Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP LỊCH SỬ - NHỮNG GIÁ TRỊ VĨNH CỬU

 

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân  Pháp đã thống trị nước ta hơn 80 năm và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn Độc lập kết tinh các giá trị của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng như kế thừa và phát triển các giá trị của các cuộc cách mạng trên thế giới trong đó có Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp năm 1791.

      Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi. Mở đầu là Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Tuyên ngôn Độc lập lịch sử do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Là người quyết tâm "dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” nên ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho ngày tuyên bố độc lập. Ngày 23/8/1945 Hồ Chí Minh rời an toàn khu Việt Bắc về Hà Nội nghỉ và làm việc tại một cơ sở cách mạng ở xã Phú Thượng, hôm sau chuyển đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là cửa hàng mang tên Phúc Lợi của gia đình ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ - một doanh nhân buôn bán tơ lụa nổi tiếng giàu có và yêu nước tại đất Hà Thành.

Tại đây, Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn việc mở rộng thành phần Ủy ban Dân tộc Giải phóng, chuẩn bị bản Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội để tuyên bố thành lập chính thể mới. Ngày 27/8/1945, tại cuộc họp của Ủy ban Dân tộc Giải phóng, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Chiều hôm đó, Người đưa bản thảo Tuyên ngôn Độc lập để các thành viên Chính phủ xét duyệt và đề nghị duyệt kỹ vì "không phải chỉ để đồng bào cả nước ta nghe, mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh nghe". Từ ngày 28/8/1945, Hồ Chí Minh tập trung công sức vào việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập và thường mời một số cộng sự như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Khuất Duy Tiến... đến bàn thảo. Cho đến tận ngày 31/8/1945 Người vẫn bổ sung một số điểm mới để hoàn chỉnh dự thảo và tâm sự với các cộng sự: "Trong đời mình đã viết nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy".

      Bản Tuyên ngôn Độc lập có 49 câu với 1.120 từ đã nói lên nguyện vọng của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc khác trên thế giới, trong đó quyền sống hạnh phúc và quyền tự do là những quyền cơ bản và không tách rời nhau thể hiện ở đoạn: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tư tưởng đó là nền tảng cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới của nhân dân Việt Nam như đã được nói trong Tuyên ngôn Độc lập: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

     Ngày 5/9/1945, Báo Cứu quốc số 36, đăng toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập dưới đó ký tên 15 thành viên của Chính phủ lâm thời gồm: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn, Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Tố, Vũ Trọng Khánh, Phạm Ngọc Thạch, Đào Trọng Kim, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Nguyễn Văn Xuân.

      Đến nay đã 77 năm trôi qua kể từ ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Thế giới và đất nước đã đổi thay song những tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập vẫn còn nguyên giá trị. Tuyên ngôn Độc lập là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám - một cuộc cách mạng tất yếu, hoàn toàn không phải là một "cuộc đảo chính", một sự kiện "ngẫu nhiên" hoặc "gặp may" như một số người ngộ nhận. Tuyên ngôn Độc lập là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà còn trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

KHÔNG GÌ CÓ THỂ CẢN TRỞ NỔI DÂN TỘC VIỆT NAM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG VƯƠN TỚI KHÁT VỌNG THỊNH VƯỢNG VÀ HÙNG CƯỜNG

 

Năm 1945, Đại chiến thế giới lần thứ II đi vào kết thúc với thắng lợi của các lực lượng dân chủ cùng phe Đồng minh để đánh bại phe phát xít; thế giới có thêm nhiều quốc gia độc lập ra đời. Ở khu vực Đông Nam Á, lần đầu tiên xuất hiện một quốc gia hoàn toàn mới với tên đầy đủ là Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Trên bản đồ, đất nước vừa "giũ bùn đứng dậy sáng lòa" ấy chỉ ghi hai chữ Việt Nam và ở chấm đỏ đánh dấu thủ đô Hà Nội, chiều ngày 2/9 phát đi lời Tuyên ngôn Độc lập khẳng định "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".

Thực ra trong lịch sử chống chế độ áp bức, không thiếu các dân tộc "gan góc" đấu tranh, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thế giới khi các đế quốc bận lao vào xâu xé tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng, nhiều dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã chớp thời cơ chung để vùng dậy giải phóng mình.

Điều đáng chú ý nhất lúc này là trong hoàn cảnh chung và điều kiện mới của Chiến tranh thế giới lần thứ II, có một dân tộc Việt Nam "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm", nay lại "gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

Gan góc suốt gần 30 năm chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp (1858-1884); gan góc suốt hơn 40 năm chống đàn áp và ách cai trị, bóc lột của thực dân đế quốc (1885-1929); gan góc suốt 15 năm chống 3 tầng áp bức, một cổ hai tròng nô lệ của cả thực dân đế quốc và phát xít trên chính đất nước mình (1930-1945). Sự gan góc ấy là hành trang và cơ sở chắc chắn để cách mạng Việt Nam "đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

Từ tháng 5/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời tập hợp lực lượng theo phương châm "Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh", hình thành sức mạnh quật khởi của toàn dân tộc. Đứng về phe Đồng minh và trở thành "một bộ phận dân chủ chống phát xít", Việt Minh với phong trào du kích chiến tranh ở các vùng căn cứ đã phá hoại hậu phương của chủ nghĩa phát xít ở Đông Dương; đồng thời khi thời cơ đến, chớp thời cơ nghìn năm có một, Đảng quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, Việt Minh đảm đương lực lượng chính yếu tại Quốc dân Đại hội nêu cao ý chí quyết tâm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Trong vòng nửa tháng, như Tuyên ngôn Độc lập viết: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để lập nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa".

Lần đầu tiên, "một dân tộc đã gan góc" đứng lên tự giành lấy nền tự do độc lập và chế độ dân chủ cộng hòa; cũng là lần đầu tiên với tư cách dân tộc tự do dân chủ cộng hòa, Việt Nam tuyên bố "thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam".

Sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ thực dân áp bức dân tộc như thế còn gắn liền với lời thể của "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Hiển nhiên là từ lời thế đó, dân tộc đã gan góc dựng nên nền cộng hòa, thì cũng gan góc bảo vệ và phát huy nền cộng hòa.

Ở Sài Gòn chiều ngày 2/9 đầu tiên, ngay khi có tiếng súng bắn vào người dự lễ, quần chúng tự vệ lập tức ra tay truy lùng và trừng trị những kẻ gây rối. Ở Hà Nội và các nơi khác những ngày đầu giành độc lập, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, người dân trên mọi miền đất nước lại sẵn lòng ủng hộ "Tuần lễ vàng", "Quỹ Độc lập" theo tinh thần "người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều" vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc…

Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ (1945-1975), những thần dân yêu nước của dân tộc gan góc ấy đã chiến đấu với tinh thần "Độc lập hay là chết", "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"…

Đất nước vừa thống nhất, non sông vừa liền một giải, hai đầu biên giới lại áp sát những mưu toan kiềm chế và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Lại thêm những gian nan thử thách khi bị bao vây cấm vận, bão lũ và thiên tai; cả cơ chế cũ, thói quen cũ, nền nếp cũ, tư duy cũ cũng trở thành "nhân tai" đẩy đất nước vào khủng hoảng. Nhưng với "một dân tộc đã gan góc", đã từng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", thì "chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi". Người ở biên cương "Sống bám đá, chết hóa đá"; người ở hải đảo cuốn lá cờ Tổ quốc vào bụng "để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng" và "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo"; người ở tuyến sau trên khắp các địa phương luôn tìm tòi khám phá, tháo gỡ khó khăn, dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo, mở đường đi tới.

Gần nhất là sự xuất hiện của Đại dịch trên toàn cầu khiến cho không quốc gia nào thoát khỏi khủng hoảng y tế; trong khoảng hai năm liên tiếp bị 4 đợt dịch tấn công dồn dập, Việt Nam lần đầu tiên phải ứng phó theo cách thức "chống dịch như chống giặc", nhất là ở trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh có đỉnh dịch trùng với dịp kỷ niệm quốc khánh. Người dân của đất nước rất gan góc trong kháng chiến chống ngoại xâm, nay gan góc trước diễn biến tình hình phơi nhiễm tăng lên hằng ngày; ai cũng cố gắng góp sức chung tay chống dịch.

Ngay sau đó và đồng thời với quá trình căng sức chống dịch, đất nước lại cần nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong khởi nghĩa tháng Tám năm xưa, nay chuyển thành tấm lòng thương người như thể thương thân trong phòng chống đại dịch; sức mạnh quật khởi của đông đảo quần chúng xông lên phá kho thóc cứu nạn đói năm xưa, nay chuyển thành sự chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong từng hoàn cảnh khó khăn khi COVID-19 hoành hành. Vậy nên trong và sau dịch, kinh tế Việt Nam không có tăng trưởng âm, lại có nhiều điểm sáng và dự báo khả quan; bệnh viện dã chiến trả lại không gian cho trường học vào mùa khai giảng; hộ chiếu vaccine đã đồng hành với khách du lịch trong và ngoài nước tăng lên hằng ngày…

Như thế nhìn lại gần 80 năm kể từ ngày khẳng định "dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!", có biết bao thử thách và gian nguy, nhiều khó khăn hiểm nghèo và không ít tình huống éo le phức tạp… Việt Nam là “một dân tộc đã gan góc” vượt qua hơn 80 năm nô lệ để giành tự do, độc lập, thì không gì có thể cản trở nổi dân tộc đó trên chặng đường vươn tới khát vọng thịnh vượng và hùng cường.

"Chúng con bên giấc ngủ của Người"

 Ca khúc "Chúng con bên giấc ngủ của Người" được nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nước sáng tác khi mới 22 tuổi. Đó là vào tháng 6/1976, ông vừa ở chiến trường miền Nam về. Một trung sĩ vào học năm thứ nhất khoa thanh nhạc của Nhạc viện Hà Nội.

Nhạc sĩ tâm sự: “Cha tôi, lúc đó là thiếu tá Nguyễn Đăng Chè đang làm nhiệm vụ bảo vệ việc xây dựng lăng Bác và bảo tàng Hồ Chí Minh. Đồng cảm và hiểu lòng cha mình trong nhiệm vụ cao cả của ông, cùng với tình cảm dâng trào với Hồ Chủ tịch đã có từ lâu trong lòng, tôi đã viết phần đầu của bài ca.

Cảm hứng về Bác của tôi dâng lên như mặt biển ban đầu mênh mang êm ái, sau trào sóng. Có sự êm dịu ngọt lành khi nghĩ về Bác, có nỗi quặn đau khi Bác đi xa…

“Vinh quang con đứng bên Người, canh cho Bác ngủ ngon giấc. Trên môi như Bác vẫn cười, Bác vui vì khắp non sông cháu con trở về sum vầy. Nghiêm trang trong nắng Ba Đình hoa thơm ngát trời Thủ Đô...”

Theo ông, “Chúng con bên giấc ngủ của Người" là tình cảm chân thành da diết của những người lính cảnh vệ làm nhiệm vụ cao cả là bảo vệ lăng và canh giấc ngủ cho Hồ Chủ tịch.

Phần đầu của bài ca được nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nước viết tại tập thể Bộ Công an trong ngõ Chiến Thắng, Khâm Thiên (Hà Nội), sau đó hai ngày nhạc sĩ đã viết tiếp phần hai khi về quê thăm mẹ.

"...những bước chân bồi hồi sao xuyến, cháu con trở về bên Người. Hãy đừng để lệ rơi Bác đang ngủ kia mà Người vừa mới đặt mình...”

Viết xong phần này, Nguyễn Đăng Nước viết thành bản nhạc mang đến Báo Công an nhân dân, khi đó ở gần nhà ông, để chia sẻ với các chú, các bác. Khi ông hát lên, những người đồng đội của cha ông đã vui mừng khôn tả, nhưng ai cũng thấy như vẫn thiếu chút gì đó, bài hát còn buồn quá.”

Đêm hôm sau, còn nguyên cảm xúc dâng trào, ông đã hoàn thành bản nhạc của mình. Lãnh đạo tờ báo Công an nhân dân quyết định cho đăng bản nhạc cùng lời ca lên mặt báo.

Được động viên, Nguyễn Đăng Nước đã mang đến Đài tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Lê Lôi, nhạc sĩ Văn An, Trần Trung đều rất ngạc nhiên.

Một tuần sau, dàn nhạc giao hưởng Đài Tiếng nói Việt Nam đã đệm cho hai giọng ca Trần Thụ và Hữu Nội nổi tiếng lúc bấy giờ đã song ca để thu âm bài hát này.

Đã hơn 45 năm, nhưng ca khúc ấy luôn để lại trong lòng người nghe dạt dào cảm xúc. Sự biết ơn vô vàn đến Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Người đã dâng trọn cuộc đời mình cho dân tộc Việt Nam.  “Ơ...những bước chân bồi hồi xao xuyến, cháu con trở về bên Người. Cháu con đời đời bên Bác. Bác ơi Bác ngủ ngon lành.”


TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM QUÂN KHU 7 VÀ NHIỆM VỤ BẮT LIÊN LẠC VỚI QUÂN LY KHAI KH'MER ĐỎ

 Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, trước hành động phản bội dân tộc, thực hiện chính sách diệt chủng ở trong nước và đưa quân tiến công xâm lược Việt Nam của tập đoàn Pol pot - Ieng Sary, nhiều cán bộ quân sự và đơn vị vũ trang tách ra khỏi tổ chức quân đội Pol Pot, hoặc rút vào rừng sâu lập căn cứ phản kháng, hoặc tìm cách trốn sang Việt Nam.

Nắm rõ tình hình, được sự chấp thuận của cấp trên, trong khoảng thời gian gần 4 tháng cuối năm 1978, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã chỉ đạo Phòng Quân báo tổ chức 8 đội trinh sát đặc nhiệm tìm cách liên lạc với các cá nhân và đơn vị vũ trang ly khai, đưa họ thoát khỏi địa bàn kiểm soát của quân đội Khmer Đỏ, xây dựng lực lượng vũ trang yêu nước chân chính, trở về giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của chế độ diệt chủng.

Trong thành tựu cuộc cách mạng tháng giêng năm 1979 của nhân dân Campuchia, có sự đóng góp thầm lặng của những chiến sĩ trinh sát đặc nhiệm Quân khu 7, sự đóng góp chưa được nói đến nhiều trong suốt hơn 40 năm qua. Trước yêu cầu chính đáng của một số cán bộ yêu nước Campuchia về việc muốn xây dựng lực lượng vũ trang trên đất Việt Nam để khi có điều kiện sẽ trở về giải phóng đất nước khỏi chế độ diệt chủng, thực hiện sự chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương, ngày 7-9-1977, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 ra Quyết định số 113/QĐ-77 thành lập một đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ tiếp đón, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ yêu nước Campuchia về nơi ăn ở. Đơn vị lấy phiên hiệu Đoàn 977, có tổ chức tương đương cấp tiểu đoàn, trực thuộc Cục Chính trị Quân khu 7.

Tiếp đó, Quân khu 7 nhận được Chỉ thị "Về một số công việc cần làm ngay ở biên giới phía Tây Nam Việt Nam" của Ban Bí thư Trung ương Đảng (ngày 21-10-1977) về việc "tạo điều kiện gây dựng lực lượng cho cách mạng Campuchia". Ngày 25-5-1978, trung tướng Trần Văn Quang thay mặt Quân ủy Trung ương truyền đạt chủ trương của Quân ủy cho Quân khu 7: "Nhiệm vụ giúp Bạn của Quân khu là xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cho Bạn, yêu cầu nhanh nhưng phải bảo đảm thật chắc về mặt chính trị và bảo đảm được bí mật".

Một trong những giải pháp thực hiện nhiệm vụ nêu trên là tìm cách móc nối với lực lượng ly khai trong quân đội Pol Pot, tổ chức thành lực lượng nổi dậy của bạn. Được Quân ủy Trung ương chấp thuận, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo Phòng Quân báo Quân khu tổ chức các đội trinh sát đặc nhiệm luồn sâu.

Về lực lượng, tổ chức thành từng đội, thành phần mỗi đội gồm cán bộ quân báo, cán bộ trinh sát, chiến sĩ thông tin vô tuyến điện, cán bộ người Campuchia thuộc quân đội Khmer Đỏ ly khai chạy sang lánh nạn hoặc nguyên là cán bộ chiến sĩ người Khmer gia nhập Quân giải phóng miền Nam từ những năm 1970 - 1973. Đối tượng liên lạc dự kiến là các nhóm ly khai thuộc vùng 20 (Krek) và vùng 21 (Memot), nơi Pol Pot vừa thực hiện cuộc thanh trừng đẫm máu tại quân khu Tây Nam, quân khu Bắc, quân khu Đông (quân khu 203), buộc nhiều sĩ quan, binh lính yêu nước phải chạy vào rừng, thành lập đơn vị ly khai.

CÁC ĐỘI TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM HOẠT ĐỘNG CHIA THÀNH 4 ĐỢT, GỒM:

Đợt thứ nhất (từ 23-3 đến 24-4-1978): Phòng Quân báo tổ chức một đội đi trinh sát thử nghiệm, lấy mật danh "Chim Én". Đội Chim Én có 12 cán bộ chiến sĩ, do Miahun (người Campuchia) làm đội trưởng, Nhữ Xuân Say làm chính trị viên, Triệu Xuân Hòa làm đội phó. Địa bàn hoạt động của đội trải dài dọc khu vực đông - tây đường Krabao - bắc Mimot, cách biên giới khoảng 20km. Sau hơn một tháng tìm kiếm không tìm được lực lượng ly khai.

Đợt thứ hai (từ 30-5 đến 18-7-1978): Có 3 đội trinh sát đặc nhiệm luồn sâu mang mật danh "Chim Én", "Bồ Câu", "Chim Ưng" và 1 đội vận tải hậu cần đi sau. Cả 3 đội trinh sát đều chưa gặp được lực lượng ly khai. Riêng đội Chim Ưng trên đường hành quân hai lần chạm địch buộc phải nổ súng chiến đấu, 2 chiến sĩ hy sinh, 3 người bị thương.

Đợt thứ ba (từ đầu tháng 7 đến giữa tháng 9-1978): Có 2 đội trinh sát đặc nhiệm, lấy mật danh "Bồ Câu" và "Chim Én". Đội Bồ Câu do Triệu Xuân Hòa làm đội trưởng, Huyền làm chính trị viên; hoạt động tại khu vực nam Đầm Be. Đội còn có thêm nhiệm vụ bảo vệ một phái viên trực tiếp mang thư của Tư lệnh Quân khu 7 gửi Tư lệnh kiêm Bí thư quân khu 203 (quân khu Đông) Khmer Đỏ. Đội Chim Én do Nhữ Xuân Say làm đội trưởng, Ba Điền làm chính trị viên, Nguyễn Văn Dương làm đội phó; hoạt động tại khu vực từ bắc Phlu đến nam sông Chlong.

Ngày 7-9-1978, đội Chim Én bắt liên lạc được với một đơn vị ly khai thuộc Vùng 21 - Quân khu Đông quân đội Pol Pot, kết thúc giai đoạn kéo dài nhiều tháng thực hiện nhiệm vụ quốc tế tìm kiếm móc nối lực lượng ly khai quân đội Khmer Đỏ.

Đợt thứ tư (tháng 11-1978): Sau khi đội Chim Én móc nối được với lực lượng ly khai Quân khu 203, nhiều đơn vị vũ trang Khmer Đỏ ly khai tiếp tục liên lạc được với bộ đội Việt Nam để hoặc nhận vũ khí trang bị hoặc sang Việt Nam huấn luyện quân sự. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tiếp tục cử 2 đội vượt biên giới đón cán bộ Khmer Đỏ ly khai. Tháng 10-1978, một đội bắt liên lạc được với cánh ly khai Vùng 22 tại Koncheimeas do ông Chea Sim chỉ huy. Tháng 11-1978, một đội khác bắt liên lạc được với cánh ly khai Quân khu Đông tại tây Memot do ông Heng Samrin chỉ huy.

Đến cuối tháng 11-1978, nhiệm vụ tìm kiếm liên lạc với các đơn vị Khmer Đỏ ly khai của lực lượng trinh sát đặc nhiệm Quân khu 7 kết thúc. Lịch sử lực lượng vũ trang yêu nước chân chính Campuchia bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn phát triển lực lượng, trở về thực hiện cuộc tổng tiến công giải phóng Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia khỏi ách thống trị của tập đoàn diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 04/9

 

“Mong cán bộ ta cẩn thận từng lời nói, từng việc làm, thật thà “ba cùng”, làm đúng chính sách, để giành lấy kết quả tốt hơn trong công tác phát động quần chúng”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Những kinh nghiệm cần phải tránh trong công tác phát động quần chúng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 221, từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 9 năm 1954, bút danh “C.B”. Đây là thời điểm miền Nam đang tiến hành đấu tranh chính trị, giữ gìn, phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới; miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng. Lời kêu gọi trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trở thành phương hướng hành động, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng chiến thắng lợi.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp, nhanh chóng đến mọi mặt đời sống xã hội, càng nhận thấy giá trị sâu sắc lời căn dặn của Bác năm xưa; đặc biệt, nó đã trở thành định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận hiện nay phải vươn lên để lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để cho mọi người ai cũng phải làm dân vận, ai cũng biết làm dân vận và ai cũng được làm dân vận, chứ không phải là công việc riêng cán bộ chuyên trách.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trong suốt hành trình hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hằng năm có hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nơi phức tạp về an ninh, chính trị, dân tộc, tôn giáo; các Đoàn kinh tế – quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giữ gìn an ninh chính trị… theo đúng phương châm “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin” được cấp uỷ, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống tốt đẹp “đến dân mừng, đi dân nhớ, ở dân thương”.

CUỘC DUYỆT BINH QUY MÔ NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NGÀY 2/9/1985

 

Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Có lẽ cuộc duyệt binh ngày 2/9/1985 là cuộc duyệt binh quy mô lớn nhất, hoành tráng nhất của nước ta kể từ năm 1945 đến không những thời điểm 1985 mà có lẽ cả đến ngày nay.

Lễ duyệt binh ngày 2/9/1985 hay còn gọi là nhiệm vụ A85 được coi là cuộc duyệt binh lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngoài các khối bộ đội còn có cả các loại xe tăng, pháo tự hành, pháo phòng không, tên lửa và hàng chục máy bay với hàng chục nghìn người được huy động. Đây là lễ duyệt binh kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lễ duyệt binh với sự tham gia của các quân chủng, binh chủng và đặc biệt là máy bay không quân - quân chủng hiện đại thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội và chiến tranh biên giới Tây Nam. Sau cuộc duyệt binh này Nhà nước chưa  tổ chức cuộc duyệt binh nào nữa, mà chỉ có diễu binh, diễu hành.

Gần 30.000 người phục vụ cho lễ duyệt binh ngày 2/9/1985. Ở vào thời điểm đó, tình hình kinh tế đất nước tuy có nhiều khó khăn, song Đảng và Nhà nước ta vẫn tổ chức lễ duyệt binh hoành tránh và mang ý nghĩa lịch sử to lớn.

Chúng ta, thế hệ đi sau xin được nghiêng mình kính cẩn trước những công lao to lớn của cha ông, để giờ đây, chúng con được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, và thật xinh đẹp thế này ./.

TRƯỚC NGÀY TẾT ĐỘC LẬP

 

Tháng tám năm 1972, chúng tôi vây Khongsedon, một thành phố Nam Lào, xung quanh là rừng, bao quanh bởi dòng sông lớn. Sư đoàn 968 quây chặt thành phố, đối đầu với lính Thái, Lào, biệt kích Vàng Pao với các căn cứ pháo binh, phi cơ bảo vệ dày đặc.

Cuối mùa mưa ở Lào năm ấy thực khủng khiếp. Mưa, tiếp tế hạn chế vì đường sá trong rừng nhão nhoét. Mưa, muỗi đàn nhiều vô kể, đơn vị lại ăn uống kém nên bị sốt rét hoành hoành. Trong chiến hào đào ven sông, nơi địch có thể băng qua chọc thủng vòng vây, hai bên rình rập nhau, suốt ngày bom đạn. Pháo bầy địch bắn điếc tai. Chiến hào chúng tôi đào bên những dải chuối bị bom đạn băm nát, toàn mùi bùn, mùi máu, mùi tử khí.

Để phá vây, có lúc địch dùng trực thăng tung quân nhảy xuống sau lưng tiểu đoàn tôi. Có trận, trung đội súng máy 12,7 ly chúng tôi phải chạy 4-5 km đánh nhau với địch trong khi OV-10, L-19 quần thảo trên đầu, chỉ điểm cho F-5, A-37 và cả B-52 dội bom.

Chiến đấu ác liệt như thế nhưng lương thảo đến chậm, quân sĩ trong tình trạng ăn đói, mặc rách, thiếu thốn trăm bề. Đi vây hãm, chúng tôi ngày ăn bốn lạng gạo mốc, chia làm hai nắm cơm, với muối hay ruốc cá trộn rau sắn.

Anh em có phần nản, khí thế chùng xuống, đặc biệt khi mưa tới, lạnh và đói hơn.

Cuối tháng 8, chúng tôi được lệnh mật phục chặn ngay bên sông, nơi máy bay C-123 tiếp tế của địch thả dù giải cứu lực lượng bị vây trong thành phố. Những trận đánh kiểu này rất nguy hiểm. Bên kia sông địch đổ đồn, nổ súng đánh địch cũng gần như cầm chắc cái chết, vì sẽ gặp phải sự phản pháo trực diện. Đêm trước ngày nổ súng, tiểu đội tôi đang đào công sự thì Chính trị viên Đàm tới.

Anh Đàm thường ít nói, nhìn đám lính gầy gò, nhiều đứa còn sốt hầm hập nhưng vẫn đào hầm, chặt gỗ, anh ái ngại đến bên tôi: "Để tớ xúc cho một lát". Đất thịt quánh lại vì mưa nên rất nặng tay xẻng. Gần sáng, hầm chữ A và công sự sắp xong, chúng tôi nghỉ giải lao bên dãy tre già sát bờ sông, bên kia sông, địch thi thoảng bắn pháo sáng làm trời rực lên như ban ngày. Chính trị viên nhìn khuôn mặt tái xanh vừa qua một đợt sốt rét của tôi rồi nói: "Thọ mệt lắm phải không? Cố lên nhé. Cậu và Đức là xạ thủ giàu kinh nghiệm nhất đại đội, không thể nghỉ được. Trận này quan trọng lắm".

Tôi im lặng. Mọi lời động viên lúc này trở nên thừa thãi. Thấy vậy, anh Đàm im lặng hồi lâu rồi lại nói: "Ngày mai là mùng Hai tháng Chín", nói xong anh lại im lặng.

Trời ơi, mai là Tết Độc Lập. Dường như không ai trong tiểu đội tôi nhớ ra. Cuộc chiến khốc liệt làm chúng tôi chỉ quan tâm tới mạng sống mà không nhớ đến ngày quan trọng này. Tôi chợt nhớ nhà da diết. Nhớ cậu tôi vẫn thường nói về ngày 2/9: "Đó là ngày quan trọng".

Tôi nhớ Hà Nội của tôi. Ngày Tết Độc Lập thể nào cậu mợ cũng làm cơm cho các con ăn xôm hơn ngày thường, có năm còn có thịt gà nhà quê gửi lên cho.

Nhưng bây giờ, chúng tôi được lệnh nghỉ ngơi một chút, chuẩn bị cho trận đánh. Chúng tôi vào hầm, khi 3-4 thằng nằm xuống đám lá rừng trải trong hầm chữ A, tôi tự nhiên nhắc lại với Đức câu nói của Chính trị viên Đàm. Tất cả anh em trong hầm im lặng, rồi lần lượt thi nhau kể về 2/9 ở quê hương mình, gia đình mình. Hóa ra, trong mỗi gia đình, mỗi vùng quê của chúng tôi lúc đó, 2/9 đều là một ngày lễ quan trọng và đặc biệt.

"Mai là mồng Hai tháng Chín" bỗng dưng trở thành một khẩu lệnh đánh thức tâm trí mỗi người trước trận đánh vào hôm sau.

Chúng tôi đã dám nổ súng mà không sợ địch phản pháo, bắn hỏa tiễn DKZ bên kia sông thẳng vào trận địa. Hai khẩu 12,7 ly rưới cả thùng đạn vào bụng chiếc C-123 làm nó hoảng sợ ném toàn bộ dù xuống phía quân ta rồi bốc cháy, lao xuống một cánh rừng cách thành phố chục cây số. Những người lính ốm yếu, đói và sợ chết hôm đó đã đánh một trận giòn giã, kể cả khi tụi máy bay A-37 kéo đến bắn phá dọc sông. Trận chiến quyết định ấy là để địch không thể dùng máy bay vận tải cỡ lớn tiếp tế cho thành phố, góp phần không nhỏ cho chiến thắng chung của sư đoàn.

Tết Độc Lập hàng năm luôn nhắc tôi nhớ đến trận đánh đầu tháng 9 năm ấy, ở mặt trận Nam Lào. Thỉnh thoảng tôi vẫn cố gắng giải thích xem, điều gì đã khiến cho cả một trung đội đói rách và mệt mỏi về tinh thần đấy làm nên kỳ tích trong một trận chiến quan trọng.

Có lẽ, câu nói "ngày mai mùng Hai tháng Chín" của Chính trị viên Đàm, bằng cách nào đó đã kích hoạt trong chúng tôi ý thức trách nhiệm, nhắc lại lý do vì sao chúng tôi ở đó và mục tiêu chúng tôi cần bảo vệ.

Cuộc chiến đã lùi xa. Tôi đã ăn thêm bao cái Tết Độc Lập no đủ hơn, cả khi trên chính quê hương bình yên của mình lẫn những ngày tha hương chỉ nhìn lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên tòa nhà Sứ quán Việt Nam tại Đức. Thế hệ đã có tuổi, trải qua nhiều dạng hình của nỗi khổ như chúng tôi thi thoảng vẫn ứa nước mắt nghĩ về "Việt Nam độc lập" - một thời khắc đánh dấu sự định danh của đất nước trên bản đồ thế giới.

Ai sinh ra cũng cần làm điều gì đó cho quê hương, đất nước, cũng là để cho chính cuộc sống của mình hoặc người thân tốt đẹp hơn, tôi nghĩ vậy.

Những thế hệ của chúng tôi gắn chặt đời mình với sứ mệnh vì Việt Nam độc lập. Nhiệm vụ của những thế hệ tiếp theo, tôi nghĩ, sẽ là câu chuyện về một Việt Nam giàu mạnh.

NHỮNG GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG CỦA BÁC VỚI DÂN TỘC !

 

Buổi chiều, ngày 28/8/1969, tại nhà H67, Bác thiếp đi một lúc vì quá mệt, tỉnh dậy đã thấy vợ chồng đại tướng Võ Nguyên Giáp và chị Đặng Bích Hà đứng bên cạnh, trên tay là một bó hoa huệ 10 bông. Một nụ cười rất tươi nở trên môi Bác.

Có lẽ đây là nụ cười cuối cùng của Bác dành cho hai con người mà Bác rất mực yêu quý.

Bác ra hiệu gọi đồng chí Vũ Kỳ và bảo rằng Bác muốn uống một ngụm nước dừa ở cây dừa đầu nhà. Các bác sĩ tỏ ý không muốn Bác uống nước dừa vì không thích hợp với bệnh tình hiện nay của Bác. Bác đã nói:

- Biết vậy! Nhưng đây là dừa miền Nam.

Ai cũng biết đây là cây dừa do đồng bào miền Nam tặng Bác và suốt 15 năm qua Bác đã chăm sóc với tất cả tình thương yêu tha thiết.

Tối 30/8, Bác lại phải trải qua một cơn đau và sau đó đi vào hôn mê. Những biện pháp tốt nhất được hội đồng bác sĩ khẩn trương sử dụng để cấp cứu. Bác dần dần tỉnh lại. Thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đứng bên cạnh, Bác hỏi ngay:

- Các chú chuẩn bị lễ kỷ niệm Quốc khánh đến đâu rồi?

Sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo, Bác dặn:

- Các chú nhớ phải bắn pháo hoa để cho nhân dân và các cháu nhỏ vui mừng đón ngày độc lập của đất nước.

Tiếp đó, Bác lại hỏi tình hình lũ lụt và nói ngay:

- Các chú phải tích cực tìm mọi biện pháp bảo vệ cho được đê điều để bảo vệ dân.

Ngày 1/9 là một ngày căng thẳng đầy lo âu của mọi người đang túc trực quanh Bác. Lần đầu tiên những người phục vụ nghe tiếng rên của Bác. Điện tâm đồ luôn xuất hiện những ký hiệu xấu. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hầu hết đều có mặt, vẻ đau buồn hiện rõ trên từng ánh mắt. Cả dân tộc đang sắp phải gánh chịu một mất mát lớn không gì bù đắp được.

Ngày 2/9/1969, cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Quốc khánh. Không ai biết người khai sinh ra ngày độc lập của dân tộc đang chuẩn bị lên đường đi xa mãi mãi. Trời mưa, bộ phận phục vụ đã căng bạt ngoài sân, kê thêm nhiều ghế. Mới tờ mờ sáng, hình như có mối tâm linh mách bảo, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt đông đủ.

Khoảng 9 giờ, một cơn đau đột ngột làm cho Bác phải quặn nghiêng người và cứ thế lịm dần. Máy điện tim chỉ còn thoi thóp và chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt. Lúc này, các thầy thuốc Trung Quốc từ từ lần lượt lui ra ngoài.

Bộ phận hồi sức cấp cứu chủ yếu của Viện 108 tập trung làm các động tác hô hấp nhân tạo. Tất cả những người có mặt trong nhà H67 như nín thở, chờ đợi, hi vọng...

Đồng hồ chỉ đúng 9 giờ 47 phút.

Nhiều tiếng khóc bỗng òa lên rồi cố nén. Các đồng chí Bộ Chính trị và lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đứng xếp hàng quanh giường Bác mặc niệm, rồi lần lượt bước ra ngoài theo yêu cầu của chuyên môn.

Riêng ba đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cố nán lại, đặt tay lên trán Bác, lên ngực Bác, nước mắt lưng tròng. Đồng chí Trần Quốc Hoàn phải giục lần nữa mời rời khỏi giường Bác. Nhưng sau đó vài phút, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một mình quay trở lại, đứng nhìn Bác một lúc lâu nữa.

Đúng 11h, đoàn xe đặc biệt có mặt ở trước cổng Phủ Chủ tịch.

Xe Bác đi như bao chiếc xe khác đang di chuyển trên đường. Không ai biết, không ai ngờ trong chiếc xe đó có một con người vĩ đại, Bác Hồ yêu quý của toàn dân tộc đang đi về cõi vĩnh hằng...!

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

“Những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, Bác nói ngày 05 tháng 9 năm 1954. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới kết thúc (07/5/1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954). Để công tác tiếp quản Thủ đô được nhanh chóng, an toàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và có những lời căn dặn quý báu đối với lực lượng bộ đội và công an thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô phải giữ vững lập trường, bản chất cách mạng, luôn kiên định, trách nhiệm với công việc được giao, không dao động trước sự phồn hoa của đời sống thị thành.

Lời căn dặn của Bác ngắn gọn, nhưng súc tích, là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an cần phải giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, tránh sa vào những cạm bẫy của cuộc sống đời thường. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực; có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không để rơi vào cạm bẫy, sa hoa; luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, nông thôn mới; có lối sống văn minh, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm.

MỘT ĐẤT NƯỚC CÓ THỂ YẾU NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP HÈN

 

The East, tựa tiếng Việt là Phương Đông, là một tác phẩm điện ảnh chiến tranh mô tả sự tái xâm lược dã man của đế quốc Hà Lan đối với đất nước Indonesia sau Thế chiến thứ Hai. Phim dựa vào góc nhìn của một người lính Hà Lan, đến Hà Lan với tư cách “giải trừ khủng bố” và “đem lại hòa bình cho người dân Indonesia”... Nhưng sự thực mà người lính này trải nghiệm là gì? Đó là việc chứng kiến chỉ huy gọi tên từng người dân Indonesia vô tội rồi bắt gục họ, bất kể đó là người già, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, thanh thiếu niên…

“Chúng ta không phải là đang bảo vệ người dân và giữ gìn hòa bình hay sao? Tại sao chúng lại bắn gục họ thay vì cứu rỗi họ” - người lính thốt lên trong bực tức và phẫn nộ. Sau này, khi trở về Hà Lan, anh lính này đã tự sát vì những tội ác dã man đã ám ảnh trong bao nhiêu năm, còn gã sĩ quan chỉ huy đã bắn giết hại 1500 người bản địa Indonesia lại không bị làm sao và sống an lành dư dả đến cuối đời.

Người Indonesia bình luận về tác phẩm này: “Những kẻ xâm lược không bao giờ họ tự nhận là xâm lược. Những Hà Lan đến Indonesia như những người hùng và nói tổ tiên chúng tôi như những tên khủng bố. Kẻ xâm lược lại trở thành kẻ bị hại, người bị xâm lược lại trở thành ác nhân.”

Trong The King’s Choice - một bộ phim nói những quyết định khó khăn là chiến đấu hay đầu hàng của vua Na Uy - Haakon VII trước quân đội Đức Quốc Xã. Đầu hàng để nhận lấy hòa bình hay chiến đấu để giữ vững đất nước? Có một đoạn thoại đáng chú ý như thế này: “Nếu như vì là quốc gia bé mà phải ký đầu hàng, phải cắt lãnh thổ để đổi lấy hòa bình. Thì sự tồn tại của quốc gia ấy là vô nghĩa…”. Cuối cùng, Na Uy trở thành quốc gia trụ vững tới tận 62 ngày trước quân đội Đức Quốc Xã, chỉ sau mỗi Liên Xô và sự kiện này trở thành bản anh hùng ca lịch sử vĩ đại của quân dân Na Uy trước chủ nghĩa quốc xã!

Tuy nhiên, vua Haakon VII cũng phải gánh chịu chỉ trích của một số chủ nghĩa xét lại Na Uy, khi họ cho rằng nếu đầu hàng quân Đức sớm thì người dân thường Na Uy sẽ không phải chịu chiến tranh, đất nước có thể yên ổn. Nhưng một giáo sư của Đại học Oslo trả lời: “Vậy bạn muốn con cháu chúng ta phơi xác vì bị chiến đấu phục vụ chủ nghĩa phát xít, bị bắt đi lính, bị bắt chống lại Liên Xô và thế giới. Hay bạn muốn con cháu chúng ta sống và chết như những anh hùng vì Tổ Quốc”...

Thi thoảng, hay có người bảo rằng, tại sao Việt Nam không chấp nhận đàm phán hòa bình hay đợi trao trả độc lập? Tại sao lại phải dùng bạo lực cách mạng để rồi hàng triệu người phải chết? Nhưng, họ có phải đặt câu hỏi ngược lại rằng, tại sao mà các quốc gia khác không cút khỏi Việt Nam? Tại sao họ lại xâm lược Việt Nam? Tại sao lại phải im lặng chịu nhẫn nhục để các nước khác đàn áp, bắt bớ? Và đợi đến bao giờ thì mới được “trao trả độc lập”, đợi đến bao giờ mới được “trả lại lãnh thổ”? Con giun xéo lắm cũng quằn nữa là con người của một quốc gia trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước?

Và lịch sử Việt Nam sẽ nhục nhã như thế nào liệu có được vị thế như ngày nay hay không khi không tự mình đấu tranh cho tự do, tự độc lập và thống nhất?

Tiến sĩ S. Jaishankar, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ đăng bài viết chúc mừng 77 năm Quốc khánh Việt Nam trên Twitter. Những người dân Ấn Độ cũng vào chúc mừng, họ viết rằng: “Thật vinh hạnh và vinh dự khi Ấn Độ có con đường mang tên Hồ Chí Minh! Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản diễn ngôn khai sinh ra Việt Nam. Tôi quý trọng vì tình cảm của ngài với Mahatma Gandhi”

Cuộc sống có nhiều lựa chọn, lịch sử có nhiều ngã rẽ. Có người chọn phục cho quân xâm lược đổi lấy cơm ăn áo mặc, nhà cao, cửa rộng. Có người lại chọn chiến đấu cho đất nước bất chấp việc phải đối diện với máu, nước mắt, bom đạn và sự hy sinh có thể đến với bất cứ lúc nào… Có người lại tiếc nuối thời được quân xâm lược bố thí cho vài đồng cắc lẻ, có người lại hào hùng nói về những cha ông đã anh dũng chiến đấu ra sao…

Như vị giáo sư mà đã đề cập đến ở trên, lựa chọn sống như một lũ lệ thuộc hay như những người anh hùng?

Chúng ta trân trọng những anh hùng và coi khinh lũ ác nhân.

Một quốc gia có thể nhỏ bé, người dân ở đó có thể không đủ cơm ăn áo mặc, vũ khí của họ có khi chỉ là cây tre lấy ở đầu làng.. nhưng trên hết, họ không bao giờ hèn nhát.

THÔNG ĐIỆP TỪ NHỮNG NGÔI CHÙA Ở TRƯỜNG SA

 

Dọc bờ biển đất nước, hay trên những hòn đảo giữa biển khơi xa, nơi đâu có cư dân sinh sống, nơi đó có ngôi chùa, mái đền. Trên quần đảo Trường Sa của Tổ quốc, từ đảo Đá Tây đến xã đảo Sinh Tồn, Song Tử Tây, thị trấn Trường Sa Lớn, những ngôi chùa của cư dân hiện hữu, thể hiện tâm nguyện và khát vọng cuộc sống yên lành, hòa bình, hữu nghị giữa biển Đông.

Đối mặt với biển cả đại dương đầy hào phóng nhưng cũng lắm hiểm họa, những ngôi chùa nơi cư dân vùng biển đảo sinh sống thể hiện tâm nguyện về cuộc sống hướng thiện, bình yên, cầu mong sóng yên, biển lặng... Dù quay về hướng nào, những ngôi chùa trên các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa cũng đều hướng ra biển Đông. Bên dáng cây đa, cây bồ đề mang cốt cách chùa quê Việt Nam, những ngôi chùa ở Trường Sa có thêm bóng mát cây phong ba, cây bàng quả vuông cổ thụ xòe tán che chở. Mỗi sớm mai, chiều tối, người dân trên đảo vào chùa, thỉnh hồi chuông, thắp nén hương, tịnh tâm khấn vái. Những ngư dân hành nghề trên những ngư trường quanh đảo ngày rằm, mùng một cũng ghé thuyền vào đảo thể hiện lòng thành, cầu mong có sức khỏe dẻo dai, mỗi chuyến đi khơi đều may mắn, có nhiều lộc biển.

Biển Đông rộng lớn, tôm cá dồi dào, tài nguyên phong phú nhưng cũng bão gió bất kỳ. Và cũng chính nơi đây, mấy chục năm qua đã có phen sóng không yên biển không lặng. Mỗi ngôi chùa, tự thân mang thông điệp hướng thiện và hài hòa. Ngôi chùa giữa biển Đông không chỉ đáp ứng đời sống tâm linh của người dân nơi biển đảo, mà còn thể hiện khát vọng cuộc sống bình yên, hòa bình, hữu nghị.

Trên hòn đảo Đá Tây, nơi có nhiều ngư dân đang đánh bắt và tổ chức nuôi trồng hải sản, từ bao giờ có ngôi miếu thờ, ở nơi trang trọng nhất có tấm bia khắc bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt. Tự mỗi câu thơ trong bài thơ Thần là một thông điệp bất hủ. Người dân đến hòn đảo này làm ăn sinh sống không thể không khắc sâu trong tâm khảm lời tiền nhân Nam quốc sơn hà Nam đế cư...

Trong ngôi chùa trên đảo Trường Sa Lớn có pho tượng Phật bằng đá quý, màu trắng, gọi là Phật ngọc. Phật ngọc ngự chùa Trường Sa Lớn là một cơ duyên. Trong một lần thăm chính thức đất nước Myanma, khi đến Chùa Vàng ở Thủ đô Yangon, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được Liên đoàn Phật giáo thế giới tặng Phật ngọc. Và tượng Phật ngọc Thích Ca Mâu Ni quý giá này đã được Thủ tướng kính tặng lại chùa Trường Sa Lớn thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa...

Trong thư gửi kèm theo tượng Phật ngọc, Thủ tướng Chính phủ phát tâm nguyện:

Mong Đức Phật phù hộ độ trì cho quân dân huyện đảo Trường Sa bình yên, mạnh khỏe, hạnh phúc, thắng lợi. Cho nước Việt Nam hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cho vùng biển Đông, cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng phát triển, cùng thịnh vượng.

Dù quay hướng nào, những ngôi chùa trên quần đảo Trường Sa cũng đều hướng ra biển Đông, cùng cầu nguyện những điều tốt lành như tâm nguyện của Thủ tướng Chính phủ. Và trên hết là cầu nguyện Cho vùng biển Đông, cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng phát triển, cùng thịnh vượng./.

ANH HÙNG PHAN ĐÌNH GIÓT

 

“Lỗ châu mai là một khe hở không quá nhỏ, đủ có thể nhìn qua được, thường được xây ở phía trên hay phần dưới của công trình quân sự như pháo đài, lô cốt,... mà qua đó xạ thủ có thể đặt súng, cung tên lọt vào lỗ và bắn trả đối phương.

Các bức tường bên trong, phía sau lỗ châu mai thường được cắt bỏ ở một góc xiên (>30 độ) để các xạ thủ có một tầm nhìn và góc bắn rộng. Lỗ châu mai có rất nhiều dạng. Một dạng phổ biến và dễ nhận biết là hình chữ thập (như hình). Góc độ thẳng đứng và lỗ nhỏ cho phép cung thủ tự do thay đổi độ cao và hướng của tầm bắn nhưng lại làm cho phía quân của đối phương tấn công khó khăn hơn vì chỉ có một mục tiêu ngắm bắn khá nhỏ.”

Từ lợi ích của nó mà lỗ châu mai được quân Pháp sử dụng rất nhiều trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 gây ra vô vàn khó khăn và thương vong cho quân ta. Súng đạn từ lỗ châu mai xả ra liên tiếp khiến nhiều bộ đội hy sinh, không thể tiếp tục tiến lên.

Trên chiến trường lúc ấy, anh Phan Đình Giót, giống như hàng ngàn chiến sĩ khác hừng hực ý chí chiến đấu. Dù đã bị thương 2 lần, 1 ở đùi, 1 ở vai. Cả 2 vết thương đều khiến anh mất máu khá nhiều. Đồng đội đưa anh lùi về sau nghỉ ngơi, tình trạng sức khoẻ của anh đã yếu đi trông thấy.

Chứng kiến đồng đội hy sinh quá nhiều từ họng súng của địch lấp sau lỗ châu mai, anh vùng dậy, ôm bộc phá lao lên bịt kín lỗ châu mai, cách nơi anh băng bó 200m. Tiếng súng đạn im bặt, cơ thể anh bị bom đạn kẻ thù bắn nát.

Khi lỗ châu mai bị che lấp, hỏa điểm của quân Pháp bị dập tắt, bộ đội ta đã nhanh chóng xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam trong ngày 13 tháng 3. Đây là trận đánh mở màn thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng Cách mạng.”

Chúng ta đang chứng kiến thế hệ cũ dần lùi về quá khứ, những con người đã hết mình vì độc lập dân tộc, người đã về cõi vĩnh hằng, người cũng đã già theo năm tháng. Lịch sử dân tộc được viết nên từ máu, nước mắt và nỗi đau của hàng triệu người dân. Tất cả cùng chung mục đích giữ toàn vẹn lãnh thổ, một tấc không được thiếu.

Bản chất phía sau luận điệu đòi xoá bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự

 

Thời đại ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng pháp luật và các quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tình hình, đặc điểm, điều kiện cụ thể. Điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh của loài người.

Thế nhưng, hiện một số người, nhất là số cơ hội chính trị có quan hệ với các tổ chức thù địch, đối tượng phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài đang tìm cách đi ngược lại sự văn minh, tiến bộ xã hội. Các đối tượng tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài nhằm kêu gọi xóa bỏ một số điều luật với các mục đích chính trị xấu.

Chẳng hạn, các đối tượng kêu gọi xóa bỏ một số điều luật được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), bao gồm một số điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: Điều 109 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân"; Điều 117 "Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Hay như Điều 331 "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" thuộc Chương XXII về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính...

Thực chất, việc kêu gọi xóa bỏ các điều luật này xuất phát từ các đối tượng có âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Vậy, mục đích của các đối tượng kêu gọi xóa bỏ các điều luật này là gì?

Thứ nhất, các đối tượng đang muốn đưa mình thoát khỏi "vùng cấm" của luật pháp, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để dễ bề hoạt động chống phá mà không bị chế tài pháp luật xử lý. Các đối tượng đang cố gắng tạo cho mình một vành đai an toàn, nằm trong "nhóm lợi ích" vượt ra ngoài sự quản lý của pháp luật để tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước như: Tuyên truyền chống Nhà nước; thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam… mà không bị pháp luật cấm đoán.

Thứ hai, các đối tượng muốn gây sự chú ý từ bên trong lẫn bên ngoài, thông qua các hoạt động tuyên truyền kêu gọi, tẩy chay, đòi xóa bỏ các điều luật nhằm gây sự chú ý cho dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí, thường xuyên có các bài viết chống phá Việt Nam như đài RFA, RFI... Các hoạt động kêu gọi nhằm đánh lạc hướng dư luận để tạo suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt Nam đang "rối ren"; tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực dư luận để đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.

Thứ ba, tất cả các hoạt động kêu gọi xóa bỏ các quy định của điều luật trên không nằm ngoài âm mưu tạo ra môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, mục đích hướng đến là thay đổi nhận thức của đông đảo quần chúng toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc kêu gọi xóa bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam nhằm xuyên tạc, vu khống, hạ bệ hình ảnh Việt Nam, cho rằng chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; vu cáo nhà nước sử dụng các điều luật này để "bóp nghẹt" quyền tự do dân chủ, các quyền căn bản của công dân được Hiến định.

Các đối tượng chống phá muốn xóa bỏ các điều luật nói trên đều nằm trong âm mưu, ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và đây không phải là thủ đoạn mới. Các Bộ luật Hình sự trước đây khi ban hành và thực thi thì các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động cũng tìm cách đả phá, đòi huỷ bỏ những điều luật mà họ cho rằng "lạc hậu", "trói cột", "bịt miệng"…

Thực tế, không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết dẫn tới phạm pháp mà hầu hết các đối tượng đều hiểu rõ những hành động của mình là trái với quy định của pháp luật, là phạm tội, nhưng với các động cơ khác nhau, họ vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Thậm chí không ít đối tượng dù bị cơ quan chức năng nhiều lần cảnh cáo, nhắc nhở hay xử phạt hành chính, xử lý hình sự nhưng sau đó vẫn bất chấp, cố tình thực hiện hành vi, thách thức pháp luật. Do đó, việc xử phạt với các điều khoản tương ứng hành vi, tính chất phạm tội là việc làm đương nhiên của cơ quan bảo vệ pháp luật. Điều đó càng cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật và việc xử lý đó được cộng đồng xã hội đồng tình ủng hộ (ngoại trừ các phần tử tham gia các tổ chức phản động, chống phá Nhà nước).

Một nguyên tắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn pháp luật, không ai có thể đứng ngoài pháp luật. Dù là ai, vị trí nào, gia thế ra sao thì khi vi phạm đều xử lý bình đẳng và pháp luật hình sự cũng quy định rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, những ai chủ mưu, cầm đầu, cố tình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm… thì sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngược lại, những ai vì nhận thức thấp kém, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo; biết ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai báo… thì được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử, luận tội, toà án xem xét công và tội rõ ràng, công minh.

Việc điều tra, truy tố, xét xử các bị can, bị cáo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình xét xử đảm bảo việc tranh tụng dân chủ trước toà. Các hoạt động tố tụng đều thực hiện theo các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, thể hiện sự công khai, minh bạch, trách nhiệm trong các hoạt động công tố và các bản án được xem xét khách quan, người dân ủng hộ, điều này cũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Bài học từ một số quốc gia vùng Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ… cho thấy, khi xã hội bất ổn, rối ren, hậu quả khủng hoảng đến với người dân là không thể lường, sự bất ổn đó tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, làm đảo lộn đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Và một trong những nguyên do dẫn tới sự bất ổn đó là có bàn tay chống phá của các thế lực xấu, sự bào mòn các giá trị căn bản của luật pháp và xã hội.

Do đó, bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật là yếu tố căn bản, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, bền vững, loại trừ các nguy cơ can thiệp, chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân, đó là mục tiêu tối thượng trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Việc đòi bỏ điều luật này, điều luật kia dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền chỉ là chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực chống phá nhằm gây rối ren, bất ổn xã hội./.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

Đừng cố tình hiểu sai giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

 

Theo thông lệ, cứ đến thời điểm này, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị lại đưa ra một số luận điệu chính trị phản động cố tình hiểu sai giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chúng rêu rao "Cách mạng Tháng Tám là thứ quả ngọt trời cho", hoặc "Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự ăn may của lịch sử", chúng ra sức phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Tháng Tám…

Đảng ta đã khẳng định: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trong điều kiện khách quan có những yếu tố thuận lợi (điều đó chúng ta không phủ nhận). Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai tạo cho dân tộc ta một cơ hội thuận lợi, kẻ thù của chúng ta lúc đó là thực dân Pháp và phát xít Nhật đã tự loại nhau. Từ sau ngày 9/3/1945, đối tượng chủ yếu của cách mạng Việt Nam là phát xít Nhật. Khi đội quân Quan Đông mạnh nhất của Nhật bị Hồng quân Liên Xô đánh bại ở Mãn Châu (Trung Quốc) dẫn đến Nhật đầu hàng Đồng minh, thì ở Việt Nam lúc đó quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai cũng hoang mang, tạo điều kiện khách quan chín muồi cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.

Tuy nhiên, dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến đâu mà điều kiện chủ quan chưa chín muồi thì cách mạng cũng chưa thể thành công. Thực tế cho thấy cũng trong hoàn cảnh thắng lợi của Đồng minh và thất bại của phát xít Nhật, nhưng không phải nước nào cũng tiến hành được một cuộc khởi nghĩa để giành độc lập cho dân tộc. Tại thời điểm đó, chỉ ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", toàn dân đã tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng lật đổ sự thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Thắng lợi của Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, đó cũng là kết quả của việc chúng ta chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và đề ra chủ trương đúng đắn, lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên, chớp thời cơ để tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Trong 2 yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là nguyên nhân chính, động lực chính quyết định đến sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Thực tế đã khẳng định dù thời cơ có thuận lợi đến mấy, nhưng nếu chúng ta không có đường lối đúng đắn, không có sự tập duyệt của 3 cao trào cách mạng, không có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện thì Cách mạng Tháng Tám cũng không xảy ra. Chính vì vậy, đó không phải là sự ăn may và Đảng ta không hề "cướp công" như những gì các thế lực phản động bịa đặt, xuyên tạc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu: Đó là bài học gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc; bài học thực hiện triệt để phương châm "thêm bạn bớt thù"; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một Đảng cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Có thể nói, tháng năm đã trôi qua, nhưng những giá trị lịch sử to lớn, tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám vẫn sống mãi trong bước đường phát triển của đất nước ta, nhất là trong giai đoạn thực hiện "mục tiêu kép" hiện nay. Mỗi một người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, dù ở cương vị nào, chúng ta hãy phát huy cao độ tinh thần Cách mạng Tháng Tám để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Chúng ta cũng không bao giờ đồng tình với những ai cố tình hiểu sai giá trị lịch sử vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945./.

Vận dụng, phát huy tinh thần, bài học từ Cách mạng Tháng Tám

 

Cách đây tròn 77 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18-8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Thành công đó còn đến từ tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta. Đó còn là khả năng nhận định, đón nhận những yếu tố thuận lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức của cộng đồng tiến bộ quốc tế...

Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa suốt 76 năm qua đã khẳng định tinh thần và những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Tám đã luôn được phát huy hiệu quả. Đảng đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, với phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp. Đó là khả năng nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng; phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là khả năng tập hợp, tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tận dụng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế tạo nguồn lực vô cùng to lớn để đất nước giành những thắng lợi quan trọng, quyết định. Tất cả đã được minh chứng rõ nét trong Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân 1975; hay những thành tựu nổi bật thời kỳ đổi mới được cộng đồng quốc tế đánh giá cao...

Khi đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay” thì đại dịch Covid-19 ập đến, diễn biến vô cùng phức tạp, khiến cả thế giới chao đảo. Trong bối cảnh đó, một lần nữa, với khả năng đánh giá đúng tình hình, “biết người, biết ta” và tổ chức lực lượng phối hợp đồng bộ, kiên quyết, Việt Nam nổi lên là quốc gia vừa chống dịch hiệu quả, việc duy trì phát triển kinh tế ổn định. Những biện pháp Việt Nam áp dụng chống dịch hiệu quả được cả thế giới học hỏi như bắt buộc sử dụng khẩu trang, giãn cách xã hội...

Thế nhưng, với biến chủng Delta, dịch Covid-19 đã, đang khiến cả thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam, gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm nguồn lực y tế chống dịch. Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh Nam Bộ bùng phát dịch, đời sống kinh tế - xã hội bị đảo lộn. Trong bối cảnh khó khăn đó, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc đồng bộ, quyết liệt với tinh thần, ý chí rất cao. Không chỉ các chiến sĩ “áo xanh”, các chiến sĩ “áo trắng”, lực lượng dân phòng đã quên mình sẵn sàng, tình nguyện ra tuyến đầu. Chính phủ đã dành ưu tiên tối đa, huy động mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu phòng, chống dịch. Cả thế giới đang khan hiếm vắc xin, nhưng Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ, viện trợ vắc xin của nhiều đối tác. Hàng loạt tập đoàn, doanh nghiệp, người dân đã tích cực ủng hộ vật chất, tinh thần cho lực lượng tuyến đầu chống dịch. Tại nhiều khu, tổ dân phố, người dân tự nguyện ứng trực tại “chốt xanh” để bảo vệ cộng đồng trước đại dịch.

Tinh thần cách mạng, yêu nước, thương nòi càng lúc càng lên cao trong thời gian vừa qua. Không chỉ thực hiện nghiêm các quy định phòng, chống dịch, mỗi người dân, không ai bảo ai, đồng lòng “nhường cơm, sẻ áo”, hỗ trợ nhau vượt qua giai đoạn khó khăn. Hình ảnh các đoàn từ thiện hỗ trợ người khó khăn bữa cơm mùa dịch, hay từng đoàn người về quê tránh dịch đi đâu cũng nhận được sự hỗ trợ đã nói lên tất cả. Đó cũng chính là tinh thần lời kêu gọi chống dịch của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “... Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, nhân nghĩa. Mỗi khi đất nước gặp khó khăn, truyền thống đó lại càng được nhân lên gấp bội. Thời gian qua, toàn dân ta đã đồng lòng, cùng chung sức với Đảng, Nhà nước ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh bước đầu có hiệu quả... Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh...”.

Với sự đồng lòng, chung sức, ý chí quyết tâm rất cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, dịch Covid-19 sẽ sớm được khống chế, kiểm soát để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, làm cho cơ đồ đất nước ngày càng tươi sáng hơn./.

BẢO VỆ VÀ NHÂN LÊN SỨC MẠNH “Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN” TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những nhân tố có tính quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là do Đảng ta đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt đường lối đoàn kết toàn dân tộc, liên hiệp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt tôn giáo, xu hướng đảng phái chính trị, giai cấp, trong một Mặt trận Dân tộc thống nhất. 

Sự thật đã chứng minh thuyết phục, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là thắng lợi của sức mạnh “ý Đảng, lòng Dân”, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc biết chớp thời cơ, vùng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng dân tộc. Thế nhưng, đâu đó vẫn có một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam cố tình bóp méo, xuyên tạc tính chất và ý nghĩa của vấn đề lịch sử này. 

Do động cơ, mục đích đen tối, họ cố tình phủ nhận rằng, chẳng có sự thống nhất, tinh thần đoàn kết nào, dưới sự lãnh đạo của ai cả mà đó chỉ là hành động "bột phát, vô thức" của người dân phẫn uất do bị áp bức, bóc lột đứng lên giành chính quyền. Khi bàn về vai trò của các tầng lớp, các giai cấp trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, họ cho rằng giai cấp nông dân Việt Nam đã nhận thức được “mệnh trời” và vai trò của mình. Bằng cái nhìn chủ quan, phiến diện, thiển cận đó họ cho rằng, thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 vai trò nổi dậy của giai cấp nông dân Việt Nam mới là quyết định.

Luận điệu trên không nằm ngoài mục tiêu phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ phận sức mạnh của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Nhưng họ đã lầm. Sự thật lịch sử quá rõ ràng và vô cùng thuyết phục. Cách nhìn nhận phi lý, phản khoa học, những luận điệu sai trái, lập lờ đánh lận con đen của họ không thể lừa bịp được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới và những người Việt Nam chân chính.

Hơn thế, tinh thần đại đoàn kết, sự thống nhất đã trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần đoàn kết, sự thống nhất đã trở thành một trong những nét đẹp trong văn hóa dân tộc. Nét đẹp ấy càng được khẳng định trong thời đại Hồ Chí Minh toàn thể dân tộc Việt Nam là một. Có thể nói cách mạng Tháng Tám năm 1945 là đỉnh cao tỏa sáng rực rỡ của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

"Nước mất thì nhà tan", mỗi người dân Việt Nam luôn nhận thức rõ, ý thức sâu sắc điều này và tinh thần ấy luôn thường trực trong mỗi người con nước Việt. Từ thực tiễn lịch sử, nhân dân Việt Nam từng tổng kết, đúc rút, chỉ khi nào có sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, thì khi ấy mới tập hợp phát huy được sức mạnh nội lực của đất nước, mới xây dựng và bảo vệ nước nhà được hòa bình, thịnh vượng. Cũng chính trên nền tảng ấy mà nhân dân ta đã không cam chịu thân phận, kiếp đời nô lệ, một lòng đi theo Đảng, triệu người như một quyết vùng lên giành độc lập, tự do cho dân tộc, giành địa vị làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh cho mình. 

Có thể nói, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng tuyệt vời của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Cùng với đó cần phải khẳng định, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra và thành công gắn với vai trò lãnh đạo của Việt Minh, của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Chúng ta không phủ nhận vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, trong đó có giai cấp nông dân. Nhưng cần phải nhớ rằng, sự nhất tề vùng lên của quần chúng nhân dân nói chung, của giai cấp nông dân nói riêng không phải là "vô thức, bột phát" vì "phẫn uất" như một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam từng xuyên tạc, mà đó là sự vùng lên có giác ngộ, được tổ chức, theo đường hướng lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, của Đảng Cộng sản Đông Dương. 

Bảy mươi sáu năm nhìn lại, chúng ta càng hiểu hơn về sự kiện vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX, càng thấy rõ hơn giá trị tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, của độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất. Bài học về sự thống nhất “ý Đảng, lòng Dân”, về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Bởi chỉ khi lòng dân được quy về một mối và tất cả cùng hướng niềm tin vào Đảng - đó sẽ là sức mạnh vô địch để cả dân tộc băng qua mọi khó khăn, thử thách, tiếp tục làm nên các kỳ tích mới trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Giá trị của Cách mạng Tháng Tám trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 

Mùa thu năm 1945, với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ phong kiến hàng thế kỷ và sự thống trị của chủ nghĩa thực dân hơn 80 năm, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. 77 năm đã trôi qua nhưng hào khí, tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên vẹn; là động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như sinh thời Bác Hồ hằng mong mỏi.

Từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm và chế độ quân chủ hàng thế kỷ.

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, trong cuộc mít tinh của hàng chục vạn quốc dân, đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Ngày 2/9 đi vào lịch sử là Ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và Bác Hồ. Thắng lợi ấy minh chứng cho bản lĩnh và trí tuệ của Ðảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự kế thừa và phát huy kinh nghiệm từ các cao trào cách mạng do Ðảng khởi xướng, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ là mốc son chói lọi; bước ngoặt trọng đại của nhân dân, dân tộc Việt Nam; Mở ra một kỷ nguyên đất nước độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Sống trong chiến tranh mới thấy hết giá trị của hòa bình; chịu cảnh nô dịch của ngoại bang mới thấm thía nổi nhục của kiếp nô lệ. Hơn ai hết, nhân dân, dân tộc Việt Nam đã chịu biết bao đau thương, mất mát, tủi nhục, bởi đã từng là nạn nhân của hàng trăm, hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ trong lịch sử; cũng đã từng chịu sự nô dịch của 1.000 năm phong kiến phương Bắc và gần 100 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Pháp; là chiến trường ròng rã hơn 20 năm bởi âm mưu, thủ đoạn, toan tính và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp, thực dân Mỹ và bè lũ tay sai. Càng thấm thía nỗi đau của chiến tranh, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám và nền độc lập, tự do mà cuộc cách mạng vĩ đại ấy mang lại; trân trọng hơn cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh mà cả dân tộc ta phải đánh đổi bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ cha anh đi trước. Chúng ta càng thấu hiểu sự hy sinh, công lao to lớn của Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân đã dày công xây dựng, vun đắp và bảo vệ đất nước.

Tuy vậy, vì những mưu đồ đen tối, không ít kẻ bán rẻ lương tri, ngụy tạo mọi lý lẽ hòng phủ nhận giá trị vĩnh cửu của cuộc Cách mạng tháng Tám; làm cơ sở để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Trước đây, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị rêu rao luận điệu “Cách mạng tháng Tám chỉ là một cuộc cách mạng ăn may”. Nhưng những lập luận thù địch của chúng chỉ “lóe lên” rồi “tắt ngẫm”. Không thể phủ nhận giá trị, chúng quay sang phá hoại thành quả cách mạng tháng Tám bằng cách hộ hào “Đa nguyên đa đảng”, kêu gọi “bạo loạn lật đổ”, “xuống đường”…; ngụy tạo các dẫn chứng bằng công nghệ cao để lừa bịp, mị dân, lừa gạt nhân dân trong nước và dư luận quốc tế; khoét sâu sai trái của một số cán bộ, đảng viên suy thoái để quy chụp cho cả hệ thống chính trị, phủ nhận trí tuệ, tâm huyết của hàng triệu cán bộ, đảng viên đang ngày đêm góp công, góp sức xây dựng đất nước.

Càng trơ trẽn hơn khi chúng tìm đủ mọi thủ đoạn lợi dụng lòng yêu nước vốn quý của nhân dân phục vụ cho mưu đồ chính trị đen tối; biến một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ trẻ chưa hiểu biết, nhận rõ dã tâm của chúng làm “lá chắn” cho các “chiến dịch phá hoại” được bọn phản động lưu vong và các tổ chức trá hình đứng đằng sau đạo diễn. Chúng lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ truyền thông, mạng xã hội để lan truyền, tán phát nhanh chóng luận điệu của cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “yêu nước”; tạo ra sự hư ảo, lung lạc nhận thức tư tưởng đối với người nghe, xem. Điều đặc biệt nguy hại khi các hoạt động giả danh dân chủ, nhân quyền, yêu nước đã được một số cơ quan truyền thông, tổ chức nước ngoài, khuyến khích, tài trợ và được một số nhân vật chống cộng cực đoan ở các quốc gia cổ xúy, nuôi dưỡng. Đích cuối cùng mà các tổ chức phản động hướng đến là tạo cớ “hô hào” gây ra “bạo loạn chính trị” theo mô hình “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu” mà chúng đã thành công ở một số quốc gia trên thế giới.

Thực chất, đây là những việc làm phản đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân và xu thế tiến bộ của thời đại trên mọi khía cạnh. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch cần phải được Đảng, Nhà nước và Nhân dân vạch trần, đấu tranh, loại bỏ.

Lan tỏa hào khí và những giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng thời tự trang bị cho mình “sức đề kháng” để “miễn dịch” trước những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi của các thế lực thù địch; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; giữ vững niềm tin vào Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới của đất nước… Đó là cách để vô hiệu hóa mọi hành động phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch, để thực hiện lời thề thiêng liêng của mùa thu năm 1945 lịch sử: “… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy” trong giai đoạn hiện nay.