấn cho quê nhà trước lúc đi xa: “Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”(22).

Mong muốn xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh kiểu mẫu, nhân dân hạnh phúc, Người luôn dành sự quan tâm động viên đồng bào Nghệ An cố gắng vươn lên về mọi mặt.

Được tin cụ bà Nguyễn Thị Xuyên 100 tuổi ở xã Nghi Tân, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, dù tuổi cao sức yếu, song vẫn hăng hái xung phong đi học, để làm gương mẫu cho con cháu noi theo, tháng 4-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen, qua đó nhằm động viên khích lệ nhân dân Nghệ An: “Tôi mong rằng đồng bào tỉnh ta đều noi gương ham học của bà cụ, đều hăng hái tham gia bình dân học vụ, để sớm thanh toán nạn mù chữ trong cả tỉnh”(23). Khi Người được báo cáo về cụ Vi Văn Đảng ở xã Kim Đa, huyện Tương Dương, Nghệ An đã 120 tuổi mà vẫn hăng hái đi học chữ quốc ngữ, ngày 11-3-1957 Người đã gửi thư khen và mong muốn: “Tôi mong rằng đồng bào trong xã, trong huyện đều noi gương Cụ, cố gắng đi học để thanh toán nạn mù chữ trong cả địa phương”(24).

Trong bức thư ngày 21-7-1969, Người nhấn mạnh yêu cầu Đảng bộ Nghệ An cần ra sức lãnh đạo thực hiện khôi phục và phát triển kinh tế một cách toàn diện, xem đây là một nhiệm vụ cấp thiết và phải làm cho tốt, bởi “Nghệ An có rừng, có biển”. Người đã chỉ ra những phương hướng, nhiệm vụ cụ thể nhằm phát triển kinh tế của Nghệ An. Đối với nông nghiệp, phải đẩy mạnh chăn nuôi và trồng các cây công nghiệp để có nhiều nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hóa cho xuất khẩu, trước mắt, phải ra sức chống hạn, cố gắng cấy mùa đúng thời vụ, nhằm “làm ra nhiều lương thực, thực phẩm để nâng cao đời sống nhân dân và đáp ứng yêu cầu của Nhà nước”(25). Cần làm tốt hơn nữa việc khai thác gỗ và các loại lâm sản; có kế hoạch trồng cây và bảo vệ rừng, nhanh chóng khôi phục và phát triển nghề đánh cá, phát triển nghề muối. Về phát triển kinh tế miền núi, phải làm tốt việc định canh, định cư cho đồng bào miền núi, cần chỉ đạo chặt chẽ và có cán bộ tốt người dân tộc để vận động nhân dân. Về công nghiệp và thủ công nghiệp: phải sản xuất nhiều công cụ làm đất, tưới tát, vận chuyển... nhằm “cung cấp nhiều hàng tiêu dùng tốt và rẻ cho nhân dân”(26). Có như vậy mới thực sự đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Qua các bức thư gửi tỉnh Nghệ An, trong muôn vàn tình yêu thương của Người dành cho “quê hương nghĩa trọng tình cao”, còn có trách nhiệm của người đứng đầu đất nước đối với một địa phương. Đồng thời, hơn ai hết, Người hiểu rõ những khó khăn về địa thế, thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên... mà chính sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên ấy đã hun đúc con người xứ Nghệ chịu thương, chịu khó, ý chí bền bỉ, kiên cường, bất khuất, vượt lên trong khó khăn, trong đấu tranh giải phóng dân tộc và giàu tình yêu thương, lạc quan và kiên định.

Nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển tỉnh Nghệ An trở thành tỉnh kiểu mẫu, nhân dân hạnh phúc trở thành tài sản vô giá, là “kim chỉ nam” cho Đảng bộ, chính quyền quân và dân Nghệ An giành được những thành tựu to lớn qua các thời kỳ cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay. 

CẦU XIN THA THỨ


          Đan Nguyên tên thật là Nguyễn Đặng Đan, là một ca sĩ Việt Nam ở Hải ngoại chuyên dòng nhạc vàng nhưng lại hát nhiều bài có nội dung phản động như: Anh là ai?; Việt Nam tôi đâu?; Trả lại cho dân lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền phản ánh sai hoàn toàn thực trạng tại Việt Nam; các bài nhạc lính VNCH khắc sâu vào những việc làm sai trái của chế độ tay sai của thực dân Mỹ- Nguỵ quyền Sài Gòn và bị cấm lưu hành tại Việt Nam, chuyên cầm, vẫy cờ ba sọc phản động và biểu diễn nhiều chương trình chống phá cho hai trung tâm phá hoại tư tưởng về văn hoá là ASIA và Thuý Nga. Đặc biệt, Đan Nguyên từng tuyên bố chừng nào Cộng sản còn thì sẽ không quay trở về Việt Nam.

          Tuy nhiên, cũng như những kẻ chống phá khác là Chế Linh, Khánh Ly, Ngọc Huyền, Bằng Kiều, Phương Dung đều “làm trái lời thề” của bản thân mình. Tìm cách quay trở về Việt Nam. Đằng sau lý do quay trở về đó là gì thì chúng ta cũng tiếp tục theo dõi nhưng rõ ràng một điều rằng việc quay trở về như một lời “CẦU XIN THA THỨ” của chính những kẻ đã từng làm tay sai nhiều năm cho giặc này.

          Về tài năng thì chúng ta thừa nhận Đan Nguyên là một giọng hát hiếm có trong làng nhạc vàng, điều đó không ai chối cãi mà cũng chẳng chối cãi làm gì vì nó vốn sờ sờ trước mắt chúng ta. Tuy nhiên, đạo đức và chính trị thì thực sự tỷ lệ nghịch với tài năng đó. Bất cứ ai dù ở mức độ, có tài đến mấy mà chống lại quê hương, Tổ quốc thì những kẻ đó không bao giờ xứng đáng với dòng dõi Tổ tiên. Việc này thì không cần nói, ai cũng sẽ cảm nhận và khắc ghi. Dẫu biết rằng tình hình dịch bệnh, thiên tai, c.hi.ến tr.anh thời gian qua đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân trong đó có cả số chống đối, phản động ở nước ngoài. Khi khó khăn, họ tìm về “đất mẹ”, muốn quy đầu để mong tha thứ và còn “kiếm cơm” cho cuộc sống. Nhưng Đan Nguyên hay những kẻ khác hãy nhớ rằng, mặc dù đất nước này nhân đạo, sẵn sàng thứ tha cho những đứa con lầm lỗi nhưng không có nghĩa là dễ dãi, quên hoặc bỏ qua những gì mà các người đã làm. Một hạt cát “từ thiện” cho có không đủ xoá mờ đi những tội lỗi chồng chất đã gây ra đâu. Thế nên, hãy nhớ, hãy thật tâm “quay đầu là bờ”, hối cải làm người cho tốt.