Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

DI SẢN LÊNIN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CHÚNG TA

Lênin với sự nghiệp chính trị cao cả của mình trong buổi bình minh của chủ nghĩa xã hội, với trí tuệ uyên bác của nhà tư tưởng thiên tài, qua di sản 9.000 tác phẩm mà ông để lại cho đời đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá về lập trường quan điểm, về nguyên tắc tính đảng, về tầm tư duy chiến lược và về đạo đức trong sáng cộng sản chủ nghĩa. 

V.I.Lênin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Mátxcơva trước các đơn vị tham gia khóa huấn luyện quân sự toàn dân, ngày 25/5/1919. Ảnh: TƯ LIỆU

Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

Công lao vô giá của Lênin đối với lịch sử thế giới hiện đại nổi bật trên những phương diện chủ yếu:

- Sáng lập học thuyết Đảng kiểu mới, Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, đội tiên phong chiến đấu được vũ trang bởi lý luận tiên phong, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội loài người, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, xây dựng xã hội tương lai xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà Mác - Ăngghen đã đặt nền móng về tư tưởng lý luận.

- Lãnh đạo thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực với nước Nga Xô Viết, làm cho Đảng Cộng sản lần đầu tiên trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội mà ông gọi là Đảng chấp chính. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở ra con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

- Một trong những cống hiến đặc sắc của Lênin còn là ở chỗ, ông là người đề xướng cải cách chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), đem chính sách kinh tế mới thay thế “chính sách cộng sản thời chiến” vào đúng lúc cần thiết, nhờ đó đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau Cách mạng Tháng Mười, trong tình cảnh nước Nga Xô Viết non trẻ vừa mới ra đời đã bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây hòng bóp chết chủ nghĩa xã hội mới chỉ như một mầm non mới nhú, đã làm cho chính quyền Xô Viết đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh. Với “Chính sách kinh tế mới” Lênin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực làm nảy sinh tính tích cực lao động của công nhân, nông dân và mọi người lao động nói chung trong buổi đầu xây dựng, kiến thiết chế độ mới mà sâu xa hơn, đó còn là khởi đầu kiến tạo mô hình phát triển mới của chủ nghĩa xã hội, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xã hội để thúc đẩy phát triển.

Chính sách kinh tế mới gợi mở một trong những điều sâu xa về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó là một phức hợp kinh tế - chính trị và văn hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở khoa học, tuân thủ quy luật khách quan và đáp ứng nhu cầu lợi ích của người lao động. Đó thực sự là những bảo đảm cho sức sống và triển vọng của chủ nghĩa xã hội mà sau này, Hồ Chí Minh đã từ thực tiễn khái quát thành lý luận. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải “làm đúng quy luật”, phải “thuận lòng dân” và phải “hợp với thời đại”, tận dụng mọi thành tựu kinh tế - kỹ thuật và quản lý của chủ nghĩa tư bản, sử dụng cả chuyên gia tư sản có tài vào mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích lâu dài của chủ nghĩa xã hội.

Dù chỉ trong một thời gian ngắn, Lênin chỉ có thực tiễn bảy năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1917 - 1924), ông mất vào năm 1924 khi mới 54 tuổi, nhưng những gì ông để lại cho hậu thế là vô cùng quan trọng, quý giá. Ông xứng đáng được thừa nhận là “nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta. Lênin đã từng nhạy cảm nhận ra vai trò của lợi ích, của dân chủ và sâu xa hơn, của văn hóa ngay trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đổi mới, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đó của Lênin, của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm cho đổi mới thực sự có sinh khí, có động lực từ lòng dân, từ sức sáng tạo của nhân dân. Ý Đảng gắn với lòng dân trở thành phép nước - Đó là sức mạnh vô tận của đổi mới hơn 30 năm qua ở nước ta do Đảng lãnh đạo.

Lênin đã từng nêu rõ yêu cầu quan trọng của đổi mới kinh tế phải gắn liền và đồng bộ với đổi mới chính trị, phải nêu cao trách nhiệm “thảo luận thì chung, trách nhiệm thì riêng, riêng tới từng người một”. Lênin cũng từng xác định: mấu chốt của công việc là tổ chức bộ máy và con người, cho nên phải “chọn đúng người, giao đúng việc và kiểm tra thường xuyên”, phải nhổ sạch đám cỏ dại quan liêu trên mảnh đất của chủ nghĩa xã hội, phải đẩy lùi những kẻ thù nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội: bệnh kiêu ngạo cộng sản, tệ quan liêu và nạn hối lộ. Trong cải cách thể chế, bộ máy, theo Lênin, phải quán triệt tinh thần “thà ít mà tốt”, “chính trị cần đến bộ máy”, nhưng “bộ máy phải phục vụ chính trị” chứ “chính trị không chạy theo bộ máy, không phục vụ bộ máy”…

Những chỉ dẫn đó vào lúc này là vô cùng cần thiết đối với chúng ta, có ý nghĩa sâu xa trong đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ở nước ta.

Nhớ lại, cách đây hơn 90 năm, khi viết Đường cách mệnh (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất, triệt để mau mắn thắng lợi nhất” là chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin). Từ đó Người tin theo Lênin, suốt đời phấn đấu hy sinh theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về quyền tự quyết của các dân tộc của Lênin là một cống hiến vô giá đã dẫn đến bước ngoặt trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc và phát triển dân tộc ta tới chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (12-1986) đến nay đã luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng nước ta… Ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân…

Từ những định hướng chiến lược đó, ta càng cảm nhận sâu xa giá trị, ý nghĩa và sức sống của di sản Lênin trong sự nghiệp của chúng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với di huấn của Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, nhất định sự nghiệp đổi mới của chúng ta sẽ đi tới thắng lợi, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

  

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH

 HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.


Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

 

 

 NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG

 TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, thông tin xấu độc, cố tình bôi xấu cán bộ, đảng viên, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ đoàn kết, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.

Thực tế thời gian qua cho thấy liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện khuếch trương thanh thế, cổ súy “giá trị” văn hóa phương Tây. Chúng lập những tài khoản, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để tung tin gieo rắc hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, kích động, lôi kéo người dân tụ tập trái phép, biểu tình, phá rối an ninh trật tự và có các hành vi phạm pháp.

Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương, 4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube.
Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng ngàn video xấu độc.

Năm 2020 Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp tham mưu phát hiện, ngăn chặn và xử lý một số vụ việc lợi dụng danh nghĩa báo chí để trục lợi và vi phạm pháp luật trong hoạt động báo chí; xử lý nhiều cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội; rà soát và phối hợp với các đơn vị của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện gỡ bỏ nhiều video xấu độc trên mạng xã hội.
Để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần:

1. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục thực hiện nghiêm các Nghị quyết TW 4 khoá (XI, XII), Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị gắn với các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; tự giác tu dưỡng rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng.

2. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; đồng thời luôn tỉnh táo, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, những phần tử bất mãn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tỉnh táo, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ nhận định, đánh giá về vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó.

3. Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu.

4. Nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn xuất phát từ những hành động cụ thể gắn với công việc, cuộc sống hằng ngày; không xa hoa, lãng phí, không gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường đăng tải những thông tin chính thống, lan tỏa những thông điệp tốt đẹp mỗi ngày, đồng thời phản biện lại những thông tin sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch trên không gian mạng./.

 

 

 XÂY DỰNG LÝ LUẬN SẮC BÉN GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

“Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”(1) là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng và hệ thống chính trị, của các lực lượng vũ trang nhân dân. 

 Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù địch; các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái, đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh; từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức đối với chúng ta…Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý là, những quan điểm sai trái, thù địch chống phá chúng ta được các thế lực thù địch và những kẻ đưa ra cố tình luận chứng và khoác cho một cái vỏ “khoa học và khách quan”, vì dân, vì nước, vì sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam. Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là khó khăn, thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Lý luận sắc bén thực chất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được các chủ thể nhận thức đúng đắn, thật sự sâu sắc trên lập trường của giai cấp công nhân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, làm tươi mới và vận dụng sáng tạo, phát triển trong đời sống xã hội, trong thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lý luận sắc bén để đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch còn là đường lối đúng đắn của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tế Việt Nam.

Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta đôi lúc còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Không ít bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ, mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. 

Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh, đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa, không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả.

Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, rất cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì, mà là một quá trình luôn gắn chặt với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác, cũng đồng thời là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận gắn bó chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”(2). NVT st

 

 VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO QUÂN NHÂN CẦN ĐƯỢC QUAN TÂM HƠN NỮA

 

Nhu cầu về nhà ở của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng (sau đây gọi chung là quân nhân) ở các đơn vị trong toàn quân là rất lớn.

Trong khi đó, số quân nhân được tham gia các dự án nhà ở xã hội, bảo đảm nhà ở công vụ còn hạn chế. Nhiều gia đình quân nhân phải thuê trọ ở ngoài với chi phí khá đắt đỏ, trong khi mọi thu nhập đều trông vào tiền lương nên cuộc sống gặp không ít khó khăn.

Khu nhà ở công vụ của Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1 (Binh chủng Đặc công) nằm trong khuôn viên đơn vị tại phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội) cao 5 tầng, có 40 căn hộ, mỗi căn rộng từ 51,3m2 đến 56m2, được đưa vào sử dụng từ tháng 9-2017 đã đáp ứng phần nào nhu cầu về nhà ở cho quân nhân trong đơn vị. Gia đình Thiếu tá Đỗ Bá Cường, Đội trưởng Đội Đặc công 54 (Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1) chuyển về sinh sống tại căn hộ số 105, rộng 51,3m2.

Trước đây, gia đình anh phải thuê trọ ở bên ngoài với chi phí tiền thuê nhà, tiền điện, nước vào khoảng 4 triệu đồng/tháng. Hai vợ chồng đều là quân nhân, lương hằng tháng chỉ đủ để chi tiêu sinh hoạt, không có tiết kiệm, mỗi khi con ốm đau hay gia đình có việc thì rất khó khăn. Từ khi chuyển về khu nhà công vụ của đơn vị, tiền thuê nhà và tiền điện, nước hằng tháng chỉ từ 800.000 đến 900.000 đồng, gia đình anh mỗi tháng có thể tiết kiệm được khoảng 3 triệu đồng. Thiếu tá Đỗ Bá Cường cho biết: “Nhờ sự quan tâm của chỉ huy đơn vị và sẻ chia của đồng chí, đồng đội nên vợ chồng tôi được ký hợp đồng thuê nhà công vụ của lữ đoàn. Ở đây, chúng tôi không chỉ đỡ tốn chi phí thuê nhà mà còn rất yên tâm khi cả hai vợ chồng phải trực hay đi công tác, huấn luyện dài ngày”.

Tương tự, vợ chồng Đại úy Vũ Xuân Tùng, Chính trị viên Đại đội Đặc công 10 (Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1) cũng được thuê căn số 102, rộng 56m2 tại khu nhà công vụ của đơn vị từ tháng 9-2017. Trước đây, vợ chồng anh cũng phải thuê nhà ở ngoài. Căn nhà chỉ khoảng 10m2 nhưng giá thuê lên tới 2,5 triệu đồng/tháng, chưa kể tiền điện, nước; điều kiện ăn ở, sinh hoạt rất khó khăn, nhất là sau khi có con. Hơn nữa, do thường xuyên phải trực sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện dã ngoại dài ngày nên dù có người nhà trông con, vợ chồng anh cũng không yên tâm. Được thuê nhà công vụ, vợ chồng anh không những tiết kiệm được chi phí hằng tháng mà còn yên tâm công tác vì các con được ở trong môi trường an toàn, có điều kiện vui chơi, phát triển.

Thượng tá Bùi Quang Trung, Phó chính ủy Lữ đoàn Đặc công Biệt động 1 cho biết: “Đơn vị chúng tôi có đặc thù riêng với quân số chủ yếu là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và hầu hết đã có gia đình nên nhu cầu nhà ở rất lớn, chiếm hơn một nửa quân số. Hơn nữa, đơn vị lại đóng quân ở thành phố lớn, giá thuê nhà cao, trong khi mức thu nhập thấp so với mặt bằng chung, ảnh hưởng lớn đến điều kiện sinh hoạt, cuộc sống gia đình. Khi được cấp trên quan tâm, đầu tư xây dựng khu nhà ở công vụ cho gia đình quân nhân, Đảng ủy, chỉ huy lữ đoàn căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư số 68/2017/TT-BQP ngày 1-4-2017 của Bộ Quốc phòng và tình hình thực tế ở đơn vị để đưa ra chủ trương linh hoạt, ưu tiên các đồng chí có hoàn cảnh thực sự khó khăn được thuê nhà; vận động những đồng chí có điểm cao theo quy định chung nhưng có điều kiện tốt hơn nhường cho các đồng chí khó khăn hơn. Vì thế, cán bộ, tổ viên, nhân viên chuyên môn toàn đơn vị đều rất vui vẻ, ủng hộ chủ trương này. Các đồng chí được thuê nhà rất phấn khởi, yên tâm công tác, thực hiện nhiệm vụ; chỉ huy đơn vị cũng dễ nắm bắt tư tưởng anh em và gia đình để lãnh đạo, quan tâm tốt hơn”.

Cũng về vấn đề nhà ở cho quân nhân, theo Đại tá Ngô Duy Hoàng, Phó chủ nhiệm Hậu cần, Binh chủng Đặc công: “Binh chủng Đặc công là đơn vị huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, có số lượng tổ viên đặc công, chiến đấu viên chiếm tương đối lớn, tiền lương còn hạn chế nên nhu cầu ở nhà công vụ rất cao, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Nếu có nhà ở công vụ sẽ giúp anh em ổn định cuộc sống và việc thu hút, tuyển chọn nhân lực vào quân đội thuận lợi hơn. Xuất phát từ thực tế đó, binh chủng đã đầu tư xây dựng các khu nhà ở công vụ cho gia đình quân nhân ở khối cơ quan, nhà trường và các đơn vị thuê với mức giá theo Quyết định số 1789/QĐ-BTL ngày 21-5-2020 của Bộ tư lệnh Đặc công từ 7.545 đồng/m2 đến 10.343 đồng/m2. Hiện nay, binh chủng cũng đang đầu tư xây dựng thêm nhà ở công vụ cho những đơn vị có nhu cầu cao như khối cơ quan binh chủng”.

Qua những trường hợp cụ thể trên có thể thấy, nếu được bảo đảm về nhà ở, quân nhân và gia đình sẽ bớt khó khăn, thêm yên tâm công tác, cống hiến, gắn bó với đơn vị... Hơn nữa, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng đều quy định: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tại ngũ được hưởng phụ cấp nhà ở; được ưu tiên hỗ trợ về nhà ở xã hội, được bảo đảm (hoặc cho thuê) nhà ở công vụ. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà chính sách này chưa được thực hiện đầy đủ nên nhiều gia đình quân nhân phải thuê nhà ngoài doanh trại, chi phí tốn kém, ảnh hưởng đến đời sống. Vì thế, chính sách về nhà ở cho quân nhân cần được quan tâm, thực hiện tốt hơn nữa để bộ đội yên tâm công tác và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào quân đội, đáp ứng với yêu cầu xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 

 

 TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 “Lấy dân làm gốc” là một trong những triết lý sâu sắc trong kho tàng tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta qua nhiều thời kỳ.

Tại Đại hội XIII, tư tưởng lấy dân làm gốc đã được đúc kết thành bài học, với những nguyên tắc cơ bản, định hướng mọi chủ trương, sách lược của Đảng trong giai đoạn mới “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm lấy “dân làm gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Điểm mới trong Nghị quyết Đại hội Đảng XIII so với Nghị quyết Đại hội Đảng XII về tư tưởng “lấy dân làm gốc” chính là “dân thụ hưởng”. “Dân thụ hưởng” nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới; khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn những lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân hăng hái cống hiến và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước; thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng và Nhà nước đến đời sống của nhân dân; là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực để Đảng ta hoàn thiện các chủ trưởng, đường lối trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước. 

Qua các giai đoạn cách mạng, tư tưởng “lấy dân làm gốc” không ngừng được bổ sung, phát triển. Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm quan điểm lấy dân làm gốc. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. 

Dân làm gốc chính là phải phát huy và bảo đảm tốt hơn, thực chất hơn quyền làm chủ của nhân dân. Để chủ trương “lấy dân làm gốc” của Đảng ta đi vào cuộc sống thì Đảng, Nhà nước cần quan tâm, chăm lo, đặt lợi ích của nhân dân lên trước hết và trên hết trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách. Nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Bài học “lấy dân làm gốc” sẽ trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn khi chủ trương này được thực thi một cách hiệu quả.

 

 

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TÍNH ĐẢNG TRONG NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG !

-----

Nhiều học giả tư sản cho rằng, muốn có tự do báo chí, tự do ngôn luận thì không những phải cho báo chí tư nhân hoạt động, mà không để báo chí bị chi phối, ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.

Thậm chí họ cho rằng, sở dĩ Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn luận bởi xuất phát từ nền chính trị nhất nguyên, bởi "chế độ độc đảng" can thiệp vào hoạt động báo chí. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, vô căn cứ. Bởi lẽ, không có một nền báo chí nào hoàn toàn đứng ngoài chính trị, vô chính trị như các luận điệu thù địch xuyên tạc, rêu rao.  

Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt.

Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

 

 NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

 

6 tháng trước khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, giữa núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã soạn thảo “Cuốn sách của người Chính trị viên” với những huấn thị của Người về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác chính trị, vai trò của người Chính trị viên trong các đơn vị bộ đội. Tác phẩm gồm 44 trang, trong đó lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tập trung làm nổi bật các vấn đề cốt lõi của công tác chính trị.

Ngay trong phần nội dung đầu tiên của tác phẩm, Người đã nói rõ và cụ thể về vai trò công tác của người Chính trị viên trong đội vũ trang hay đội du kích: Trong sinh hoạt chính trị, sinh hoạt quân sự và sinh hoạt vật chất. Người viết:

“1. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt kém thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Hoàn toàn là người chính trị viên chịu trách nhiệm.

2. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt quân sự kém hay sai lầm thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Cả Đội trưởng cùng Chính trị viên chịu trách nhiệm. Nếu vũ trang hành động có hại về mặt chính trị thì trách nhiệm của Chính trị viên nặng nề hơn.

3. Trong đội vũ trang hay đội du kích sinh hoạt vật chất hoặc thiếu thốn hoặc quá xa xỉ? thì ai chịu trách nhiệm?

- Trả lời: Phần lớn Chính trị viên chịu trách nhiệm.

Thế mới biết nhiệm vụ của Chính trị viên là khó khăn.”

Trong phần “Công tác chính trị trong đội du kích”, Người nêu bật sự cần thiết của công tác chính trị trong đội du kích: “Không có công tác chính trị đúng thì đội du kích dễ bị mất tính chất cách mạng của nó, dễ đi con đường sai lầm, không lợi cho cách mạng và có thể rất hại cho cách mạng, ví dụ nó có thể hóa ra quân phiệt, hóa ra thổ phỉ.”. Công tác chính trị trong đội du kích, gồm: Công tác chính trị đối với bộ đội; công tác chính trị với dân chúng; công tác chính trị đối với quân đội đế quốc.

Công tác chính trị đối với bộ đội trên các mặt: Nhận thức chính trị; sinh hoạt; công tác chính trị trước khi chiến đấu; công tác chính trị trong lúc chiến đấu; công tác chính trị sau khi chiến đấu.

Công tác chính trị trong dân chúng: Cần nhất quán nguyên tắc “quân dân nhất trí”, Người nhấn mạnh: “Du kích là đội quân của dân, ở trong dân chúng do dân chúng tổ chức ra để binh vực quyền lợi cho dân chúng vì dân chúng mà hi sinh, chiến đấu giành chính quyền”. Để đảm bảo công tác chính trị trong dân chúng đạt hiệu quả cần: Chú trọng công tác tuyên truyền cổ động; tổ chức huấn luyện; phát huy lực lượng của dân chúng; cách đối đãi với dân chúng.

Trong tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành riêng 1 chương viết về “Địa vị của người Chính trị viên”. Người Chính trị viên cần có những tư cách sau:

1. Đi đúng con đường chính trị giác ngộ cách mạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững vàng, có lý luận cách mạng và kinh nghiệm chính trị dồi dào.

2. Phải là người có năng lực lãnh đạo, người Chính trị viên “không phải một ông quan suốt ngày ngồi trên bàn giấy viết thông cáo và chỉ thị. Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Người Chính trị viên phải có nhiều năng lực lãnh đạo, năng lực này phải đủ mọi mặt quân sự lẫn chính trị, năng lực về tuyên truyền, tổ chức, xếp đặt kế hoạch…”.

3. Làm mô phạm, nói về tác dụng mô phạm của người Chính trị viên ở chỗ: “Người Chính trị viên là người nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó còn dìu dắt người khác. Nhúng tay vào làm thực sự chứ không phải làm cho qua chuyện. Nhúng tay vào làm hơn người ta cho người ta noi theo mà làm, cho người ta bắt chước”. Tính mô phạm của người Chính trị viên về mặt kỉ luật; mặt giữ bí mật; mặt xử trí tiền tài của đoàn thể… Trong bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì người Chính trị viên cũng phải làm gương.

Phần cuối của tác phẩm, Người viết:

“Xem xong “Cuốn sách của người Chính trị viên” này, các đồng chí chính trị viên hiện thời và tương lai nhận thấy thế nào?

Chắc chắn các đồng chí nhận thấy khó khăn lắm!

Khó vẫn khó!

Nhưng chúng ta là người cách mạng, hơn nữa chúng ta là Chính trị viên, chúng ta phải học tập, làm cho được.”  

Theo Người, xây dựng Quân đội về chính trị là phải chú trọng đến bản chất giai cấp công nhân, đến tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để xây dựng các mặt khác; coi việc xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi…

Chiến đấu với những đội quân nhà nghề, thiện chiến, được trang bị vũ khí tối tân hơn hẳn nhiều lần, trong lúc Quân đội ta phát triển lên “từ không đến có”, vừa chiến đấu vừa xây dựng thì chỉ có thể giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược bằng sự vững mạnh về chính trị. Lịch sử đã chứng minh, Quân đội ta chiến đấu và chiến thắng đội quân xâm lược nhà nghề của “hai đế quốc to” cũng là nhờ vững mạnh về chính trị. Trong quá trình xây dựng Quân đội, Người không bao giờ xem nhẹ vũ khí và trang bị kỹ thuật, nhưng Người luôn luôn nhấn mạnh: “Vũ khí rất cần, nhưng quan trọng hơn là người sử dụng vũ khí”, “là người vác súng”. Người nói: “Chúng ta không sợ thiếu vũ khí, chỉ sợ khi thời cơ đến lại thiếu người cầm vũ khí”. Vì vậy, trong sự nghiệp cách mạng, Bác Hồ đã dành tâm huyết để đào tạo, rèn luyện, chăm sóc những thế hệ chiến sĩ cầm súng trung thành, có bản lĩnh chính trị, tinh thông về quân sự, có trình độ văn hóa và sức khỏe dồi dào, là những con người “dám quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Người nói làm được thế thì “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được Quân đội nhân dân Việt Nam”.

“Cuốn sách của người Chính trị viên” là một trong những tiền đề, cơ sở lý luận khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 đồng chí, trong đó đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) là Chính trị viên. Ngay khi thành lập, Đội đã quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng, phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Người thường xuyên huấn thị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại.Quân đội ta là quân đội nhân dân, nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”.

Suốt 76 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đi trước tiếp tục dìu dắt thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay đã phát huy mạnh mẽ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, Quyết thắng”, xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm tròn hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và của nhân dân và thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập - tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.

 

 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH 

Với phương châm lấy “xây” để “chống”, báo chí cách mạng đã chủ động, tích cực tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Báo chí cũng là lực lượng chủ công tuyên truyền làm nổi bật những thành tựu của đất nước, tính ưu việt của chế độ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Báo chí cách mạng cũng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lên án những hành vi coi thường kỷ cương, phép nước. Qua đó, báo chí không những góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà còn góp phần củng cố niềm tin, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đặc biệt, bằng sự tương tác đa chiều với bạn đọc, báo chí cách mạng đang tham gia mạnh mẽ, có hiệu quả vào công tác đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần định hướng dư luận, củng cố niềm tin trong nhân dân. Với nhiều bài viết sắc sảo, lập luận chặt chẽ, có luận cứ, luận điểm sắc bén bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự đúng đắn, sáng tạo trong quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; kịp thời phản bác những luận điệu sai trái góp phần quan trọng đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại về tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống đất nước ta của các thế lực thù địch.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải luôn đề cao tính thận trọng. Báo chí phải tăng cường khả năng “bút chiến”, sự sắc sảo, sức thuyết phục, nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trước mỗi luận điểm, vấn đề, các nhà báo cần cố gắng tìm tòi, khai thác thông tin để chứng minh làm rõ vấn đề một cách thuyết phục.

Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta phải thực sự chủ động, quyết liệt, kiên trì và bền bỉ. Chỉ có phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, các lực lượng tuyên truyền trong hệ thống chính trị, chúng ta mới đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phòng ngừa, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”  trong nội bộ.

 

TIẾN LÊN CNXH LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN!

         Hiện này, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền về cái gọi là "chủ nghĩa cộng sản lỗi thời, sẽ thoái trào, sớm muộn sẽ sụp đổ". Ngay cả những người từng giữ những chức vụ quan trọng của đất nước cũng hùa theo chúng. Đặc biệt là Ông Nguyễn Đình Bin, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao cho rằng: "Mặt khác, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu cũng như cải cách mở cửa của Trung Quốc từ 1978 và đổi mới về kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đã chứng minh hùng hồn là mô hình kinh tế XHCN theo quan điểm Mác - Lênin đã thực sự lỗi thời, đã bị lịch sử đào thải". Từ đó, Nguyễn Đình Bin kêu gọi Đảng cộng sản Việt Nam phải đổi mới về chính trị, bỏ Chủ nghĩa Mác - LêNin. Xin có đôi lời: 
     Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ thuyết đúng đắn, khách quan, khoa học nhất. Giải thích mọi sự vật hiện tượng khách quan, biện chứng và khách quan, phương pháp luận hết sức khoa học. Các Mác, Ăng Ghen, LêNin mặc dù là những thiên tài nhưng những nghiên cứu của họ từ thế kỷ 19, đầu 20. Vậy nên hạn chế về thời gian và không gian nghiên cứu. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó nên các nhà kinh điển của Chủ nghĩa xã hội đã yêu cầu phải luôn nghiên cứu và phát triển, bổ sung lý luận để phù hợp với thực tiễn. Quan hệ sản xuất phải không ngừng đổi mới để theo kịp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng phải theo kịp sự vận động và phát triển của cơ sở hạ tầng. Cơ chế chính sách phải điều chỉnh để phù hợp hơi thở của thời đại. Vậy nên nói Chủ nghĩa Mác - LêNin lỗi thời là không có cơ sở. 
     Liên Xô sụp đổ là do nguyên nhân nội tại từ sai lầm của họ chứ không phải là do học thuyết Mác - Lênin. Thực tiễn kiểm nghiệm chân lý và lý luận soi đường cho quốc dân đi. Liên Xô đã quá rập khuôn, máy móc, chậm đổi mới. Phạm phải những sai lầm mà LêNin đã chỉ ra "Không có kẻ thù nào có thể tiêu diệt những người Cộng sản, dù chúng hùng mạnh và hung hãn đến đâu. Ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ bằng những sai lầm, khuyết điểm không kịp khắc phục". Liên Xô đã mắc phải những sai lầm không thể vãn hồi và họ tự sụp đổ.
     Cố Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro từng có bài phản biện để đời khi các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc: "Họ nói về sự thất bại của chủ nghĩa xã hội, nhưng sự thành công của chủ nghĩa tư bản ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ đang ở đâu? Thành công ở đâu khi nó (chủ nghĩa tư bản) đang tạo ra đói nghèo, bùng nổ dân số, chiến tranh và phá hủy sinh thái (tại các khu vực đó)?". Chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và phát triển, và so với mức sống, tự do, dân chủ và phát triển chung của nhân loại thì rõ ràng, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên ở mức cao hơn. Trong đó, Trung Quốc đang trên đường trở thành cường quốc số một thế giới. Vì thế, nói rằng "chủ nghĩa xã hội thoái trào, bị đào thải" là không có cơ sở.
     Từ lâu, nhiều nước Tư bản chủ nghĩa trên thế giới đã nhận ra yết hầu và những khuyết tật mà học thuyết Mác - Lênin chỉ ra. Họ vận dụng và phát triển học thuyết của những người Cộng sản để điều chỉnh những khuyết tật đó. Các nước Bắc Âu đang xây dựng chính quyền xã hội, chính quyền nhân dân, hay chính Hoa Kỳ, Anh, Pháp... cũng đang tự điều chỉnh nó. Trung Quốc và Việt Nam bừng tỉnh khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Chúng ta phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước xây dựng xã hội "dân chủ, công bằng, văn minh". Điều đó không có nghĩa là Trung Quốc, Việt Nam "lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm binh phong" hay chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời như Nguyễn Đình Bin nói.
     Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra đường lối đổi mới đất nước mà khởi nguồn là đổi mới tư duy, đổi mới quan điểm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những đổi mới này, trên rất nhiều vấn đề, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chưa phát triển vào điều kiện nước ta ngày nay. Chính lãnh tụ V.I.Lênin đã đưa ra lý thuyết về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH từ một nước đa số dân cư là tiểu nông. Những ngành kinh tế mà V.I.Lênin muốn khôi phục nhanh chóng là nông nghiệp và thương nghiệp. Chỉ cần hai lĩnh vực này hồi sinh như trước cách mạng đã có thể cứu người dân Nga khỏi chết đói. Sau đó là những kỳ vọng của V.I.Lênin về đầu tư từ các nước tư bản phát triển cũng như từ tư bản tư nhân trong nước... Từ cơ sở lý luận đó, Việt Nam, Trung Quốc... đã kế thừa và phát triển để xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lên tầm cao mới và có cơ đồ như hôm nay. 
     Để đạt những thành tựu như ngày hôm nay, nói như tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong là: “Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", đó là sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Đảng thường xuyên xuyên tự đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Đoàn kết trên dưới một lòng để cùng nhau chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ của sự ấm no, tự do, hạnh phúc như hôm nay. Năm 1995, GDP đầu người của Việt Nam là 358,7 USD, đứng thứ 175/195 quốc gia, là một trong 20 quốc gia nghèo nhất thế giới. Đến hết năm 2022, GDP đầu người là 3.700 USD, đứng thứ 110/195 quốc gia. Quy mô nền kinh tế đạt 420,6 tỷ USD, là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới, thứ 3 Đông Nam Á. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được cải thiện. 
     Thực tiễn chỉ ra rằng, sau 27 năm, thu nhập đầu người Việt Nam đã cao gấp 10,25 lần, tăng 65 hạng (từ 175 lên 110, trong Asean vượt qua Philippines, Malaysia, Singapore) và về qui mô nền kinh tế lớn gấp 12,9 lần, vượt qua 21 quốc gia (trong Asian có Singapore và Malaysia). Điều đó có nghĩa rằng 27 năm qua (1995-2022) chúng ta đã làm được kỳ tích. Việt Nam đã đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về qui mô lẫn mức sống của người dân, tăng 21 hạng về qui mô nền kinh tế và tăng 65 hạng về thu nhập đầu người (thịnh vượng) trên bảng xếp hạng các quốc gia...
     Từ những lẽ trên, có thể khẳng định những luận điệu mà các thế lực thù địch, ông Nguyễn Đình Bin, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao là không có cơ sở./.
Yêu nước ST.

THƯƠNG MẠI HÓA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀ LÀM SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ VÀ SUY VONG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

     Giáo dục là một ngành đặc thù, phải có sự quản lý, định hướng, quản lý của Nhà nước. Ngành này sinh lời không phải bằng tiền, không phải bằng doanh thu mà bằng những thành tựu sau này của xã hội, bằng kiến thức, bằng những phát minh khoa học làm lợi cho đất nước, cho nhân loại, bằng những thế hệ học sinh, sinh viên, cán bộ… nhiệt huyết yêu nước, cống hiến cho sự phát triển đi lên của đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng đáng tiếc, mấy năm trở lại đây, nền giáo dục nước nhà đang bị lệch hướng, giống một “Doanh nghiệp giáo dục“ với lợi nhuận là tiền nhiều hơn là tri thức cho giới trẻ./.
Yêu nước ST.

CỘI NGUỒN SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH CỦA ĐẢNG

 


Thực tiễn lịch sử dân tộc ta, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới đã chứng minh một chân lý: Có dân là có tất cả; mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả.


Sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân: “Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên”. Ông cha ta đã để lại những tư tưởng bất hủ, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”; “Lật thuyền mới biết dân như nước”; “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Cái gốc của nhạc là ở nơi “thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu”... An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, chỉ dựa vào vũ khí, không biết dựa vào sức mạnh nhân dân để chống giặc ngoại xâm nên kết cục là mất nước.


Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt vị trí của nhân dân lên một tầm cao mới, khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, tạo ra mọi của cải, vật chất và những giá trị văn hóa, tinh thần. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất độc đáo, sáng tạo về nhân dân; không những khẳng định dân là gốc của nước, của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”; “... Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân; nhân dân cần Đảng dẫn đường.


Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng phấn đấu vì nhân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn được củng cố, tăng cường. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đó chính là nền tảng, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng. Lênin từng căn dặn rằng: Nguy cơ lớn nhất của một đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, trọng dân, tin dân, học dân để lãnh đạo dân. Củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng ta.


Để xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, cần nắm vững và làm tốt những vấn đề cơ bản sau đây:


Một là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân.


Chính quyền phải gần dân, sát dân, thân dân. Khi đã trở thành đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trước hết và chủ yếu ở mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân thông qua pháp luật, chính sách, thông qua hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. “Tất cả cán bộ chính quyền... đều phải phụ trách dân vận” như Bác Hồ đã căn dặn. Cần tránh quan niệm cho rằng, cán bộ chính quyền chỉ làm công tác hành chính, không làm công tác dân vận. Không hiểu công tác dân vận và không thực sự làm dân vận thì chưa thể là cán bộ, công chức, viên chức cách mạng, công bộc của dân. 


Hai là, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.


Không giải quyết tốt vấn đề này thì khó có thể xây dựng được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân và xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách vững chắc, lâu dài. Lợi ích là nhân tố nổi lên hàng đầu, là vấn đề mấu chốt trong việc củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng nhất là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng lợi ích thiết thân của nhân dân, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong sự hài hòa giữa các lợi ích, thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ công dân. 


Chủ trương, chính sách đúng với đường lối của Đảng, hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được tổ chức thực hiện dân chủ, mang lại lợi ích thiết thực, cơ bản cho dân sẽ có ý nghĩa cực kỳ to lớn để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân. Nếu chúng ta không chăm lo đến những lợi ích thiết thực của dân, các thế lực thù địch sẽ tập trung khai thác mặt yếu này để tranh thủ quần chúng, kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị-xã hội.


Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng-một vấn đề mấu chốt để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân.


Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là cầu nối rất quan trọng thắt chặt mối quan hệ giữa và Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố sự nhất trí về chính trị tinh thần trong xã hội, củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. 


Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chính trong sự đoàn kết đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân được củng cố, tăng cường và phát triển. Đảng phải là hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phải tiêu biểu cho sự đoàn kết đó.


Bốn là, phát huy vai trò làm chủ và thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương phép nước.


Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chăm lo phát huy và thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, tăng cường đồng thuận xã hội. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có thực sự phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có đồng thuận xã hội và đoàn kết thực sự, bền vững. 


Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền phải luôn nêu cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có như vậy, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mới được củng cố, tăng cường. Khi Đảng đã gắn bó máu thịt với dân, dân tin yêu Đảng thì Đảng sẽ có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi thác ghềnh, vững tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam thẳng hướng đi lên, cập bến quang vinh.


Đại tá, PGS, TS BÙI ĐÌNH BÔN

CÓ NHỮNG NGƯỜI LẶNG LẼ ĐI TÌM CÔNG LÝ CHO NHỮNG NẠN NHÂN VIỆT NAM BỊ QUÂN ĐỘI HÀN QUỐC THẢM SÁT.


Trong 4 năm qua, có một người phụ nữ vẫn lầm lũi giữa phố thị Seoul. Bà cầm tấm biển song ngữ Hàn - Việt với thông điệp: “Hãy chấp nhận sự thực và chịu trách nhiệm về chiến tranh Việt Nam” ở những góc phố đông người qua lại ở Dongdaemun, Gangnam, Gangdong ... Bà bị những người Hàn quăng những ánh mắt kì lạ, từng bị cảnh sát Hàn Quốc nhắc nhở, bà từng bị đe dọa, bị tấn công bằng lời nói và hành động…


Bà là Nguyễn Thị Thanh, năm nay 62 tuổi, là nạn nhân còn sống cuối cùng của vụ thảm sát làng Hà My, Điện Bàn, Quảng Nam. Trong 4 năm qua, bà mải miết đi tìm công lý, đòi lại sự công bằng cho bà và những nạn nhân của vụ thảm sát, bà từng trả lời những người Hàn Quốc đối diện rằng: “Chúng tôi cần một lời xin lỗi và sự thừa nhận”. Vào một chiều mùa đông, bà cầm biểu ngữ đứng ở đường phố Seoul đầy tuyết rơi, người Hàn Quốc dừng lại vì thấy lạ. Với họ, làm gì có tội ác nào diễn ra ở Việt Nam? Những binh sĩ Hàn Quốc từng tham chiến ở Việt Nam anh hùng mà? Bà rơi nước mắt sau bấy nhiêu năm chịu đựng thảm sát và nhiều năm tìm kiếm công lý trong mòn mỏi còn những người thân của bà lần lượt mất đi.


Hồi tháng 8 vừa qua, vào một sáng trời mưa, bà Thanh tìm đến Ủy ban Sự thật và Hòa giải tại Jung-gu, Seoul, đi cùng với bà là ông Nguyễn Đức Chài đã 82 tuổi, một nạn nhân khác của vụ thảm sát, ông là một dân quân của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hai ông bà gặp ủy viên Jeong Geun-sik và bày tỏ muốn có một cuộc điều tra tại làng Hà My. Tuy nhiên, ủy viên Jeong Geun-sik cho biết việc này “rất khó”.


Bà Thanh đã đấu tranh trong nhiều năm liền, đặc biệt từ năm 2020. Trong phiên điều trần vào năm đó, bà kể lại rằng chính bà đã nhìn thấy 5 thành viên trong gia đình bà bị bắn chết ngay tại chỗ còn bà bị thương ở một bên bụng, tai bà không nghe thấy gì và bà thoát chết do một xác người khác đã che cho bà. Trước đó, bà tham gia một phiên tòa giả định vào năm 2018 dưới sự đứng đầu của Tổ chức Hòa bình Hàn - Việt. Năm 2019, một bản kiến nghị được gửi đến Nhà Xanh yêu cầu điều tra về vụ thảm sát Hà My và cùng năm đó, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc tái khẳng định rằng: “Không có bất cứ một vụ thảm sát nào được ghi nhận trong tài liệu của phía Hàn Quốc”.


“Dối trá, đó không phải là sự thực. Lịch sử đã bị gạch đi một cách cố tình và người ta đã làm như vậy để trốn tránh. Họ thừa biết vụ thảm sát là có thật nhưng họ không dám thừa nhận”.


Tại phiên điều trần thứ tư năm tháng 11/2021, cựu binh Jin-Sung Ryu ra điều trần và mô tả cách mà quân đội Hàn Quốc thảm sát dân thường Việt Nam nhưng những bằng chứng của ông Jin-Sung Ryu đã bị phủ quyết vì “bằn chứng đơn phương” và đồng đội của ông phủ quyết toàn bộ những điều đó.


Tháng 9 vừa qua, tại Vụ Dân sự 68 của Tòa án Quận Trung tâm Seoul, bà Thanh và ông Chài tham gia điều trần lần thứ tư. Một lần nữa, bà Thanh lại phải kể lại những gì diễn ra vào hôm ấy. Bà nhớ lại việc bà và những người thân ở góc hầm trú ẩn, một lính Hàn Quốc cầm quả lựu đạn giơ ra và ra hiệu cho những nạn nhân phải chiu ra, nếu không quả lựu đạn này sẽ bị ném vào trong hầm. Rồi em gái, em trai của bà Thanh đều bị hạ sát, còn dì ruột thì bị cưỡng bức và đâm nhiều nhất… Anh của bà bị chúng cột lên một cây chà là rồi một lính Hàn cầm súng lục bắn thẳng vào miệng. 


Cũng tại phiên điều trần, theo ghi lại của phóng viên, đại diện của Chính phủ Hàn Quốc cho biết “Việt Cộng đã tàn sát dân thường và không phải là người lính Hàn Quốc”. Nhưng ông bà phản lại lời nói này bằng việc mô tả rõ quân phục, tiếng nói, vũ khí… của những người tham gia vụ thảm sát, chẳng lẽ Việt Cộng lại nói thông thạo tiếng Hàn Quốc ư? Hai ông bà quay sang nói với những người lính Hàn Quốc: “Tại sao các anh lại bắn súng vào trẻ em? Tại sao lại giết những người vô tội”.


Ông Chài khóc ngay tại phiên điều trần, ông nhớ lại cảnh mẹ ông bị giết, ông phải đi gom những mảnh xác lại để mai táng vì lính Hàn vứt ở mỗi nơi mỗi mảnh… Ngoài ra, ông và những người sống sót cố gắng đi tìm những xác chết, báo cho người dân ở các làng khác đến để chôn cất và cầu siêu.


Chủ tọa phiên tòa hỏi ông rằng có muốn nói điều gì không? Ông trả lời: “Tôi không đi mấy ngàn cây số sang đây chỉ để nói dối”.


Một phóng viên Hàn Quốc phỏng vấn ông bà sau phiên điều trần, hai ông bà cho biết có thể phiên điều trần sẽ không đem lại kết quả gì, nhưng hai ông bà vẫn sẽ đấu tranh không ngừng nghỉ và bền bỉ cho đến lúc họ không thể đi lại và nói được nữa. 

DẤU ẤN THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT


Thủ tướng Võ Văn Kiệt sinh ngày 23/11/1922 trong một gia đình nông dân nghèo đông con ở ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Ngay từ nhỏ ông đã phải đi ở đợ cho các phú hộ trong vùng.

Sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 1938 ông tham gia phong trào thanh niên phản đế, tháng 11 năm 1938 ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Vũng Liêm, cùng lãnh đạo quân dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Sau ngày 30/4/1975, ông làm Chủ tịch UBND thành phố rồi Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Trong thời kỳ đổi mới, ông cùng Trung ương Đảng, Bộ Chính trị từng bước khắc phục khó khăn đưa đất nước tiến lên.

Việt Phương- người nhiều năm làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng Bí thư Lê Duẩn, kể: Thủ tướng Phạm Văn Đồng chính thức có 32 năm làm Thủ tướng Việt Nam, lúc sinh thời ông thường nói: “Đánh giá đúng mức và khách quan thì trong các đời Thủ tướng của Việt Nam, kể cả tôi, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người làm được nhiều việc và làm được nhiều việc tốt nhất”.

Quả thật, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã gắn liền với bao công trình có ý nghĩa then chốt, như: xây dựng công trình thủy điện Trị An; đường dây tải điện 500KV Bắc Nam; điện Thác Mơ, Đa Nhim, Hàm Thuận, Sông Hinh (Phú Yên). Các công trình giao thông có quy mô lớn như: xa lộ Bắc Thăng Long- Nội Bài, cầu Mỹ Thuận, đường cao tốc Láng Hòa Lạc, đường Trường Sơn công nghiệp hóa…

Công trình dầu khí Khu Công nghiệp Dung Quất, giải tỏa hàng trăm công trình trái phép trên đê Yên Phụ xây kè tránh lũ lụt cho Hà Nội.

Với ĐBSCL, là công trình thoát lũ khu vực Tứ giác Long Xuyên, khai hoang Đồng Tháp Mười, quy hoạch cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội ở xã Trung Hiệp và thị trấn Vũng Liêm, nâng cấp QL1, xây dựng hệ thống cấp nước sạch ở tỉnh, khôi phục đình Bình Phụng- di tích lịch sử nơi diễn ra Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940.

Huy động nhiều nguồn lực xây dựng nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách ở địa phương. Năm 2000, khi xấp xỉ tuổi 80, dù còn nhiều việc phải làm, song, ông đã dành thời gian đọc bản thảo cuốn “Lịch sử tỉnh Vĩnh Long” và viết lời giới thiệu hết sức cô đọng, súc tích.

Song song đó, Thủ tướng còn có các quyết định tuy “nhỏ” mà có ý nghĩa, hiệu quả lớn. Đó là các quyết định xóa bỏ tập tục thói quen đốt pháo, xây dựng công trình vệ sinh hầm cầu tự hoại thay cho “cầu tõm”, hố xí hai ngăn ô nhiễm môi trường.

Chỉnh trang công sở, tạo nếp sống mới trong cán bộ công chức. Chỉ một tấm áo dài, bộ com lê, đôi giày, chiếc cà vạt, tấm biển nhỏ chức danh thay cho bộ bà ba, dép lê… nơi công sở, nhưng đã đem lại hiệu quả nhiều mặt và tất cả cho đến nay đã trở thành nếp sống văn hóa, được cán bộ, nhân dân ta tự giác thực hiện.

Ông là một người không xuất thân từ khoa bảng, được tôi luyện trong quá trình đấu tranh cách mạng, với năng khiếu trời phú, tác phong bình dị, cởi mở, biết lắng nghe ý kiến mọi người, thực lòng chiêu hiền đãi sĩ đã cảm hóa quy tụ giới văn nghệ sĩ, trí thức (kể cả những người khác chính kiến đã từng tham gia chế độ cũ) tâm phục, tin theo, hết lòng dâng hiến tài năng, trí tuệ cho đất nước.

Ở cương vị đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt không chỉ chú trọng các vấn đề kinh tế, chính trị mà còn rất quan tâm trăn trở tới truyền thống lịch sử, bảo tồn, tôn tạo, nâng cấp di sản văn hóa dân tộc.

Ông thường gặp giáo sư Phan Huy Lê, khuyến khích động viên Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức nhiều hội thảo nhằm khắc phục những mặt yếu kém trong phương pháp luận sử học, những hạn chế của tư duy giáo điều, máy móc nhằm nâng cao tính khoa học trong nhận thức lịch sử, trả lại công bằng cho một số nhân vật lịch sử, từ Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly cho đến Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôn vinh những người nước ngoài có công lớn với Việt Nam như Alexandrede Rhodes, Raymon Diên, Morison… và cách đánh giá trước đây về các Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam và Nam Bộ.

Là một người hơn người nhưng ông rất khiêm tốn đề cao người khác, với những nhà chí sĩ trí thức theo kháng chiến, theo Cụ Hồ có sự hy sinh to lớn, ông nói: “Chúng ta đi theo cách mạng nếu có mất cũng chỉ mất cái quần đùi, còn họ hy sinh cả một sự nghiệp, công danh, điền sản lớn, vinh hoa phú quý do đó không thể đánh giá lòng yêu nước của họ bình thường được”.

Ông là một người của hòa giải hòa hợp dân tộc, trong công cuộc đổi mới xây dựng lại đất nước ông nói: “Tổ quốc đâu phải của riêng những người cộng sản, của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào mà của cả dân tộc, của mọi người Việt Nam, của đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, mỗi người ai cũng có quyền và trách nhiệm chung tay xây dựng bảo vệ đất nước. Nhận thức của ông, của Đảng ta như vậy nên đã tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết dân tộc thực hiện mục tiêu của mỗi thời kỳ cách mạng.

Điều tâm niệm của ông “Quyền lực không phải ở vị trí mà ở năng lực”. Để hoàn thiện mình, ông luôn tìm tòi học hỏi người đi trước, sau Bác Hồ là các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Với ông, mỗi người có cá tính riêng, mỗi người là tấm gương sáng để ông kính phục, quý trọng noi theo.

Làm theo tư tưởng đạo đức của Bác Hồ, ông luôn là người chí công vô tư. Khi hết nhiệm kỳ Thủ tướng, chuyển sang làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng ông đã viết giấy trả lại cho Nhà nước ngôi nhà ở phố Phan Đình Phùng, Hà Nội và về sống ở TP Hồ Chí Minh, khi ông qua đời tiền bạc của cải không có gì để lại ngoài ngôi nhà khiêm tốn do thành phố cấp ở đường Tú Xương ông cũng đã có ý định trả lại ngôi nhà này cho thành phố, ông nói: “Mình đi làm cách mạng không có gì đem đi, được dân nuôi đùm bọc che chở, sau khi qua đời cái gì của dân trả lại cho dân là hợp lẽ”.

Với Thủ tướng Võ Văn Kiệt và người dân không có gì cách biệt, với đồng chí bạn hữu, người thân quen cũ, tình cảm cá nhân của ông đối với họ vẫn như xưa không đổi khác. Với thuộc hạ, người công tác nhất thời có sai phạm, khuyết điểm hoặc bức xúc khác chính kiến, ông thường cảm thông, khoan dung, độ lượng.

Với bạn bè đồng chí làm việc tốt gặp hoạn nạn khó khăn, ông sẵn lòng dành một phần tiền lương của mình, thân chinh đến tận nơi thăm hỏi. Với cán bộ chiến sĩ được phân công nhiều năm làm trợ lý giúp việc cho ông, ông coi như người thân trong gia đình.

86 mùa xuân, 70 năm hoạt động cách mạng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi nhiều nơi, trái tim luôn rung động, nhạy cảm sâu sắc trước nỗi đau, nỗi lo riêng của con người, ông đều quan tâm giải quyết bằng nhiều hình thức với khả năng cao nhất của mình. Tác phong sâu sát, cụ thể, lòng nhân ái của ông đã khắc sâu trong tâm trí nhiều người, trong mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài.

Ảnh hưởng của ông không chỉ có ở trong nước mà còn có ở tầm cỡ quốc tế. Hãng tin NHK Nhật đã đánh giá: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt là nhà chính trị lỗi lạc, nhà ngoại giao đại tài, và là một kiến trúc sư ưu tú của tiến trình đổi mới Việt Nam phát triển theo kinh tế thị trường”.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là một người tài đức vẹn toàn, một người có bản lĩnh năng động, quyết đoán, một nhân cách lớn, suốt đời vì nước vì dân, vì tiền đồ của dân tộc, một con người kiệt xuất của thời kỳ đổi mới, một khối óc minh tuệ, một trái tim đầy nhân ái, chan hòa gần gũi mọi người, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một con người của hành động, một con người bất tử trong lòng dân, một vì sao tỏa sáng.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, xin kính đề dâng tặng mấy câu thơ:

Địa linh sinh nhân kiệt

Sự nghiệp lớn để đời

Việt Nam còn sáng mãi

Dấu ấn Bác Võ ơi!

THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


Khi những anh hùng ngẩng cao đầu ngã xuống

Miệng hô vang Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh

Lịch sự như một con tài cất tiếng còi cháy bỏng

Báo ga này ga Hồ Chí Minh

Khi đoán cháu con lại nối tiếp cha anh

Tiến trên đường Hồ Chí Minh đuổi giặc

Lịch sử sẽ khởi hành trên con đường ngắn nhất

Vào tương lai thơi đại Hồ Chí Minh

Khi những em bé đến trường trong tình thương bè bạn

Những dân tộc vùng cao viết chữ cụ Hồ trong núi bắng

Lịch sử sẽ lật từng trang nhanh

Trong ánh sáng thời đại Hồ chí Minh

Từ đau thương ta đứng dạy quên mình

Lẽ sống là con đường diệt Mỹ

Dáng vóc lớn khi ta cầm vũ khí

Việt Nam hùng vĩ nước non này

Trên đất nước nghìn năm những nông dân lại tập cấy cày

Nhà bác học phải nghĩ suy từ ba sào chua mặn

Năm tấn thóc để làm thép gang mặt trận

Cũng là bài ca theo suốt những đoàn quân

Ta lại có tình yêu sáng ngời hơn trăm nét hoa văn

Có nỗi vui một câu ca dao, một trang Kiều mơ ước

Có trời xanh Ba Đình ai cũng nhìn ngắm được

Có đời ta trọn vẹn giữa đời dân

Ta thêm yêu tin mỗi thước đất ta nằm

Đường ra trận ta thương từng bóng lá

Ngủ hầm sâu ta quý từng lớp gió

Đất nước này ta yêu ta thân

Ôi đất nước Hồ Chí Minh....

St.

SỰ HI SINH THẦM LẶNG

 

Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Mai Nam chia sẻ về quá trình tác nghiệp thời chiến: “Ngày ấy, chúng tôi phải đối mặt với nhiều khó khăn. Máy ảnh không phải loại tối tân, thường là của Liên Xô, Đức viện trợ. Mỗi người chỉ được trang bị 1 máy. Phim thì rất hiếm. Cho nên, khi chụp phải đắn đo, đếm từng khoảnh khắc, ưng ý thì mới bấm, chứ không thoải mái như máy ảnh số bây giờ. Ngoài ra, tráng phim, rửa ảnh, phóng ảnh… cũng đều do một tay phóng viên làm”.


Trong điều kiện chiến tranh, ông đi cùng các đơn vị thanh niên, sống và chiến đấu như những người lính thực thụ. Đối với nghệ sĩ nhiếp ảnh Mai Nam, chính những người lính, những người thanh niên trong kháng chiến đã động viên và tạo điều kiện để ông tác nghiệp. Ông học được ở họ tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh.


“Trong chiến tranh, sự sống và cái chết mong manh lắm, và có ai muốn chết? Nhưng khi đã đi vào chiến trường, tận mắt thấy được sự dũng cảm của những người thanh niên, những người dân quân, bộ đội…, thì tôi đã không còn sợ gì hết. Phải có tinh thần như thế thì mới làm việc được. Cho nên, giữa mưa bom bão đạn, chúng tôi vẫn tác nghiệp, vẫn ghi lại những hình ảnh tốt nhất để đem về tuyên truyền”.

(St)

Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia

Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia 


QUYỀN CON NGƯỜI GẮN VỚI ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

Đây là một trong những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người:


ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC LÀ VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam:

- Đoàn kết không phải là sách lược, không chỉ diễn ra trong một giai đoạn cách mạng mà còn diễn ra lâu dài trong cả cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng XHCN.


KHÁI NIỆM ĐẠI ĐOÀN KẾT THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Theo Hồ Chí Minh: Đoàn kết là sự liên kết chặt chẽ của số đông người có chung mục đích lý tưởng, lợi ích hợp thành chữ ĐỒNG để tạo ra một sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và tinh thần, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu lý tưởng, được thể hiện ở 4 chữ: ĐÔNG - ĐÍCH - KẾT - ĐỒNG.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Trách nhiệm của mỗi người dân

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới xác định rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Do đó, đây không chỉ là trách nhiệm quan trọng của cán bộ, đảng viên mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân. Người dân phát huy vai trò bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua nhiều việc làm cụ thể, thiết thực. Tin tưởng và trung thành với Đảng Người dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết là tuyệt đối tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, trung thành với Đảng. Từ đó, cống hiến công sức, trí tuệ của mình cho Đảng; đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của quê hương, đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Đồng thời tích cực góp ý nhằm hoàn chỉnh quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, vì lợi ích chung của toàn dân tộc. Mỗi người dân cần nêu cao ý thức, trách nhiệm công dân trong việc chấp hành pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân. Những việc làm này đã được cụ thể hóa sinh động ở nhiều địa phương trong tỉnh. Nhân dân đã đóng góp nhiều sức người, sức của, hiến kế hay, sáng tạo cho cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong triển khai các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới, tự nguyện hiến đất, giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình, dự án trọng điểm. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhân dân các địa phương trong tỉnh đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, xây dựng lề lối, tác phong lãnh đạo và làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức khoa học, sát thực tiễn, gần gũi, gắn bó với nhân dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không có gì là trừu tượng nếu mỗi người dân góp sức mình bằng những công việc cụ thể đó là chấp hành tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, tin Đảng và trung thành với Đảng, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.