Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Không thể xem nhẹ mối nguy hại của chủ nghĩa cá nhân

 

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể).

CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

 Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

Nên nhớ, CNCN chỉ hình thành, tồn tại và “ký sinh” như ung nhọt trong cơ thể, nhân phẩm mỗi con người cụ thể. Do đó, chống CNCN trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi cá nhân, giống như mỗi người phải có trách nhiệm chăm lo sức khỏe bản thân, làm cho đời sống tinh thần trở nên sạch sẽ, lành mạnh.

Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Thay vào đó, hãy cố gắng tìm trong bản thân xem mình làm điều đó đúng hay sai; có gây tổn hại gì đến người khác không? Có làm điều gì đó trái với luân thường, đạo lý hay không? Có tuân theo các nguyên tắc phổ quát về chân, thiện, mỹ? Một khi, mỗi cán bộ, đảng viên đều nhất quán quyết tâm tự làm mới, tự hoàn thiện bản thân bằng thực tiễn cách mạng thì chắc chắn CNCN sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi.

Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để.

Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên./.

LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” - ĐÒN ĐÁNH NHAM HIỂM NHẰM LÀM SUY YẾU QUÂN ĐỘI TỪ GỐC

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.

Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).

Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 

Nhận diện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc thông qua việc kích động kỳ thị dân tộc

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Yêu cầu, giải pháp xây dựng Đảng về văn hóa và đạo đức

 

Trong suốt chiều dài lịch sử Đảng, cùng với việc chú trọng xây dựng nền văn hóa có tính chất “dân tộc, khoa học, đại chúng”; “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, tuy chưa có nghị quyết riêng xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức hay xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quan tâm tới nội dung này. Trong nhiều bài viết của Hồ Chí Minh hay nghị quyết của Đảng về xây dựng văn hóa, xây dựng Đảng, đều dành một phần để bàn về xây dựng văn hóa trong Đảng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có nhân cách văn hóa.

Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu, nhất quán vấn đề đạo đức. Bắt đầu sự nghiệp cách mạng, Người bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho cán bộ và đảng viên. Người coi đạo đức như nguồn của sông, gốc của cây, bốn mùa của thiên nhiên, thiếu một đức thì không thành người. Cán bộ, đảng viên lại càng cần đạo đức, vì “những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Các nghị quyết của Đảng, đặc biệt người đứng đầu Đảng ta nhiều lần khẳng định cán bộ, đảng viên nếu không tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài thì rất dễ rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tệ hại. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng ta đặt trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đề cao sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Có thể khẳng định, trong sự nghiệp đổi mới, sự bổ sung, phát triển của Đảng ta về văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng đã tạo ra một tiền đề cơ bản để chúng ta quán triệt và tổ chức triển khai trong thực tế việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức, coi đạo đức và văn hóa là những mục tiêu quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhờ chú trọng xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng mà qua hơn 35 năm đổi mới - như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, được ghi trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng - đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Yêu cầu xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức còn do thực tế văn hóa và đạo đức trong Đảng những năm qua - bên cạnh những thành tựu như đã nêu - còn nhiều hạn chế, khuyết điểm đáng quan ngại. Qua hơn 35 năm đổi mới, chưa bao giờ Đảng và nhân dân ta bị tổn thất lớn về đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược ở vị trí Ủy viên Bộ Chính trị, các tướng lĩnh trong Quân đội và Công an nhân dân như những năm qua. Sự xuống cấp về văn hóa và đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII đều chỉ ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Dưới góc độ văn hóa đạo đức, văn hóa bổn phận, văn hóa tự phê bình và phê bình và nhân cách văn hóa, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh nguy hại nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân... Những biểu hiện đó không còn dừng lại ở tham nhũng, không chỉ là vấn đề kinh tế mà là sự tha hóa về văn hóa, vô văn hóa, phản văn hóa như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Có thể nói, những năm qua chúng ta chưa thật sự chú ý, hoặc có chú ý nhưng chưa được xác định đúng tầm vai trò của văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta chưa có một nghị quyết riêng xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Những bất cập đó chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cả cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, quản lý đứng đầu, gây hệ lụy tác động tiêu cực đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, đến xây dựng con người và môi trường văn hóa, đặc biệt làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, mà “để mất niềm tin là mất tất cả”.

Để xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức, trước hết, tiếp tục giáo dục và tự giáo dục để nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa và đạo đức trong xây dựng Đảng. Thông qua nhiều cách thức, hình thức, biện pháp khác nhau, Đảng phải tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên hiểu thấu ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa nói chung, văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng nói riêng. Đảng phải giáo dục cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện để đề ra các giải pháp phù hợp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về văn hóa, đạo đức trong Đảng.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm công bộc, phục vụ Tổ quốc và nhân dân. Nói về văn hóa, yếu tố tự giác là cực kỳ quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu phải tự nhận thấy mình cần phải làm gì, tự mình phải tu thân, chính tâm, không chờ tổ chức, chờ Đảng thúc giục.

Cách mạng là hành động tự giác. Tự giáo dục phải làm thường xuyên như chuyện rửa mặt hằng ngày, vì một ngày không tự soi tự sửa rất dễ đi tới cái ác, làm bậy, hư hỏng. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ hai, xét lại những văn kiện, nghị quyết liên quan đến xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Phải làm theo lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những chỉ thị và nghị quyết đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. Đảng chưa có nghị quyết riêng về văn hóa, đạo đức trong xây dựng Đảng, nhưng các nghị quyết, chỉ thị về văn hóa, đặc biệt là các nghị quyết trung ương về xây dựng Đảng, ở các mức độ khác nhau đều đề cập đến văn hóa và đạo đức. Mỗi một lần ra nghị quyết Đảng phải có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, kiên quyết bằng mọi cách tìm ra nguyên nhân bệnh để ngăn ngừa, chữa trị tận gốc sự tha hóa về văn hóa, đạo đức.

Thứ ba, cần có một nghị quyết chuyên đề xây dựng Đảng về văn hóa, đạo đức. Câu nói sâu sắc, ngắn gọn của Hồ Chí Minh “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, “văn hóa lãnh đạo quốc dân” mà Tổng Bí thư nhắc lại hàm chứa nhiều nội dung, ý nghĩa, nhưng quan trọng nhất là nói tới văn hóa chính trị, văn hóa Đảng, xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa.

Văn hóa chính trị, văn hóa Đảng có sứ mệnh soi đường cho quốc dân đi, lãnh đạo quốc dân không thể chỉ đề cập ngắn gọn trong nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người nói chung, trong các nghị quyết xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà cần có một nghị quyết riêng. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng mà nếu thực hiện được chắc chắn sẽ góp phần to lớn vào nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao tầm lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.

Cần nhận rõ “dân chủ”, “nhân quyền” là mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta

Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết. Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền. Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ. Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc. Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.

CẦN NHỮNG TIẾNG SÚNG LỆNH!


Liên Xô hùng mạnh, to lớn gần như bất khả chiến bại trước súng đạn của kẻ thù. Nhưng đã đổ gục vì sự phá hoại tư tưởng ghê gớm của những kẻ trở cờ, phản bội, suy thoái. Chúng ngấm ngầm như những con vi trùng, ri rút, âm thầm gieo rắc bệnh tật và công khai phát tác như ung thư giai đoạn cuối, khi đã hoàn toàn đánh gục "hệ miễn dịch" của cơ thể.
Những kẻ cơ hội chính trị; năng lực, trình độ, phẩm chất yếu kém, đạo đức suy đồi, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, phản bội... nhờ sự gian manh, khéo luồn lách đã chui vào các vị trí quan trọng, lĩnh vực có sức ảnh hưởng xã hội lớn như: báo chí, giáo dục, văn hóa nghệ thuật... Chúng như những loài vi trùng, vi rút, ngấm ngầm phá hoại, "rút gạch", "đổ nước chân tường"; tấn công vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; sử dụng chính "năng lượng", "sức mạnh" từ cơ thể của chế độ để phát tác bệnh tật, tấn công, phá hoại, loại bỏ hệ miễn dịch của chế độ XHCN.
Hãy nhìn thẳng vào những "khối u", những vết thương lở loét, nhức nhối trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của chúng ta hiện nay, khi: bọn cơ hội, suy thoái tư tưởng chính trị, trở cờ, phản bội ngày càng lộng hành; báo bẩn, báo láo, báo lá cải tác quái; chủ nghĩa "xét lại" ngóc đầu lên mạnh mẽ... đã làm cho "trắng đen lẫn lộn", "chính tà bất minh"! Kẻ sỹ, những người kiên trung thì như lạc vào ma trận, không thấy rõ phương hướng; bọn gian tà thì ẩn hiện phá hoại, nhởn nhơ, dương dương tự đắc!...
Chúng tôi với sự tin yêu, biết ơn Đảng, chế độ XHCN, thực tâm mong muốn sẽ có một sự thay đổi quyết liệt từ Trung ương trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; cần nhìn nhận, đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa; đưa ra các biện pháp đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, khéo léo! Hãy nổ những phát súng lệnh quy tụ sức mạnh, sức đề kháng của toàn Đảng, toàn xã hội - Nhân dân chúng tôi luôn tin tưởng và đồng hành, ủng hộ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng!
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Tổng Bí thư NGUYỄN PHÚ TRỌNG gần đây đã đúc kết và cảnh báo nhiều lần: Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lái số‘ng dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóá" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, CƠ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dãn tộc.'

Góc nhìn pháp luật: vụ Nguyễn Phương Hằng

 

VKS yêu cầu điều tra bổ sung vụ bà Nguyễn Phương Hằng

    Ngày 6/9, VKSND TP HCM trả hồ sơ vụ án Nguyễn Phương Hằng, 51 tuổi, Tổng Giám đốc Công ty Cổ Phần Đại Nam, bị đề nghị truy tố về tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự; khung hình phạt cao nhất 7 năm tù.

VKS yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ hành vi của một số người có dấu hiệu đồng phạm với bà Hằng, giải quyết việc Công an Bình Dương đề nghị nhập hành vi bà Hằng thực hiện tại địa bàn này vào vụ án Công an TP HCM đang điều tra...

Bà Hằng trước đây mang tên Nguyễn Thị Thanh Tuyền, đến năm 2010 đổi tên như hiện tại. Bà là đại gia bất động sản, vợ của doanh nhân Huỳnh Uy Dũng (tức Dũng "Lò Vôi"), có quốc tịch Việt Nam và Cộng hòa Cyprus.

Tổng Giám đốc Công ty Cổ Phần Đại Nam bị cáo buộc lợi dụng sức ảnh hưởng của mình trên mạng xã hội, tổ chức nhiều buổi livestream trên Youtube, Facebook, TikTok về nhiều chủ đề, nhiều nội dung chưa được kiểm chứng; chuyện bí mật đời tư, cuộc sống riêng của nhiều cá nhân. Một số nội dung bà này nói sai sự thật, sử dụng những ngôn từ "mang tính chất nhục mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm" của những người liên quan. Các buổi livestream đều có hàng trăm nghìn người theo dõi.

Cơ quan điều tra cho rằng bà Hằng xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của bà Nguyễn Thị Mỹ Oanh (ca sĩ Vy Oanh), ông Võ Nguyễn Hoài Linh (nghệ sĩ Hoài Linh)... Bà này có cả ê kíp hỗ trợ, đạo diễn kịch bản truyền thông, mời khách, phân vai đả kích người khác nên cần làm rõ vai trò và động cơ, xem xét dấu hiệu tội phạm. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các nội dung liên quan, khi nào có kết quả sẽ tiếp tục xử lý.

Quá trình điều tra, bà Hằng thừa nhận các thông tin nói về những người này là do mình "nằm mơ", lấy trên Internet và chưa được kiểm chứng.

Nhà chức trách xác định hành vi của Hằng là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Bị can là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Trước khi bắt tạm giam vào tháng 3, bà Hằng bị Công an TP HCM bốn lần mời lên làm việc để cảnh báo, răn đe và yêu cầu chấm dứt hành vi phát ngôn ảnh hưởng đến người khác. Tuy nhiên, bà này không chấp hành và bày tỏ thái độ coi thường pháp luật, thách thức, tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động tụ tập đông người gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

Ngoài địa bàn TP HCM, Công an tỉnh Bình Dương cũng nhận đơn của 7 người tố cáo bà Hằng đăng các thông tin vu khống gây mất uy tín của họ. Khi xác minh, cơ quan điều tra đã thu thập 53 buổi livestream của bà này, xác định có căn cứ khởi tố vụ án. Tuy nhiên, do trước đó Công an TP HCM cũng đã khởi tố bị can, bắt tạm giam bà Hằng về cùng hành vi, nên Công an Bình Dương chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan để Công an TP HCM nhập vào điều tra.

LẠC PHONG

“Xã hội dân sự” trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ đa nguyên, đa đảng

Hiện nay, xu hướng mang tính phổ biến trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia là mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Theo đó, xã hội dân sự được cộng đồng quốc tế rất quan tâm, coi đó là một nhân tố của xã hội hiện đại, một tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của chế độ xã hội ở một quốc gia. Nhiều văn kiện của các tổ chức quốc tế và khu vực đã có các quy định về quyền con người, về xã hội dân sự, tổ chức “xã hội dân sự”. Nhiều tổ chức “xã hội dân sự” đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm thực thi dân chủ, nhân quyền; góp phần tích cực vào thúc đẩy dân chủ hóa và xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, v.v. Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình. Nhìn chung, các hoạt động chống phá dựa trên công cụ là tổ chức “xã hội dân sự” trá hình mà họ thường sử dụng, tập trung vào các thủ đoạn chủ yếu sau: Một là, đề cao vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức giả danh “xã hội dân sự”, hướng lái hoạt động của các tổ chức này dần đối lập về tư tưởng chính trị với Nhà nước ta. Hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp. Một số tổ chức “xã hội dân sự” không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; hướng lái mục tiêu hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của một số nhóm người, đối lập với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để hướng lái các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật. Bốn là, gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển,... gây phương hại đến an ninh quốc gia. Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ quan trọng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, với các hướng: - Thứ nhất là, gia tăng hoạt động truyền bá “xã hội dân sự” nhằm gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình ở Việt Nam. - Thứ hai là, tiếp tục tác động, can thiệp vào vấn đề “dân chủ“ “nhân quyền”, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình. - Thứ ba là, tập trung tuyên truyền, tác động để phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm gây dựng, phát triển lực lượng cho các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị đối lập. - Thứ bốn là, gia tăng tác động nhằm chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” theo hướng đối lập với Nhà nước ta. Từ đó, trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống phá chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. - Thứ năm là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ tuyên truyền, tác động tư tưởng, kích động, lôi kéo, tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân, kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội nhằm chuẩn bị điều kiện để phát động các hoạt động gây rối, như: “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”,... để thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Xung đột giữa Nga và Ukraine – những vấn đề không thể “xuyên tạc”

 Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Chiêu bài đó, đã và đang được thực hiện lại trong những ngày qua, khi chính trường thế giới liên tục dậy sóng trước những căng thẳng leo thang xoay quanh quan hệ giữa Nga và Ukraine mà điểm nút là khi Tổng thống Nga Putin phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine (24/02/2022).

Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”…

Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài.

Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau:

- Đầu tiên, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột.

- Khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình.

- Thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Thông qua các phát biểu gần đây của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tại buổi họp báo diễn ra vào ngày 23/2 cũng như phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp quốc tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 01/3 đều khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine.

- Hơn thế nữa, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Thêm một điều không thể phủ nhận đó là, Việt Nam - một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Thực tế cho thấy, việc giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ giữa Nga và Ukraine, trước tiên phải là trách nhiệm của các bên liên quan, Việt Nam sẽ tham gia khi đảm bảo các điều kiện về đối nội và đối ngoại, có nghĩa là khi cộng đồng quốc tế chính thức vào cuộc và lợi ích quốc gia – dân tộc được đảm bảo. Trong ngày thứ 2 của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp quốc; đồng thời bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã phần nào minh chứng được, vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình thế giới.

Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Lạc Phong

Lá thư “thiêng” từ Thành cổ Quảng Trị anh hùng

Bảo tànց Thành cổ Quảnց Trị đɑnց lưu ցiữ và trưnց bàу rất nhiều di vật, hình ảnh của các chiến sĩ đã ɑnh dũnց hу sinh. Nhưnց xúc độnց và lấу đi nước mắt củɑ nցười đời nhiều nhất chính là bức thư đặt tronց lồnց kính củɑ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh (sinh viên năm 4, Khoɑ Hầm cầu, Trườnց Đại học Bách khoɑ Hà Nội, trú tại huуện Kiến Xươnց, tỉnh Thái Bình) để lại đất nàу hơn 40 năm trước.

Trước ցiâу phút hу sinh, ɑnh đã để lại nhữnց dònց chữ như lời “tiên tri” ցửi đến mẹ, vợ và nցười thân về linh cảm nցàу ɑnh sẽ nằm lại ở Thành cổ Quảnց Trị ɑnh hùnց. Đó là lá thư “thiênց” củɑ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh.

Bức thư được xem như là bản “di chúc” thiênց liênց củɑ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, được viết từ chiến trườnց Thành cổ Quảnց Trị tronց 81 nցàу đêm khói lửɑ, được ցiɑ đình, bạn bè và đồnց đội cất ցiữ và trɑo tặnց cho Bảo tànց Thành Cổ Quảnց Trị sɑu 40 năm.

Quɑ thời ցiɑn, Trunց tâm Bảo tồn Di tích và Dɑnh thắnց tỉnh Quảnց Trị đã tiến hành phục chế, sɑo bản lại bức thư như nցuуên bản và tổ chức hành hươnց về quê hươnց Kiến Xươnց (Thái Bình) để trɑo lại cho ցiɑ đình. Bức thư được liệt sĩ Lê Văn Huỳnh dự cảm về nցàу mất củɑ mình. Anh viết nցàу 11/9/1972, trước nցàу ɑnh hу sinh đúnց 3 thánց 20 nցàу (hу sinh nցàу 2/1/1973).

Bɑo nhiêu nցười đến Thành cổ Quảnց Trị đều rơi lệ trước tình cảm mà nցười lính dành cho ցiɑ đình, khâm phục tinh thần quả cảm, bất khuất và kinh nցạc trước sự linh thiênց củɑ hươnց hồn nցười liệt sĩ. Dườnց như trước khi đến chiến trườnց Quảnց Trị, liệt sĩ Huỳnh đã linh tính rằnց có nցàу đất nước tɑ thốnց nhất vɑ̀ nցɑ̀у đó lɑ̀ nցɑ̀у ɑnh vĩnh viễn nằm lại với đất.

Nhưnց ɑnh vẫn khắc khoải, dɑу dứt lỡ mɑi đâу “Nɑm Bắc sum họp một nhà” thì cũnց đừnց quên nấm mồ củɑ ɑnh: “Nếu mɑi đâу bɑ̣n về chốn cũ/Tìm ցiúp tôi nցười mẹ thươnց уêu/Nói với nցười rằnց vì nցhĩɑ vụ/Đứɑ con thơ đɑ̃ thɑ́c một chiều”.

Xin chiɑ sẻ nցuуên văn lá thư “thiênց” củɑ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh:

“Quảnց Trị, nցàу 11/9/1972

Toàn ցiɑ đình kính thươnց!

Hôm nɑу con nցồi đâу biên vài dònց chữ cuối cùnց, phònց khi đã “đi nցhiên cứu bí mật tronց lònց đất”, thì ցiɑ đình khỏi thấу đó là điều đột ηցột.

Mẹ kính mến! Thư nàу tới mẹ là con đã đi xɑ rồi. Chắc mẹ đɑu buồn lắm. Lớn lên tronց vònց tɑу mẹ từ khi còn trứnց nước, chưɑ kịp báo đáp cônց ơn sinh thành, ցiờ con đi xɑ là để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.

Con rất hiểu đời mẹ đã đɑu khổ nhiều, nhưnց mẹ hãу lɑu nước mắt để sốnց đến nցàу đón mừnց chiến thắnց. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũnց nằm bên mẹ. Coi như con đã sốnց trọn đời cho Tổ quốc mɑi sɑu…

Em уêu thươnց. Mọi lá thư đến với em đều là nցuồn độnց viên em khi xɑ ɑnh. Sonց, lá thư nàу đến tɑу em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúnց tɑ sốnց với nhɑu chưɑ được bɑo lâu, thì chiến trαnh đã cướp đi củɑ em biết bɑo уêu thươnց, trìu mến. Nցười tɑ lấу chồnց thì được chiều chuộnց mọi điều. Em chưɑ được hưởnց diễm phúc ấу đã phải xɑ ɑnh….

Anh biết em sẽ khônց đọc nổi lá thư nàу, nhưnց em hãу ցạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ monց em khỏe, уêu đời, nếu có điều kiện, hãу cứ đi bước nữɑ, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ monց em sẽ luôn nhớ đến ɑnh và hãу thắp hươnց cho ɑnh vào nցàу ցiỗ ɑnh. Hãу là nցười con dâu hiếu thảo củɑ mẹ, là nցười em nցoɑn củɑ các ɑnh chị ɑnh…

Sɑu nàу hòɑ bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nɑm, hãу mɑnց hài cốt ɑnh về. Đườnց đi như sɑu: Đi tàu vào thị xã Quảnց Trị, quɑ sônց Thạch Hãn là nơi ɑnh đã hу sinh khi đưɑ hànց quɑ sônց vào nցàу 2/1/1973. Từ thị xã quɑ cầu, nցược trở lại, hỏi thăm thôn Nhɑn Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dònց nước thì ở cuối lànց. Đến đó sẽ tìm thấу tấm biɑ ցhi tên ɑnh đục trên mảnh tôn. Mộ ɑnh ở đó… Em sẽ đọc lá thư nàу cho mọi nցười tronց ցiɑ đình nցhe tronց buổi lễ truу điệu ɑnh. Cho ɑnh ցửi lời chúc sức khỏe tất cả nhữnց nցười quen thuộc trên quê hươnց tronց buổi truу điệu lịch sử nàу…

Chào mẹ, chào em, chào tất cả ցiɑ đình và lànց xóm quê hươnց”. 


Công an Đà Nẵng bắt giam đối tượng tuyên truyền chống phá Nhà nước

NDO - Chiều tối 7/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (sinh năm 1984, trú phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

0:00/0:00
0:00
Cơ quan Công an khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm. (Ảnh: cơ quan công an cung cấp)
Cơ quan Công an khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm. (Ảnh: cơ quan công an cung cấp)

Theo cơ quan điều tra, Bùi Tuấn Lâm là thành viên của một số tổ chức gọi là “Tổ chức xã hội dân sự”, mà thực chất là các hội, nhóm chống Đảng, Nhà nước và các tổ chức phản động lưu vong.

Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình gây rối…

Từ 2013 đến nay, Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ xúy các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, đối tượng này còn đăng tải, chia sẻ các bài viết xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật với mong muốn, mục đích thay đổi chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Mặc dù Công an thành phố Đà Nẵng và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo, tuy nhiên Bùi Tuấn Lâm bày tỏ thái độ bất hợp tác, thách thức, không từ bỏ hoạt động vi phạm mà ngày càng công khai, quyết liệt chống phá.

Việc Bùi Tuấn Lâm bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra là kết cục tất yếu của một chuỗi quá trình hoạt động vi phạm pháp luật và chống phá Nhà nước với ảo tưởng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Na