Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

Quan hệ dân tộc ở Việt nam hiện nay

 


Quan hệ dân tộc được hiểu là các mối quan hệ, giao lưu, hợp tác gắn bó và tác động lẫn nhau giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ quan hệ dân tộc thường được hiểu/đồng nhất là quan hệ tộc người. Quan hệ tộc người được hiểu là các mối liên hệ, giao lưu, hợp tác, liên kết, phân ly giữa các cá nhân hay các tổ chức khác nhau trong các cộng đồng của một tộc người hoặc giữa các tộc người. Do đó, khái niệm “quan hệ dân tộc ở Việt Nam cần phải được hiểu là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và quan hệ đồng tộc xuyên biên giói. Trên thực tế, quan hệ dân tộc diễn ra ờ mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của tất cả các tộc người và giữa các tộc người nên rất đa dạng và phức tạp, gồm nhiều chiều, nhiều hình thức, nhiều cấp độ và không gian khác nhau.

Nếu xét theo không gian, các mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam diễn ra cả trong vùng nội biênxuyên biên giới. Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc dân tộc ở Việt Nam có một tộc ngưòi đa số (người Kinh) và 53 tộc người còn lại là thiểu số (hơn 300 nhóm địa phương), cùng với sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ phát triển kinh té„ văn hóa, xã hội, quan hệ dân tộc cần được phân biệt/xác định theo các trục quan hệ cơ bản như sau: (1) Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Dân tộc (nation); (2) Quan hệ giữa tộc người đa số (người Kinh) với các tộc người thiểu số; (3) Quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người thiểu số; (4) Quan hệ tộc người xuyên biên giới.

Các mối quan hệ này tuy có vị trí và mức độ ảnh hường khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tổ khác, nhất là dưới tác động của đường lối, chính sách dân tộc tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Vì vậy, phạm vi của các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam hiện nay không chỉ diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tộc người mà cả với các tộc người khác. Trong đó, mối quan hệ giữa người Kinh - tộc người đa số với các tộc người thiểu số được xem là trục quan hệ quan trọng, nhất là sự có mặt của người Kinh ở vùng dân tộc và miền núi hiện nay với số lượng ngày càng gia tăng và có ảnh hường quan trọng đến phát triển bền vững. Bên canh đó, mối quan hệ của từng tộc người với quốc gia dân tộc cũng là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu bi nó phản ánh nhận thức, vị thế và sự tham gia của từng tộc người trong sự phát triển chung của quốc gia dân tộc.

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam dù trên phạm vi hay lĩnh vực nào cũng luôn hướng tới một hoặc nhiều mục đích: trao đổi kinh tế (bao gồm buôn bán, làm thuê, hợp tác kinh doanh...); duy trì sự gắn kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng; và có thể vì mục tiêu hay lý do chính trị khác... Do đó, nghiên cứu làm rõ vấn đề quan hệ dân tộc ở Việt Nam, cần phải xem xét/phân tích một cách cận trọng các mối quan hệ theo các trục quan hệ, chiều cạnh quan hệ, cấp độ quan hệ và không gian của các mối quan hệ.

CÔNG AN ĐÀ NẴNG BẮT GIAM ĐỐI TƯỢNG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC!

     Chiều 07/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (SN 1984, trú phường Thanh Bình, quận Hải Châu) về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
     Bùi Tuấn Lâm là thành viên của một số tổ chức gọi là “Tổ chức xã hội dân sự”, mà thực chất là các hội, nhóm chống Đảng, Nhà nước và các tổ chức phản động lưu vong.
     Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình gây rối...
     Từ 2013 đến nay, Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ xuý các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn đăng tải, chia sẻ các bài viết xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật với mong muốn, mục đích thay đổi chế độ Nhà nước XHCN ở Việt Nam, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.
     Mặc dù Công an TP Đà Nẵng và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo, tuy nhiên Bùi Tuấn Lâm bày tỏ thái độ bất hợp tác, thách thức. Không từ bỏ hoạt động vi phạm mà ngày càng công khai, quyết liệt chống phá.
     Việc Bùi Tuấn Lâm bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra là kết cục tất yếu của một chuỗi quá trình hoạt động vi phạm pháp luật và chống phá Nhà nước với ảo tưởng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam./.


Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN ĐÚNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin” Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
     Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào./.




Yêu nước ST.

NHẬN THỨC ĐÚNG N.VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

     Kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm truyền thống của dân tộc dựng nước phải đi đôi với giữ nước và từ thực tiễn của đất nước qua các thời kỳ, dấu ấn lịch sử quan trọng, từ bối cảnh quốc tế, khu vực và từ yêu cầu, khả năng về quốc phòng, an ninh và sự phát triển kinh tế Đảng ta xác định: Quan điểm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong GĐ cách mạng mới.
     Thứ nhất, Đại Hội XIII của Đảng xác định ngày càng đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong nhận thức, lãnh đạo, chỉ đảo của Đảng về mục tiêu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự mở rộng và bao trùm hơn so với trước đây, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc...
     Thứ hai, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
     Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.
     Thứ ba, Đại hội XIII của Đảng có bước tiến mới về xây dựng và phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, đó là: Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và có sức mạnh chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống./.




Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 9 NĂM 1962!

     “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội nhà báo Việt Nam”, ngày 08 tháng 9 năm 1962, được đăng trên Báo Nhân dân, số 3089, ra ngày 09 tháng 9 năm 1962.
     Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Tới dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí, mà mỗi người chúng ta đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.
     Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ hoặc như ý tưởng đề xuất thay thế tiếng Việt đang sử dụng thành bản tiếng Việt mới nhưng thiếu thực tế của một vài cá nhân đã xâm hại một cách nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả trong văn nói và văn viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt cần phải kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc.
     Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị to lớn của tiếng Việt. Trước hết, phải sử dụng ngôn ngữ trong sáng trong giao tiếp hằng ngày, không dùng từ ngữ thô tục. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn có ý thức tự học, nâng cao trình độ nói và viết sao cho chặt chẽ, logic, tránh dùng những từ đa nghĩa, khó hiểu. Có như vậy, mới hạn chế được những sai sót, góp phần bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt./.
Môi trường ST.

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH!

CHỐNG CHỦ NGHĨA
CƠ HỘI
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Chủ nghĩa cơ hội là hệ thống quan điểm chính trị không theo một định hướng, một đường lối rõ rệt, không có chính kiến hẳn hoi, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt.
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì; Chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc, hy sinh cái cơ bản để đặt lợi ích cục bộ, trước mắt sẵn sàng thoả hiệp chính trị. 

Bản chất chủ nghĩa cơ hội là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác- Lênin, là tàn dư tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Là sự hy sinh lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, của dân tộc, vì lợi ích trước mắt của một nhóm, một bộ phận, là sự đầu hàng trước những trào lưu tư tưởng tư sản và phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin. 

Chủ nghĩa cơ hội về lý luận đó là sự chiết trung (chủ nghĩa chiết trung), ngụy biện, sẵn sàng thay đổi quan điểm tư tưởng cơ bản để trục lợi chính trị, về kinh tế thể hiện tư tưởng thực dụng sẵn sàng đánh đổi tất cả vì lợi ích trước mắt của một người hay một nhóm người. Về hành động là phiêu lưu thụ động, lúc tả, lúc hữu, lúc nóng vội, lúc chủ quan, không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co. Về thủ đoạn thì lươn lẹo lắt léo, luồn lách, sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu khi có lợi.

V.I.Lênin khi nói về tính không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co của chủ nghĩa cơ hội cũng cho rằng; Những người cơ hội chủ nghĩa là những người do dự, thiếu kiên định, dao động và lừng chừng, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”(1). 
Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp giữa quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau. Do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng, là lời nói không đi đôi với việc làm, "cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”.

Theo V.I. Lênin, trong phong trào công nhân và trong Đảng, vẫn còn đó những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại ưa chuộng những lợi ích nhỏ nhặt, rẻ tiền, nhất thời của “lối sĩ diện” tư sản. Đó là những người sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự "hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình"; sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân. Và thực tế cũng cho thấy rằng, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ "lập lờ","ẩn mình" dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Chủ nghĩa cơ hội có hai khuynh hướng chủ yếu: 
• Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, có tính chất cải lương, thiên về thỏa hiệp, muốn "cải biến" một cách hòa bình. Về thủ đoạn thì lươn lẹo lắt léo, luồn lách, sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu khi có lợi.
Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh làm mờ nhạt, suy yếu, thủ tiêu nội dung cách mạng của Chủ nghĩa Mác, nó “tuyên truyền trong công nhân thứ chủ nghĩa xã hội lửng lơ bên trên lợi ích giai cấp của họ, bên trên đấu tranh giai cấp và ra sức điều hòa theo tinh thần nhân đạo cao cả những lợi ích của hai giai cấp đang đấu tranh với nhau”(2), biến Chủ nghĩa Mác thành cái mà ngay cả giai cấp tư sản cũng có thể chấp nhận được. Vì thế, Ph.Ăng-ghen đã nói rằng, chủ nghĩa cơ hội biến Chủ nghĩa Mác thành một thứ “Chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó”(3). Chúng ta cần đặc biệt lưu ý chỉ dẫn sau đây của Ph.Ăng-ghen: “Vì những lợi ích nhất thời hàng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn, chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến những hậu quả về sau, hy sinh tương lai của phong trào vì hiện tại, tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả”(3)(5).

• Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh, là sự pha trộn giữa cực đoan và phiêu lưu, giáo điều, manh động, chủ quan, sùng bái bạo lực, không đếm xỉa tới tình thế khách quan. 
Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh khư khư biến Chủ nghĩa Mác thành một thứ giáo lý chết cứng như kinh thánh của tôn giáo, làm cho Chủ nghĩa Mác mất sức sống, cứng nhắc và không sáng tạo, xa rời đời sống thực tiễn, gần gụi với chủ nghĩa giáo điều, máy móc, rập khuôn. Nó ảo tưởng trong một thời gian ngắn có thể tạo ra một phong trào bất chấp những điều kiện chủ quan và khách quan thực tế hiện có, làm cho Đảng thoát ly quần chúng, mạo hiểm làm bừa. Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh làm cho những nhà lãnh đạo phong trào công nhân rất dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí, không nắm vững quy luật khách quan.(5)

Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi những phần tử cơ hội chủ nghĩa là bọn đầu cơ "Bọn đầu cơ thực ra chỉ là bọn cơ hội chủ nghĩa thực dụng, chúng không có lý luận, chúng chỉ tìm cách “thích nghi” và luồn lách xuất phát từ bản chất của nó là mưu lợi cá nhân, là thói ích kỷ, vụ lợi". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng bọn đầu cơ cũng giống như là bọn phản động, nó “là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại”(4). Nó dùng mọi thủ đoạn như xu nịnh, đút lót, hối lộ, tâng bốc, bênh che, cánh hẩu, ô dù, phe cánh, gian dối... để chui sâu, leo cao, miễn sao nắm được quyền lực để mưu vinh thân phì gia...(5)

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cơ hội chính là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân “xuất phát từ bản chất của nó là mưu lợi cá nhân, là thói ích kỷ, vụ lợi". Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng để chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Người coi đó là cuộc đấu tranh trực tiếp liên quan tới vận mệnh của Đảng và Dân tộc, quyết định đến thành công của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ ra rằng:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (6)

Người khái quát : “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó. Những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(9)

Người viết: “Có một số ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng”. “Họ tự xem mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”

Người khẳng định: “Cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng chỉ rõ về đạo đức cách mạng, trong đó hai tiêu chí “Nhận rõ phải-trái. Giữ vững lập trường” được Người đưa lên hàng đầu, vì hai tiêu chí này đánh giá phẩm chất của người cán bộ cách mạng;

“Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không...”(7)
----------------------------------------
(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 239, (2) Sđd, tập 21, tr.382, (3) Sđd, tập 22, tr.113, 346, (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H.2002, tr.264, (5) Báo QĐND 16/7/2021, (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.557-558, (7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 480), 8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập12, tr.438-439, (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.292./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Ô HAY CHỈ NGA PHẢI CÓ TRÁCH NHIỆM THANH TOÁN CÒN MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY THÌ KHÔNG PHẢI THANH TOÁN SAO?

Mới đây, trong phiên họp Liên Hợp quốc, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Rosemary di Carlo yêu cầu Nga phải chuyển điện sản xuất tại nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine : "Như Tổng Thư ký LHQ đã nói rõ, điện sản xuất tại nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine."
     Đại diện Nga tại LHQ ông Nebenzya đáp trả: "Chúng tôi đã nghe những lời nói rằng điện của nhà máy điện hạt nhân Zaporozhye thuộc về Ukraine. Chúng tôi muốn chỉ ra rằng chúng tôi chưa nghe những lời như vậy từ Ban Thư ký Liên Hợp Quốc liên quan đến tài sản tài chính của Nga bị đóng băng ở phương Tây, hoặc liên quan đến dầu mỏ của Syria, thứ đang bị đánh cắp bởi chính quyền Mỹ, những người đang chiếm đóng bất hợp pháp một phần lãnh thổ của Syria. Chưa bao giờ nghe thấy điều đó!".
     Đấy, may nhờ Đại sứ Nga nói, nếu không đến cả Ban Thư ký của Liên Hợp quốc cũng không biết gì về những khuất tất của Mỹ và phương Tây trong chiếm đoạt tài sản của nước khác. Mà xin bổ sung cho Đại sứ Nga, còn nhiều hành động chiếm đoạt khác, như Mỹ vẫn còn cầm hộ hàng chục tỷ USD của người dân Afpaghixtan hay Anh vẫn đang giữ vài chục tấn vàng của Venezuena, dù người dân các nước này đang ch.ết đói.
Văn minh quá mà!

Môi trường ST.

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nội dung trọng tâm của đổi mới chính trị tại Việt Nam. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích cực thảo luận, lấy ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số bài viết cho rằng đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thậm chí, một số người nhân danh cấp tiến, đổi mới để vu cáo rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền; cho rằng việc đưa ra định hướng XHCN chỉ để mang lại lợi ích cho Đảng chứ không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ… Những luận điệu trên  thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện từ sớm, gắn với các nhà tư tưởng nổi tiếng như Socrates (469-399 Tr.CN), Aristoteles (384-322 Tr.CN), Cicero (l06-43 Tr.CN), John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hegel (1770 - 1831) v.v… Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.

Những yếu tố cơ bản để xây dựng một nhà nước pháp quyền là xã hội có dân chủ, đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà các quốc gia khác nhau sẽ xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể một cách thích hợp.

Tại Việt Nam, mô hình mà chúng ta lựa chọn là nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 1, Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Như vậy, đây là bộ máy quyền lực của chính quần chúng nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đại đa số người dân trong xã hội.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ và trách nhiệm tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều kiên quyết bị xử lý.

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là “đứng trên pháp luật”, “không tuân thủ pháp luật” như những gì các đối tượng xấu cố tình bôi nhọ. Tất cả các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Việc Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Sau 35 năm thực hiện đổi mới, kinh tế nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm), cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tích cực, tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Môi trường hoà bình, ổn định được giữ vững, là tiền đề quan trọng để đất nước phát triển. Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm bình quân trên 1,4%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu. Trong quan hệ quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao và được bầu giữ nhiều vị trí quan trọng trong các tổ chức quốc tế. Đây là những minh chứng rõ ràng khẳng định Việt Nam đang phát triển đúng hướng.

Quá trình phát triển cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu.

Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Vì vậy, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Hiện thực sinh động phản bác những trò xảo biện trong dịp Quốc khánh

 Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Song, có những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao.

Chẳng hạn, bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9 nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất, dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…

Đọc những câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì phải “trả  bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc càng có tiền.

Cổ suý tư tưởng chống phá nói trên, một số mạng hải ngoại phân tích kiểu râu ông cắm cằm bà, tiếp cận các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hiện nay trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước rồi phán rằng, hiện thực đất nước là “gam màu xám xịt”. Họ cho rằng, 77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”! Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!

Ở đây, cần thấy rằng:  

Thứ nhất, về ý nghĩa, bản chất của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, bất cứ nhìn từ góc độ nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và điều này đã được sử sách nước ta cũng như thế giới ghi nhận. Với Cách mạng Tháng Tám, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Từ đây, đất nước, xã hội và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ hai, từ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam đã phấn đấu, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Hiện thực đó được thể hiện bằng bức tranh sống động trong giai đoạn đổi mới hiện nay, điều mặc nhiên ai cũng thấy rõ. Các quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá từ thực tiễn và chính người dân ghi nhận, hưởng thụ, không thể bôi lem, biến tấu kiểu “đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”!

Thứ ba, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và quốc tế đánh giá, coi Việt Nam như thế nào, hãy để sự thật khách quan lên tiếng, không thể tẩy trắng kiểu “không có vị trí gì”!

Sự thực là, cũng trong những ngày đầu tháng 9 này, phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cảnh sát Liên hợp quốc lần thứ ba (UNCOPS), diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York từ 30/8-3/9, gửi đi thông điệp Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Tại khóa họp 50 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tháng 6 vừa qua, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đó chỉ là hai trong rất nhiều hoạt động quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia, thể hiện rõ nét Việt Nam là một đối tác tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Cũng trong dịp Quốc khánh này, các nước đã chúc mừng, đánh giá cao thành tựu, vị thế của Việt Nam. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, “Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới”. Đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản ánh sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời cũng cho thấy vai trò và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Tại buổi lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Nhóm diễn ra ở New York tháng 6 vừa qua, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như các nước đồng sáng lập nhóm, góp phần đề ra cam kết của đông đảo thành viên Liên hợp quốc, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước vốn lâu nay được coi là “Hiến pháp của đại dương”.

Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2022, có 512 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Việt Nam được cử đi làm nhiệm vụ ở phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei... Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ cũng như những đóng góp tích cực đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn; đặc biệt bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này.

Chính sự sẵn sàng và tinh thần trách nhiệm khi tham gia đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam tạo dựng được lòng tin, liên tiếp được bầu vào nhiều tổ chức đa phương quan trọng như Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC)... Đây cũng là động lực để Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng thể hiện sự tự tin của Việt Nam trong việc gánh vác các trọng trách của quốc tế.

Tại khu vực, Việt Nam ngày càng khẳng định là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, đóng góp hết mình vì sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Đánh giá về những thành tựu đối ngoại của Việt Nam, Đại sứ Philippines Kridelka, Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ tại Liên hợp quốc khẳng định: “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”. Trong các phát biểu khi tham dự lễ kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhiều đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế đã đề cao vị thế và coi trọng hợp tác với Việt Nam.

Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững. Đó là hiện thực khách quan, do quốc tế ghi nhận, đánh giá chứ không phải tự mình nói về mình. Vậy mà vẫn có những thành phần viết, nói theo kiểu không nghe, không biết, không thấy thì đủ hiểu động cơ của họ như thế nào.

Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động

 Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.

Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á - Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”.

“Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm.

Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

Góp phần động viên tinh thần yêu nước, củng cố lòng tin

 Ngày 11/1, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (Ban Chỉ đạo quốc gia 515), tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (Đề án 1237) và Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin (Đề án 150) giai đoạn 2013 - 2020; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2021 - 2025. 

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515 và Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Bá Hoan, Phó Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515, đồng chủ trì Hội nghị.

Giai đoạn 2013 - 2020, các cấp, ngành, địa phương, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, tích cực, hiệu quả Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị, Quyết định 1237, Quyết định 150 của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Với việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, công tác này đã được thực hiện toàn diện, đi vào nền nếp và trở nên sâu sắc hơn, từ đó hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương, làm tăng thêm niềm tin của nhân dân, thân nhân liệt sĩ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã tìm kiếm quy tập được gần 17.000 hài cốt liệt sĩ (ở trong nước hơn 8.000, ở Lào trên 2.000, ở Campuchia hơn 6.000); tiếp nhận hơn 38.000 mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ; phân tích, lưu trữ ADN được hơn 23.000 mẫu; xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin được hơn 4.000 trường hợp (bằng phương pháp thực chứng được gần 3.000 trường hợp, bằng phương pháp giám định ADN được hơn 1.000 trường hợp); xác minh, kết luận bổ sung, đính chính thông tin được 1.260/1.736 ngôi mộ của nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đăk Lắk (đạt 72,58% số mộ có một phần thông tin; 55,9% tổng số mộ trong nghĩa trang). Các đơn vị, địa phương đã quản lý chặt chẽ địa bàn; tổ chức đón nhận, bàn giao, truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ trang nghiêm, trọng thị, chu đáo; công bố, trả kết quả xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đúng quy định.

Với những thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, đã có 2.749 tập thể, cá nhân được khen thưởng.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Võ Minh Lương nhấn mạnh: Trong những năm tới, cùng với việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, các cấp, ngành, đơn vị cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về nhiệm vụ này; đồng thời chủ động thu thập, kết nối, xử lý thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, giải mã ký hiệu, phiên hiệu đơn vị trong chiến tranh.

Cùng với đó, việc kiện toàn tổ chức, lực lượng chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin cần được quan tâm hơn nữa; song song với việc tăng cường hoạt động tìm kiếm quy tập, tổ chức thực hiện quy trình xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác quốc tế, đồng thời bảo đảm nguồn lực, phương tiện, trang bị, kinh phí, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác này.

Thay mặt Ban Chỉ đạo quốc gia 515, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam biểu dương tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của các cấp, ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị, Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo; đặc biệt là các cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đã luôn nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, có ý chí, quyết tâm cao, sẵn sàng chấp nhận, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời khẳng định kết quả thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin trong thời gian qua đã góp phần động viên tinh thần yêu nước, củng cố lòng tin của nhân dân, thân nhân liệt sĩ đối với Đảng, Nhà nước; ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương và trong cả nước.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đề nghị các cấp, ngành, đơn vị cần bám sát tình hình thực tiễn những năm tới, với tất cả trách nhiệm và tình cảm tiếp tục tạo điều kiện tốt nhất cho công tác này. Trong đó, cần tăng cường sử dụng các phương tiện công nghệ mới, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, đặc biệt là phát huy các sáng kiến trong việc thu thập, tiếp nhận thông tin phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đồng thời đề nghị các địa phương thường xuyên quan tâm đến công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các gia đình thương binh liệt sĩ.

Màn kịch “kêu oan” sau phiên toà phúc thẩm xét xử Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm

 Tung tin giả, tô vẽ hình tượng để kêu oan cho các bị cáo trước, trong và sau phiên tòa đã trở thành chiêu trò quen thuộc của những đối tượng chống phá Việt Nam. Đây cũng là thời cơ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ ngành Tư pháp và chế độ. 

Ngay sau khi TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm 2 bị cáo Trịnh Bá Phương (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Tâm (sinh năm 1972), cùng trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ”, các trang báo như BBC, RFA, VOA... đã đồng loạt lên tiếng “bẻ lái” vụ án, tìm cách tẩy trắng tội danh nhằm “kêu oan” cho các đối tượng.

Vở kịch này khởi nguồn từ bài viết của một nhân vật với danh nghĩa luật sư, tung lên trên mạng xã hội. Nội dung của bài viết phản ánh về quá trình diễn ra phiên tòa xét xử phúc thẩm, trong đó chủ yếu tập trung ngòi bút của mình để “ca ngợi” bị cáo Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm với những lời lẽ thật mĩ miều như: “tại phiên tòa, tâm thế của các bị cáo rất hiên ngang, mạnh mẽ và bình tĩnh trong phiên đối chấp trước tòa”! Và cũng theo tác giả này, biểu hiện đó của các bị cáo cho thấy “khả năng xử lý thật đáng làm người ta phải kinh ngạc”!?

Các “nhà dân chủ” giả hiệu ở trong và ngoài nước cho đến các trang báo điện tử thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, VOA, RFA... cũng “té nước theo mưa”, tạo nên làn sóng phản đối tẩy chay phiên tòa, “tẩy trắng” tội danh cho các đối tượng.

Xuất hiện những bài viết có nội dung ca ngợi, xây dựng các bị cáo trở thành những “người hùng”, coi đó là biểu tượng của những những người “dám đấu tranh cho sự phản kháng quật cường trước các vấn đề trong xã hội”! Nhưng “vải thưa không che được mắt thánh”, đối chiếu với những bằng chứng về các hành vi phạm tội của các đối tượng, chúng ta thấy rõ những thông tin, luận giải của những “nhà dân chủ” nêu trên là trò hề, là vở hài kịch được vẽ ra để tung hứng.

Trò diễn kịch bấy lâu nay, các đối tượng tung ra hòng lừa bịp những người còn thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin nhằm cố tạo làn sóng ngược dòng, thể hiện chút nghĩa tình với các bị cáo đã bị sa vào vòng lao lý, không bỏ rơi những “chân rết” của mình trong “cuộc đấu tranh vì dân chủ”! Hoặc cũng có thể là họ cố tình đóng vai những người “đạo đức”, tỏ ra bênh vực, đồng cảm để bày tỏ sự quan tâm, động viên, khích lệ tới thân nhân của các đối tượng chống đối. 

Thực tế quá trình đấu tranh, xử lý các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho thấy, không ít người đã lầm tưởng dẫn tới sự tự tin thái quá khi được các tổ chức, cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam hậu thuẫn, chống lưng hoặc được các trang báo điện tử thiếu thiện chí ở nước ngoài dùng làm trò tiêu khiển như những quân cờ.

Khi được những tổ chức, cá nhân thù địch “hỏi quan điểm” dưới dạng trao đổi, phỏng vấn, đánh giá về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, số “chân rết” này ảo tưởng về sự bao bọc, đãi ngộ vật chất nên mặc nhiên trả lời theo chủ ý của kẻ xấu, xuyên tạc tình hình thực tế mà không nghĩ đến hậu quả của sự xảo trá, bôi nhọ do mình gây ra.

Đã có nhiều “tấm gương mờ” vì ảo tưởng và động cơ tiêu cực mà tiếp tay cho kẻ xấu. Việc xét xử được thông tin công khai, rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm nâng cao ý thức cảnh giác, sự răn đe, cảnh tỉnh cho những người lầm đường lạc lối. Thế nhưng, bên cạnh những người đã kịp thức tỉnh “quay đầu là bờ” thì vẫn còn có một số người vẫn ngoan cố, bảo thủ, không nhận ra lỗi lầm của mình, bị những lợi ích vật chất làm lu mờ tâm trí, để các thế lực xấu dần biến họ trở thành những “con rối” để sai khiến thực hiện các hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự.

Trường hợp của bị cáo Trịnh Bá Phương là một ví dụ điển hình cho điều này. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Tâm thừa nhận hành vi lợi dụng mạng xã hội Facebook, thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm. Từ đó, bị cáo Tâm mong muốn tòa phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ. Thế nhưng bị cáo Trịnh Bá Phương tiếp tục không thừa nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, vẫn quanh co chối tội và có hành vi chống đối.

Trong khi đó, các tài liệu chứng cứ phản ánh về hành vi phạm tội của Trịnh Bá Phương đã được làm rõ. Ngoài tuyên truyền, xuyên tạc vụ Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách gồm 278 trang mà kết quả giám định cho thấy có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Như vậy, cùng trong một vụ án, cùng tính chất, hành vi phạm tội nhưng bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã biết ăn năn hối cải, nhận tội và mong được pháp luật khoan hồng để sửa sai nhưng người còn lại là Trịnh Bá Phương thì ngoan cố, không chịu nhận tội, còn thể hiện hành vi chống đối ngay tại phiên tòa.

Đối với trường hợp của Trịnh Bá Phương, việc bị cáo này không nhận tội cho thấy ý thức chống đối đến cùng. Các thế lực xấu nhân cơ hội đó đã tìm cách tung hô, cổ suý, coi bị cáo Phương như “người hùng”, ca ngợi “dũng cảm, bản lĩnh”! Qua những gì đã thể hiện, bản thân Trịnh Bá Phương luôn ảo tưởng về con đường mà mình đang theo đuổi nên từ trước đến nay, dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần răn đe, giáo dục nhưng Phương không những không nhận thức được những hành vi sai trái mình đã phạm phải mà ngược lại, thường tìm cách quanh co, chối bỏ sự thật, cố tình thực hiện các hành vi chống đối manh động hơn.

Do đó, trong phiên tòa phúc thẩm, dù những chứng cứ buộc tội quá rõ ràng nhưng bị cáo vẫn bảo thủ, bao biện hành vi phạm tội của mình. Và một nguyên nhân khác dẫn tới việc bị cáo ngoan cố chối tội chính là tâm lý ảo tưởng, luôn mong chờ về sự can thiệp từ bên ngoài, cho rằng phủ nhận tội trạng sẽ được các tổ chức, cá nhân bên ngoài can thiệp, từ đó chờ đợi ngày được “minh oan”, được trao thưởng kiểu “giải nhân quyền”, tìm đường ra hải ngoại như các đối tượng Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Bạch Hồng Quyền, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh...

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, những ai cố tình lấy lợi ích cá nhân đặt trên lợi ích của xã hội, bán rẻ lương tâm, làm tay sai, quân cờ cho các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước thì tất yếu phải bị xử lý. Đây vừa là  biện pháp mang tính răn đe, vừa là biện pháp phòng ngừa chung. Do vậy, các cá nhân đã, đang hoặc nuôi ý tưởng thực hiện hành vi phạm pháp, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân thì hãy biết dừng lại, biết “quay đầu là bờ” trước khi quá muộn.

Luận điệu bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta

 Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố. 

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo  Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.

Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.

Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái.  Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.