Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ khai mạc Hội nghị cấp cao Quốc hội 3 nước Campuchia-Lào-Việt Nam

 Sáng 5-12, tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ khai mạc và Phiên toàn thể đầu tiên của Hội nghị cấp cao Quốc hội 3 nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất. Hội nghị có sự tham dự của hơn 350 đại biểu là đại biểu Quốc hội, đại diện các bộ, ngành và địa phương của ba nước, đại diện của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Hàn Quốc (KOICA).

Tham dự và phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith chúc mừng Quốc hội 3 nước CLV đã nâng hợp tác lên cấp Chủ tịch của 3 Quốc hội; đánh giá cao việc 3 Quốc hội tiếp tục hợp tác toàn diện, hỗ trợ các Chính phủ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, bảo đảm an ninh - xã hội tại khu vực Tam giác phát triển CLV nói riêng và 3 nước nói chung. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith đề nghị ba Quốc hội tiếp tục nâng cao vai trò Quốc hội, nhất là trong việc giám sát, đôn đốc thúc đẩy các dự án hợp tác giữa 3 nước và với quốc tế.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane nhấn mạnh Hội nghị cấp cao Quốc hội 3 nước CLV lần thứ nhất có ý nghĩa lịch sử trong hợp tác Quốc hội 3 nước. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực ngày càng nhiều thách thức đan xen cơ hội, trên cơ sở những thành tựu trong hợp tác giữa Quốc hội Campuchia-Lào trong những thập kỷ qua, Quốc hội ba nước cần tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị đoàn kết Campuchia-Lào-Việt Nam, tăng cường hợp tác kinh tế - văn hóa - xã hội. 

Tại Phiên toàn thể thứ nhất, Chủ tịch Quốc hội ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam chia sẻ đánh giá việc  thành lập Hội nghị cấp cao Quốc hội 3 nước CLV góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa 3 nước CLV. Ba Chủ tịch Quốc hội khẳng định cam kết tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác và đối tác nghị viện nhằm duy trì hợp tác chặt chẽ, cùng có lợi giữa Quốc hội 3 nước, qua đó vun đắp tình hữu nghị đoàn kết, thúc đẩy hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực của 3 nước. 

Đặc biệt, ba Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh vai trò giám sát của Quốc hội trong ứng phó các thách thức toàn cầu, giải quyết các vấn đề còn tồn tại, thúc đẩy việc thực hiện các thỏa thuận, dự án chung vì lợi ích chung của người dân trong khu vực Tam giác phát triển CLV (CLV-DTA) nói riêng và ba nước nói chung.

Trong phát biểu tại Phiên toàn thể thứ nhất, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh quan hệ đoàn kết hữu nghị, gắn bó và tin cậy chính trị giữa 3 nước Campuchia-Lào-Việt Nam là di sản vô giá, có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của 3 nước. Việt Nam luôn coi trọng và coi đây là nhiệm vụ chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định việc thành lập cơ chế Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước CLV là mốc son quan trọng trong lịch sử hợp tác giữa ba Quốc hội, đánh dấu sự nâng tầm hợp tác giữa ba cơ quan lập pháp lên cấp cao nhất, là bước hiện thực hóa kết quả đạt được tại cuộc gặp cấp cao của người đứng đầu ba Đảng tháng 9-2021. 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đề xuất nhiều biện pháp tăng cường hợp tác giữa ba Quốc hội Campuchia-Lào-Việt Nam. Về chính trị - đối ngoại, Quốc hội 3 nước tiếp tục cùng nhau gìn giữ, vun đắp, gia tăng giá trị chiến lược của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt Campuchia-Lào-Việt Nam. 

Ba cơ quan lập pháp tăng cường hợp tác trong hoàn thiện thể chế, ban hành chính sách pháp luật hỗ trợ các Chính phủ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là tại các cơ chế hợp tác nghị viện IPU, APPF, AIPA, góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN, thúc đẩy hợp tác Tiểu vùng Mê Công. 

Về kinh tế, thương mại, đầu tư, Quốc hội ba nước tiếp tục giám sát triển khai hiệu quả các văn kiện hợp tác đã ký, đàm phán để ký văn kiện mới tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thuận lợi trong hợp tác giữa song phương cũng như giữa ba nước nhằm tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, tăng cường bổ trợ, kết nối giữa ba nền kinh tế CLV; chú trọng các cơ chế, chính sách đặc thù cho khu vực CLV-DTA. Về văn hóa - xã hội, Quốc hội ba nước phối hợp, giám sát việc tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch, xúc tiến mô hình “3 quốc gia - 1 điểm đến”, thúc đẩy hợp tác y tế, giáo dục - đào tạo, giao lưu văn hóa, góp phần giáo dục thế hệ trẻ 3 nước về quan hệ hữu nghị Campuchia-Lào-Việt Nam. 

 

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

 

Sáng 4-12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Dự và chỉ đạo Hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng.

Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cùng các cán bộ chủ chốt các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội trong toàn hệ thống chính trị và đông đảo cán bộ, đảng viên.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, từ điểm cầu Trung ương tại Phòng họp Diên Hồng (Nhà Quốc hội) kết nối tới 16.242 điểm cầu các ban, bộ, ngành, đoàn thể, đơn vị ở Trung ương và các địa phương trên toàn quốc; có 1.441.261 các lãnh đạo, cán bộ, đảng viên tham dự nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết.

Nội dung các chuyên đề tập trung vào những vấn đề cốt lõi, những điểm mới của các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII.

Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII ở địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII cụ thể, thiết thực và hiệu quả.

Tại Hội nghị, các đại biểu nghe Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng truyền đạt chuyên đề: "Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc". Dự kiến sau đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới".

 

Xây dựng đội ngũ trí thức chủ động, tích cực theo tinh thần Nghị quyết số 45

 Xây dựng đội ngũ trí thức chủ động, tích cực

        Nhấn mạnh sự cần thiết ban hành nghị quyết về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, ngày 24/11/2023, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 45).

    Theo đó, quan điểm Nghị quyết số 45 đã kế thừa Nghị quyết số 27 và bổ sung, làm rõ hơn nội hàm trí thức về trình độ, phẩm chất đạo đức, cống hiến; về vị trí vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức… Cụ thể, đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo. Trí thức giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc. Đội ngũ trí thức là lực lượng có vai trò quan trọng trong liên minh giai cấp công nhân, nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; có trách nhiệm tiên phong, tạo ra sản phẩm tinh thần, vật chất chất lượng cao cho xã hội. Đây là nguồn lực đặc biệt trong phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…

    Cùng với đó, Nghị quyết số 45 định hướng rõ quan điểm, xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư cho xây dựng, bồi đắp “nguyên khí quốc gia” và tiếp tục khẳng định xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đồng thời, chú trọng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước, có cơ chế, chính sách đột phá thu hút, trọng dụng trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành và nhân tài của đất nước; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trí thức trẻ, kế cận. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo môi trường, điều kiện và động lực để phát huy vai trò, sự cống hiến đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức.

    Đáng chú ý, Nghị quyết số 45 động viên đội ngũ trí thức Việt Nam nêu cao lòng tự hào, vinh dự và trách nhiệm đối với Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ đóng góp cho phát triển của đất nước. Đến năm 2030, mục tiêu phát triển đội ngũ trí thức về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm khả thi, đồng bộ, tạo cơ hội, điều kiện, động lực cho đội ngũ trí thức phát triển toàn diện, nâng cao năng lực, trình độ và cống hiến cho đất nước.

    Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho đầu tư phát triển khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ cao, lõi, nguồn và mũi nhọn; quan tâm đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị, quản lý, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật. Đây là nội dung được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm để xuất, nhất là về hoàn thiện cơ chế, chính sách để khắc phục hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách đối với đội ngũ trí thức.

    Bên cạnh đó, tăng số lượng phát minh, sáng chế, công trình khoa học trong bảng xếp hạng của khu vực và thế giới; sản phẩm khoa học, công nghệ, tác phẩm văn học, nghệ thuật đỉnh cao; công trình công bố trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế. Nâng chất lượng tạp chí khoa học của Việt Nam đạt trình độ khu vực và quốc tế.

    Tầm nhìn đến năm 2045, đội ngũ trí thức Việt Nam lớn mạnh, có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, thuộc tốp đầu khu vực và tiệm cận với các nước phát triển. Nhiều nhà khoa học có ảnh hưởng trên thế giới, đạt các giải thưởng quốc tế trên các lĩnh vực. Nhiều tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục và đào tạo đạt chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu của quốc gia phát triển.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG VIDEO ĐỘC HẠI, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRÊN MẠNG XÃ HỘI


Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”... Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội. Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video có nội dung xấu độc trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… trong phạm vi nào đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.


Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội


Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.


Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.


Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).


Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội


Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.


Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet...


Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 


Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra những xung đột xã hội.


Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.


Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều mặt công tác... Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích động chống đối.


Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu.



Thứ Hai, 4 tháng 12, 2023

⭐️🇻🇳⭐️LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 05/12.🇻🇳

 

“Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”[35].


Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3176, ra ngày 05 tháng 12 năm 1962.


Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm không ngừng phát triển kinh tế - xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.


Là người sáng sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải tôn chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền tự Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam, cộng khổ, chi ngọt, sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí.🇻🇳


Đổi mới trong xây dựng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

 

        Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên là một trong những giải pháp có ý nghĩa quyết định đổi mới, nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC. Giảng viên các cơ sở ĐTBD phải có trình độ chuyên môn phù hợp, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm hoạt động thực tiễn quản lý và có năng lực sư phạm. Có kế hoạch thường xuyên cập nhật, nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp sư phạm cho giảng viên các cơ sở ĐTBD. Nâng cao trách nhiệm của giảng viên với vai trò không chỉ là người thực hiện chương trình mà còn là người “biên tập lại”, “sáng tạo” chương trình ĐTBD.

        Cơ sở ĐTBD phải xây dựng đội ngũ giảng viên thỉnh giảng; bảo đảm sau năm 2020, giảng viên thỉnh giảng đảm nhiệm từ 50% trở lên thời lượng của các chương trình ĐTBD mà cơ sở thực hiện. Tinh giảm dần đội ngũ giảng viên cơ hữu hiện có, tập trung xây dựng mạng lưới giảng viên thỉnh giảng gồm các chuyên gia, nhà quản lý có kinh nghiệm, giảng viên, nghiên cứu viên có trình độ và uy tín của các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý... trong và ngoài nước.

        Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy chế quy định trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tham gia giảng dạy cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp và trao đổi kinh nghiệm quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ phù hợp với bộ, ngành, địa phương.

        Tăng cường tự bồi dưỡng và bồi dưỡng kỹ năng, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cho giảng viên cơ hữu ở các cơ sở ĐTBD, tạo điều kiện cho giảng viên đi thực tế dài ngày tại các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương. Khuyến khích giảng viên tự học tập nâng cao trình độ và năng lực giảng dạy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ hội nhập.

HỘI TỤ NGƯỜI VIỆT NAM YÊU NƯỚC LÀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC


Nghị quyết đã làm rõ nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước.


Sáng 4/12, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng quán triệt chuyên đề về Nghị quyết 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 với nội dung tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.


3 lý do rất quan trọng ban hành nghị quyết


Chủ tịch nước nêu rõ, có 3 lý do rất quan trọng để Trung ương ban hành Nghị quyết 43. Thứ nhất, sau 20 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đã hoàn thành cơ bản các mục tiêu cơ bản, giải pháp mà nghị quyết đã đề ra. Nhưng vấn đề phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề xuyên suốt, lâu dài nên chúng ta phải tính toán nội dung, nhiệm vụ, giải pháp cho vấn đề này trong tình hình mới. 


Thứ hai, qua 20 năm thực hiện Nghị quyết 23, Trung ương đánh giá còn một số hạn chế, khuyết điểm và rút ra một số bài học để thực hiện tốt hơn. 


Thứ ba, thực tiễn sau 20 năm thực hiện Nghị quyết 23 và gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước thì tình hình thế giới, khu vực, trong nước đã có nhiều thay đổi. Trong đó, nhận thức về đoàn kết, đại đoàn kết có nhiều yếu tố mới và không chỉ ở Việt Nam, mà trong khu vực, thế giới cũng thấy rõ. "Giữa đoàn kết và chia rẽ thì đoàn kết sẽ mạnh hơn, phát triển. Không đoàn kết hay tệ hơn là chia rẽ sẽ kiềm chế sự phát triển, thậm chí kéo thụt lùi sự phát triển của một số quốc gia" - Chủ tịch nước nêu rõ.


Đảng giữ vai trò quan trọng nhất trong đại đoàn kết toàn dân tộc


Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, Nghị quyết 43 nêu rõ 4 quan điểm, trong đó, khẳng định vị trí, vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc. “Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng, nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” - Chủ tịch nước nói, đồng thời chỉ rõ nền tảng vững chắc của đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, là mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ.


Đặc biệt, theo Chủ tịch nước, nghị quyết đã làm rõ nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Cùng với đó, Trung ương Đảng xác định mục tiêu chung để phát huy truyền thống và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. 


Chủ tịch nước phân tích, mỗi người có một suy nghĩ khác nhau, yêu nước bằng cách riêng của mình. Song, để hội tụ mọi người Việt Nam yêu nước là mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 là điểm tương đồng; đồng thời, nhấn mạnh quan điểm đoàn kết toàn dân tộc phải gắn với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.


Chủ tịch nước nhấn mạnh việc đoàn kết mà không có dân chủ là đoàn kết “xuôi chiều”, đoàn kết mà không lắng nghe các ý kiến khác nhau là đoàn kết “một chiều”. "Cán bộ cấp dưới mà cứ lựa coi cấp trên nghĩ gì để nói là nguy hiểm cho Đảng, đất nước. Một cán bộ vào họp tập thể nhưng lại cứ suy nghĩ vấn đề này ông thủ trưởng nói, suy nghĩ thế nào để mình nói phù hợp thì nguy hiểm. Cái đó là đoàn kết một chiều, đoàn kết xuôi chiều, đoàn kết trên sự bưng bít, không lắng nghe sự thật. Đoàn kết phải phát huy dân chủ, chỗ nào không có dân chủ thì không có đoàn kết thực sự" - Chủ tịch nước nhấn mạnh; đồng thời cho rằng, chỗ này chỗ kia vẫn có câu chuyện họp nhưng thấy không thẳng thắn, không trao đổi một cách chân thành, lắng nghe, phân tích, mổ xẻ mà bàn vấn đề gì chỉ đi hỏi thủ trưởng nghĩ thế nào để phát biểu cho trúng ý là không nên. 


Quan điểm nữa theo Nghị quyết 43 là đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị, trong đó, Đảng giữ vai trò quan trọng nhất./. 



SUY NGẪM

 


Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền của dân tộc, vấn đề bạn và thù thường xuyên được đặt ra.


Dân tộc chúng ta đã hàng ngàn năm phải chống giặc ngoại xâm để giải phóng đất nước, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc, độc lập của Tổ quốc.


Bác Hồ đã nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến đấu để bảo vệ vùng trời, vùng biển, hải đảo, bảo vệ biên giới của Tổ quốc, hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ta đã ngã xuống và còn hàng triệu liệt sĩ mà mộ phần còn đang nằm rải rác khắp các miền của Tổ quốc, nằm trên đất bạn hay ở một nơi xa xôi nào đó. Hằng năm, nhiều đoàn của Đảng và Nhà nước, của nhân dân đã đến bờ sông Thạch Hãn tưởng niệm, thả những vòng hoa tươi thắm xuống sông viếng các liệt sĩ. Cảm động đến cháy lòng khi đọc những câu thơ:


Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Ở đó, đáy sông, các anh nằm.


Nhớ đến hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh nơi thành cổ Quảng Trị, nhìn những vạt cỏ xanh tươi đến lạ thường được nuôi dưỡng bằng xương máu của các anh mà quặn lòng:


Cỏ non xanh tươi xin chớ vô tình

Những người hy sinh trên mảnh đất quê mình,


Tổ tiên ông cha ta đã bằng xương máu, nước mắt và công sức để bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay việc xây dựng đất nước cho đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam.


Lúc này chỉ có học tập, đi sâu vào khoa học - kỹ thuật, công nghệ trên mọi lĩnh vực mới mong thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Có số liệu nêu: Năng suất lao động của công nhân Xin-ga-po gấp 15 lần công nhân chúng ta, của Nhật Bản gấp 10 lần ta và của Thái Lan gấp 2,5 lần... Chúng ta không tự ti, chê bai ta vì chúng ta đã dồn tâm trí vào cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giải phóng đất nước. Nhưng lúc này không cho phép ta nghèo, thiếu thốn về kiến thức.


Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Sự nhiệt tình cộng với dốt nát bằng phá hoại”. Hiện tượng tham ô, lãng phí ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khá phổ biến(1). Mức thu nhập của người giàu và nghèo khoảng cách càng xa. Theo báo cáo năm 2013, tiền đi chữa bệnh ở nước ngoài là 6 tỷ đô-la, tiền đi du lịch nước ngoài là 4 tỷ đô-la... Thật là xót xa khi số tiền đó nếu được dùng đúng mức thì biết bao con trẻ ở vùng sâu, vùng xa có trường học, đời sống nhân dân được cải thiện, điện, đường, trường, trạm sẽ được rộng khắp.


Trong hợp tác kinh tế với nước ngoài phải có đầu óc, chiến lược. Họ đầu tư vào ta là hai bên đều có lợi, nhưng đừng vì do thiếu kiến thức, thiếu tính toán chiến lược và vì những lý do nào đấy mà làm tổn hại cho đất nước. Ví dụ đường sắt trên cao của Hà Nội kéo dài thời gian quá dài, nằm ỳ, trơ các trụ cột xi măng đến chướng mắt. Liên doanh khai thác vàng tại Quảng Nam (hai mỏ Bồng Miêu và Phước Sơn), nhiều tấn vàng họ đã lấy đi, đến khi họ đóng cửa, công nhân thất nghiệp, nhiều người góp vốn cho vay trắng tay, ô nhiễm môi trường khó mà khắc phục được,… Bài học về nhập nhiều dây chuyền sản xuất đường với công nghệ lạc hậu, sản xuất đường ra nhưng không bán được là một bài học đắt giá.


Muốn nhập công nghệ cao phải có tiền, phải chọn lọc lĩnh vực thích hợp và phải có con người điều khiển nó. Chiến lược về bồi dưỡng con người, dùng người, đặt vào đúng vị trí, đúng chỗ là tài của người lãnh đạo, quản lý các ngành, các tổ chức, của các cơ quan Đảng và Nhà nước.


Việc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ song song. Sự thâm hiểm của kẻ thù; những cạm bẫy trong quan hệ của đối phương phải làm ta luôn luôn cảnh giác, nếu không sẽ gây tổn hại lớn về vị thế của quốc gia, về kinh tế và về sự tồn vong của đất nước. Nếu chỉ vì lợi ích cá nhân thấp hèn mà bán rẻ lương tâm, bán rẻ đồng bào thì có tội lớn với dân tộc, với đất nước, muôn đời bị các thế hệ phỉ nhổ./. 


 

Đổi mới nhận thức về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

 

        Đổi mới nhận thức về chức năng ĐTBD CBCC, chuyển từ “vì mục tiêu quản lý con người” sang “vì công việc và chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ”. ĐTBD không phải chỉ vì để người CBCC đáp ứng những tiêu chuẩn do nhà quản lý đặt ra (dù những tiêu chuẩn đó cũng một phần vì công việc) mà là để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Theo đó, cần tách biệt chức năng “đào tạo” và chức năng “bồi dưỡng” như Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 1-9-2017 của Chính phủ đã thể hiện. Đào tạo để đội ngũ CBCC có bằng cấp hoặc có bằng cấp cao hơn dành cho CBCC có năng lực cao và theo quy hoạch phát triển nhân lực. Bồi dưỡng là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức và việc tham gia các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ là quyền lợi và trách nhiệm của CBCC. Hoạt động bồi dưỡng tập trung vào việc cập nhật kiến thức mới, trang bị kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Và vì vậy, đó thường là những khóa bồi dưỡng ngắn ngày, thực hiện theo phương pháp tích cực, lấy người học và công việc của họ làm trung tâm.

        Chú trọng ĐTBD kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ đối với CBCC. Đạo đức là yếu tố quyết định mức độ cống hiến của CBCC đối với tổ chức và người dân. Trong thiết kế, xây dựng chương trình, cần phải có các khóa học về đạo đức công vụ được thiết kế riêng hay lồng ghép với các khóa học khác; đa dạng hóa phương pháp bồi dưỡng đạo đức công vụ.

        Giao quyền tự chủ cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý và sử dụng CBCC để bảo đảm tính chủ động, tính kịp thời, khả năng thích ứng của CBCC trước những thay đổi của nền công vụ. Cơ quan, đơn vị và địa phương sẽ quyết định về nội dung chương trình ĐTBD được xây dựng trên cơ sở nhu cầu bồi dưỡng các kỹ năng thực thi công vụ của CBCC. Ngoài chương trình ĐTBD áp dụng chung, tùy thuộc vào từng Bộ, ngành, địa phương mà các cơ sở ĐTBD của Bộ, ngành, địa phương xây dựng các học phần riêng phù hợp với thực tiễn của cơ quan, địa phương mình.

        Tạo cơ chế và điều kiện để người CBCC được quyền chủ động trong việc lựa chọn các chương trình bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu công việc đang đảm nhiệm; đa dạng hóa các chương trình bồi dưỡng dành cho các đối tượng khác nhau. Chương trình bồi dưỡng làm quen với công việc dành cho CBCC mới được tuyển dụng hoặc chuyển công tác sang môi trường công việc mới; Chương trình bồi dưỡng cơ bản để CBCC thích ứng với công tác của mình; Chương trình bồi dưỡng nâng cao bổ sung, giúp CBCC đạt hiệu quả cao nhất trong công việc; Chương trình bồi dưỡng mở rộng tạo điều kiện cho CBCC có thể đảm nhiệm các công việc vượt ra khỏi chức trách, nhiệm vụ thường xuyên của mình, có thể làm những công việc liên quan khi cần thiết; Chương trình bồi dưỡng tiếp tục không chỉ liên quan đến công việc hiện tại của người CBCC, mà còn nâng cao khả năng làm việc của họ trong tương lai.

 CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 -  NHÂN TỐ CHÍNH TÁC ĐỘNG 
BUỘC NƯỚC LỚN PHẢI ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC

Cách mạng khoa học - công nghệ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới, làm quốc tế hóa sâu sắc quá trình mở rộng sản xuất, phân phối trên phạm vi toàn cầu, tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước trên thế giới. Cách mạng khoa học - công nghệ làm gia tăng các phát minh, sáng chế và tốc độ ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ trong sản xuất và sinh hoạt của con người. Đây là những tiền đề phát triển hoàn toàn mới, phi truyền thống, làm thay đổi tư duy và phương thức quan hệ giữa các nước, đặc biệt là các trung tâm quyền lực, các nước lớn. Từ đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXI đến nay, cách mạng khoa học - công nghệ đang dần quá độ chuyển sang Cách mạng công nghiệp 4.0. Điều này đã và càng làm thay đổi tư duy của các nước về thế giới quan và chiến lược phát triển, thay đổi phương thức quan hệ giữa các quốc gia, làm gia tăng tiềm lực sức mạnh cho các nước lớn: sức mạnh tổng lực quốc gia, sức mạnh mềm, sức mạnh thông minh; tạo khả năng chi phối, kiềm tỏa cho các nước lớn không chỉ ở khu vực mà trên toàn cầu.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mỗi khi có sự quá độ này, thế giới thường bị đảo lộn lớn. Về kinh tế, thường là những cuộc khủng hoảng, suy thoái để tái cơ cấu lại theo hướng hợp lý hơn cho sự phát triển tiếp theo. Về chính trị, quyền lực, cũng là sự tập hợp của các nước lớn thành “phe”, “trục” để phân chia lại ảnh hưởng, sắp xếp lại trật tự. Sự quá độ lần này cũng không ngoài quỹ đạo đó, nhưng khác trước ở nhiều điểm:

Một là, ở góc độ kinh tế, nếu như trước đây cuộc khủng hoảng 1929-1933 có lý thuyết “bàn tay hữu hình” của nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946) là giải pháp hữu hiệu, thì cuộc khủng hoảng của thế giới từ năm 2008 đến nay vẫn chưa tìm được “thuốc giải” hữu hiệu. Các giải pháp theo lý thuyết Keynes trước đây được chính phủ các nước lớn đưa ra như “gói cứu trợ" hay "thắt lưng buộc bụng” chỉ là ‘giải pháp tình thế" không những không chữa “Khỏi bệnh” mà còn làm bùng phát các phong trào xã hội mới như “phong trào chiếm phố Wall", “phong trào chống toàn cầu hóa" hay "Brexit"….

Hai là, ở góc độ quyền lực, cạnh tranh giữa các nước lớn vẫn rất gay gắt khốc liệt nhưng không dẫn đến chiến tranh quy mô lớn chiến tranh thế giới. Khi độ gay gắt của mâu thuẫn giữa các nước lớn đến "đỉnh điểm”, thì họ chuyển sang thỏa hiệp với nhau để bảo vệ lợi ích của quốc gia, phe nhóm, tập đoàn, hoặc đẩy mâu thuẫn xung đột sang nước thứ ba hay khu vực khác, biên những nơi này thành địa bàn giao chiến, “thể hiện" về sức mạnh của vũ khí, công nghệ mới

Ba là, những thành tựu mới của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt các thể chế hợp tác, hội nhập khu vực, toàn cầu hiện nay trước những thách thức lớn, phải điều chỉnh lại cả về cấu trúc lẫn nguyên tắc vận hành cho đủ mạnh, thích ứng với những biến đổi để tiếp tục phát triển.

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với mũi nhọn là trí tuệ nhân tạo và tự động hóa thông minh đang làm thay đổi những nền tảng cốt lõi trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và an ninh, quốc phòng. Các cường quốc hàng đầu thể giới, nhất là Mỹ và Trung Quốc đang tiến hành tái cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng “xanh, sạch, thông minh”. Phương thức và hình thái cạnh tranh cũng đang thay đổi theo hướng chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh không gian mạng, trên vũ trụ. Những điều chỉnh tầm chiến lược này của các nước lớn đòi hỏi các nước khác cần phải có đối sách kịp thời, phù hợp với tình hình mới.

Như vậy là, tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến các nước lớn rất mạnh mẽ, vừa tạo thời cơ nhưng cũng đặt các nước này trước những thách thức lớn buộc phải điều chỉnh chiến lược phát triển của mình cho phù hợp nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia./.

Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội

         Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội

        Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.

        Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet…

        Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra những xung đột xã hội.

        Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.

        Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều mặt công tác… Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích động chống đối.

        Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu.

 

Nét đặc sắc của “Ngoại giao cây tre” Việt Nam

Ngày 14/12/2021, Hội nghị Đối ngoại toàn quốc diễn ra tại Hội trường Diên Hồng. Chủ trì là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là hội nghị đối ngoại đầu tiên trong lịch sử, do Bộ Chính trị và Ban Bí thư chủ trì.


ngoai giao cay tre 1
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 14-12-2021. Ảnh:VGP/Nhật Bắc

Nội dung chính là đánh giá toàn diện những thành tựu của công tác đối ngoại trong 35 năm đổi mới, và nhìn lại những bài học kinh nghiệm, đồng thời truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lấy hình ảnh cây tre, để định hướng cho trường phái ngoại giao riêng, đặc sắc và độc đáo của đất nước Việt Nam. Tổng Bí thư khẳng định, hơn 90 năm qua, Việt Nam đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

NÉT ĐẶC SẮC

Trong bài phát biểu kéo dài hơn 60 phút tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư khái quát và nhận định: “Chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là trường phái riêng”. Tổng Bí thư đã ví ngoại giao Việt Nam là “ngoại giao cây tre”: “Thân gầy guộc, lá mong manh/Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi”. Hình tượng đẹp của cây tre luôn gắn bó với con người, làng quê cũng như gắn chặt với truyền thống dân tộc, đặc biệt là bản sắc nền ngoại giao Việt Nam, nền ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nội hàm của trường phái “Ngoại giao cây tre” Việt Nam mà Tổng Bí thư nói đến là: 1) Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; 2) linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 3) Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 4) Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

Tổng Bí thư đã phân tích “ngoại giao cây tre”: “Cây tre Việt Nam gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường. Không có cơn gió nào quật ngã được”. Điều này nói lên nền ngoại giao thấm đượm tâm hồn cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân.

Nét đặc sắc khi lấy cây tre làm biểu tượng cho trường phái ngoại giao Việt Nam được thể hiện, đó là:

Một là, luận về gốc tre: Ngoại giao phải có gốc, với hàm ý ngành ngoại giao trong 76 năm qua đã hình thành và phát triển không chỉ kế thừa truyền thống của nhiều thế hệ cha anh đi trước mà đằng sau đó là cả thành tựu của đất nước, dân tộc. “Đây là nền ngoại giao đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”. Tổng Bí thư còn nói “sau lưng các nhà ngoại giao luôn có toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cả hệ thống chính trị” - Đấy là cái gốc của ngoại giao.

“Gốc tre quyện vào nhau” với hàm ý đoàn kết, các bộ ngành trong nước và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải gắn bó, hợp tác tốt với nhau. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”1. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín đất nước là bệ phóng, đường lối đối ngoại là ánh sáng soi đường, dẫn lối, để đối ngoại, ngoại giao Việt Nam vươn cao, bay xa. Tổng Bí thư dùng từ “Mang chuông đi đánh nước người”, với hàm ý chuông có kêu to hay không là nhờ thực lực quốc gia, nhờ cái gốc ở bên trong. Gốc có vững thì thân, cành mới tốt tươi, xum xuê, uyển chuyển được.

Hai là, luận về thân tre. Tổng Bí thư đã nêu ra ba thông điệp rất quan trọng ứng với ngành ngoại giao đó là uyển chuyển, linh hoạt nhưng đặc biệt phải khiêm tốn.

Cây tre Việt Nam sinh sôi, bám chắc ở mọi vùng đất, từ đất phù sa tới những nơi cằn cỗi, khắc nghiệt. Ngoại giao “cây tre Việt Nam” bén rễ từ nền văn hóa Việt Nam với truyền thống hòa hiếu nhưng cũng rất quật cường. “Thân tre gầy guộc”, hàm ý chỉ các nhà ngoại giao khiêm tốn, không khoa trương hình thức mà đi vào thực chất. Mỗi cán bộ ngoại giao cần nói đi đôi với làm học thật, làm thật, từ những cái nhỏ, cái cụ thể, song cần kiên định mục tiêu, phải mạnh mẽ, biết bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Thân cây tre gầy guộc, mảnh mai nhưng cứng rắn, chia làm nhiều đốt tạo nên sự mềm dẻo, hàm ý ngành ngoại giao cần uyển chuyển, linh hoạt tuỳ vào từng thời điểm, hoàn cảnh. Trong mỗi thời kỳ, hoàn cảnh lại có những nhiệm vụ riêng và phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Trong thời bình các nhà ngoại giao là những người tiên phong. Không tiên phong là không bắt kịp sự phát triển, là bỏ lỡ thời cơ. Yêu cầu đặt ra cho đối ngoại, ngoại giao cao hơn về chất lượng, hiệu quả; sâu rộng hơn về lĩnh vực và lực lượng tham gia; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ hơn; chủ động, tích cực hơn trong triển khai thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ mới.

ngoai giao cay tre 2
Cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 trước giờ xuất quân 
làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc.

Gốc tre, thân tre phải đi liền với nhau. Hiện nay, ngoại giao không chỉ ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, mà còn góp phần bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm, phát hiện sớm vấn đề để dự báo sớm, cảnh báo sớm những nguy cơ, thách thức và cả cơ hội. Ngoại giao phải ngày càng đa dạng, toàn diện, hiện đại.

Ba là, luận về đặc tính của cây tre: Cây tre rất thân thuộc trong đời sống, một trong những biểu tượng của văn hóa dân tộc, in đậm trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Đặc tính tự nhiên nổi trội của cây tre gần gũi với phẩm chất của dân tộc Việt Nam. Nhiều nước có tre, nhưng nói đến cây tre là nghĩ đến Việt Nam.

Đặc điểm nổi trội của cây tre là dẻo dai, giàu sức sống, dễ thích nghi với môi trường. Tre vững chãi vì sống kết thành bụi, thành lũy, thành rừng, rễ bám sâu vào lòng đất, gió bão cũng phải chịu thua… Trong bụi tre, lũy tre, rừng tre, cây to khỏe ở ngoài che đỡ cho cây non, tre già măng mọc, gợi lên bài học về sự đoàn kết, đồng thuận, thống nhất, về phương châm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Đó cũng là những phẩm chất tiêu biểu cần có của ngành Ngoại giao.

Khái quát biểu tượng cây tre “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, chính là triết lý, phương pháp luận và phương châm chỉ đạo của ngoại giao Việt Nam. Nền tảng văn hóa, truyền thống hữu nghị, hòa hiếu, khoan dung, đường lối của Đảng, là cội nguồn, là cái gốc để ngoại giao vững chắc, vươn cao. Có sự trùng hợp kỳ lạ giữa hình tượng cây tre Việt Nam với trường phái ngoại giao Việt Nam. Nói trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” chính là sự ghi nhận những phẩm chất tốt đẹp, sức mạnh, đóng góp của mặt trận ngoại giao, ngành Ngoại giao, hoạt động ngoại giao.

TRƯỜNG PHÁI NGOẠI GIAO RIÊNG CỦA VIỆT NAM

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (22 - 26/8/2016), Tổng Bí thư đã nhắc đến trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần này, nội dung đó được đề cập đậm hơn, sâu hơn và chốt lại trong lời kết của bài phát biểu tâm huyết: Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Để “Ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới ngành ngoại giao cần quán triệt những quan điểm mới về ngoại giao đã nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng là: Ngoại giao là một “mặt trận”, giữ vai trò “tiên phong”, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”...

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc, Tổng Bí thư đã phân tích cặn kẽ, sâu sắc vai trò các nhiệm vụ ngoại giao: Giữ vững hòa bình, ổn định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phục vụ phát triển đất nước là nhiệm vụ trung tâm; nâng cao vị thế và uy tín đất nước là nhiệm vụ quan trọng. Từ đó, đề ra phương châm chỉ đạo: mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm hiểu các đối tác mới, hướng đi mới.

Tổng Bí thư đã đúc kết năm bài học sâu sắc cho ngành Ngoại giao: Thứ nhất, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Thứ hai, kiên định nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Thứ ba, xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Thứ tư, bài học về công tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Thứ năm, bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước.

ngoai giao cay tre 3
Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN diễn ra từ ngày 16-17/1/2020 tại thành phố Nha Trang, Khánh Hòa

Tổng Bí thư nêu 6 nhiệm vụ cho ngành ngoại giao cần làm tốt hơn trong thời gian tới: Một là, nắm chắc tình hình để kịp đổi mới tư duy và có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại. Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Ba là, phát huy mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để định hình các cơ chế đa phương. Bốn là, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hoá và hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng. Năm là, chú trọng công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược các xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng giềng. Sáu là, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đủ trình độ, uy tín, phong cách để sánh vai với các nước, bạn bè quốc tế.

Như vậy, trong hơn 35 năm đổi mới Ngoại giao Việt Nam đã đóng góp rất quan trọng vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” là niềm vinh dự, tự hào to lớn và là nhiệm vụ, yêu cầu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, tiếp tục phấn đấu, nỗ lực hơn, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại, chủ động thích ứng./.

CĐ,VS (st)

 

Quan niệm của hồ chí minh về đảng là đạo đức, là văn minh

Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam đứng trước thách thức nghiêm trọng. Đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Trước âm mưu, hành động đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc và xu thế phát triển văn minh nhân loại mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang thực hiện trên đất nước ta, Đảng phải trở thành đại biểu xuất sắc cho trí tuệ, danh dự, lương tâm, văn minh của dân tộc và thời đại, như Đảng đã có trong hơn 20 năm trước. Trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (1-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(1).

Quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh là một bộ phận trong hệ thống quan niệm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì đạo đức và văn minh có quan hệ mật thiết với nhau, nhất là khi nhìn nhận về Đảng, nên có thể tiếp cận nội dung quan niệm của Hồ Chí Minh không theo lát cắt thuật ngữ mà theo những yếu tố của Đảng thể hiện đặc điểm đạo đức, văn minh.

Đảng là sản phẩm tất yếu của yêu cầu sáng tạo văn hóa

Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra và lấy con người làm mục đích phục vụ. Nhu cầu được thỏa mãn bởi sáng tạo văn hóa luôn mang tính tiến bộ và nhân văn, hướng đến phục vụ sự phát triển của con người. Những sáng tạo đi ngược lại tiêu chí đó, ở ngay thời điểm mới sáng tạo hay trong quá trình tồn tại, đều không đủ tư cách văn hóa. Thế nên, sáng tạo văn hóa mang giá trị văn minh và đạo đức.

Những năm cuối TK XIX đầu TK XX, đạo đức, văn minh là mối quan tâm chung của cả dân tộc. Nền quân chủ không còn chút tư cách đại diện cho dân tộc, đặt ra yêu cầu về lực lượng lãnh đạo mới. Chế độ thuộc địa của Pháp là một hiện tượng phản văn hóa, nó chà đạp, thủ tiêu văn hóa của dân tộc thuộc địa, nó đầu độc và giết dần, giết mòn dân tộc thuộc địa bằng chính sách cai trị. Trên thế giới lúc này diễn ra hai xu hướng đối nghịch nhau. Nếu như chủ nghĩa tư bản cùng giai cấp tư sản đã trải qua thời kỳ tiến bộ, chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, bộc lộ nhiều nhược điểm phi văn hóa, phi nhân tính, thì sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế với giai cấp công nhân đứng ở trung tâm của thời đại và đội tiền phong – Đảng Cộng sản – là tiêu biểu cho nền văn hóa tương lai – văn hóa cộng sản chủ nghĩa, nền đạo đức mới – đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Tình thế này là tất yếu như nhau. Xét ở giác độ văn hóa, đó là tính tất yếu của sự phát triển văn hóa. Đứng trước những thử thách nghiêm trọng, văn hóa đặt ra yêu cầu và sáng tạo ra lực lượng để thực hiện yêu cầu. Đó là Đảng Cộng sản.

Trên cơ sở tố cáo tội ác và nhận thức thấu đáo bản chất của chủ nghĩa thực dân đế quốc, trên cơ sở nghiên cứu và đồng tình với Cách mạng tháng Mười Nga, với Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng tháng Mười. Thông qua nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, nhất là sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng.

Ra đời dưới ánh sáng vĩ đại của Cách mạng tháng Mười, Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kế tiếp sáng tạo văn hóa ở một nước thuộc địa. Với tư cách là tổ chức chính trị tiên tiến có tính vượt trội (văn minh) so với mọi tổ chức chính trị cùng thời kỳ, Đảng là con đẻ của sự vận động lịch sử, xuất hiện để đáp ứng yêu cầu khách quan, tất yếu của lịch sử dân tộc, gánh vác sứ mệnh dẫn dắt nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh tự giải phóng cho mình khỏi cuộc đời nô lệ, khỏi mọi ách áp bức, bất công và tàn bạo, giành lấy chủ quyền (đạo đức). Đảng tự nguyện nhận làm bộ tham mưu tối cao và đội tiền phong dũng cảm trong cuộc đấu tranh ấy của nhân dân. Chỉ khi Đảng Cộng sản ra đời, sau đó là với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, lẽ sinh tồn và mục đích của cuộc sống của dân tộc mới được đáp ứng. Cũng chỉ khi cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dân tộc ta mới hòa vào dòng chảy phát triển của văn minh nhân loại và góp phần vào xu thế đó. Đảng ra đời từ nhu cầu văn hóa và đáp ứng tiêu chí tiến bộ, nhân văn của yêu cầu.

Đảng là sản phẩm hợp thành của các yếu tố mang giá trị đạo đức, văn minh

Khái quát quy luật đặc thù ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930″(2). Đó là sự kết hợp các giá trị đạo đức, văn minh.

Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác – Lênin là: sự kết tinh trí tuệ nhân loại, lý luận khoa học trên nhiều lĩnh vực, khoa học về giải phóng toàn diện con người, có bản chất sáng tạo, đổi mới, được sáng lập bởi những vĩ nhân kiệt xuất, được bảo vệ và phát triển bởi nhân dân tiến bộ, và tạo dựng lên những con người đạo đức, văn minh. Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng mọi nhận thức và hành động của Đảng. Lý tưởng được vạch ra bởi chủ nghĩa Mác – Lênin được Đảng trung thành phấn đấu thực hiện. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin là người thày vĩ đại, là tấm gương sáng dẫn dắt mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Giá trị đạo đức, văn minh của chủ nghĩa Mác – Lênin là vốn quý của Đảng, góp phần quan trọng để Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, ở góc độ văn minh, đạo đức, cũng là quá trình Đảng củng cố và không ngừng vươn lên thành đạo đức, văn minh.

Phong trào công nhân Việt Nam là phong trào cách mạng xuất phát từ thực tiễn, là hoạt động của công nhân với tính cách là một giai cấp. Tính chất của phong trào xuất phát từ bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật”(3); “dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân”(4). Từ bản chất của giai cấp chủ thể và sự thể hiện trong thực tiễn, phong trào công nhân nói chung, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng, là phong trào cách mạng mang giá trị đạo đức và văn minh.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang cao nhất trong bảng các giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, đồng thời là giá trị đạo đức cao nhất của nhân dân Việt Nam. Xét ở góc độ bộ phận hợp thành, chủ nghĩa yêu nước là nhân tố quan trọng tạo nên tính đạo đức, văn minh của Đảng.

Mỗi bộ phận hợp thành Đảng ta đều mang giá trị đạo đức, văn minh. Sự kết hợp các bộ phận đó trong một thể thống nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – giúp cho các giá trị đạo đức, văn minh của riêng mỗi bộ phận được phát huy. Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ là đạo đức, văn minh trên trang giấy nếu không có phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân hiện thực hóa, ngược lại, không có chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân sẽ không đi đúng và thực hiện được các mục tiêu đạo đức, văn minh. Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân chỉ tồn tại và phát huy vai trò được khi gắn kết chặt chẽ với phong trào yêu nước.

Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc

Giai cấp công nhân, theo quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh, là người lãnh đạo cách mạng, đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp mình và quyền lợi của toàn dân tộc. Đảng là đội tiên phong có tổ chức và là một tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, gồm những người ưu tú nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất của giai cấp. Nói cách khác, nếu giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ và đạo đức, thì Đảng là bộ phận đứng ở đỉnh cao trong đó.

Là đảng của giai cấp công nhân, Đảng mang trong mình tất cả những phẩm chất ưu việt của giai cấp công nhân, trong có có bản chất đạo đức, văn minh. Là đảng của nhân dân lao động, Đảng đại diện cho lực lượng sáng tạo ra mọi nền văn minh, mọi giá trị đạo đức; là đảng của dân tộc, Đảng kết tinh truyền thống của một dân tộc ngàn năm văn hiến, trọng đạo đức, trọng tình nghĩa. Xét cả trên phạm vi thế giới hay dân tộc, cái chung nhân loại đến cái riêng đất nước, giai cấp nòng cốt đến nền tảng tồn tại, Đảng đều đại diện cho những lực lượng tiến bộ.

Đảng có mục tiêu, lý tưởng đạo đức, văn minh

Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng là một tổ chức chiến đấu cách mạng, kiên trì cải tạo xã hội cũ, phá bỏ mọi cái lạc hậu; kiên trì chống lại cuộc sống mất nhân tính; nó nhân danh chính nghĩa và vì chính nghĩa mà chống phi nghĩa, tức là đấu tranh chống mọi biểu hiện của cái ác. Không phải chỉ thế, mà mục tiêu chủ yếu của Đảng là kiến tạo và dựng xây một xã hội mới tốt đẹp, nhân đạo hoàn bị tiến tới một nền văn minh mới – văn minh cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, bản thân Đảng là một lực lượng tiên tiến, là bộ phận tinh hoa của xã hội, là một tập thể đại diện cho văn minh và nhân danh văn minh để chống dã man, tàn bạo.

Đảng là tổ chức tập hợp những con người đạo đức, văn minh

Đội ngũ đảng viên của Đảng, kể từ khi thành lập, hầu hết xứng đáng với tiêu chuẩn người cộng sản. Hồ Chí Minh ca ngợi: “Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang.Trong Đảng ta gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta. Chúng ta chắc chắn đi đến thắng lợi và thành công”(5). Nói chuyện tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Người ca ngợi: “Trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng tháng Tám và trong tám, chín năm kháng chiến, biết bao đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt”. Người thấy cán bộ, đảng viên phần đông là tốt, có đạo đức, có năng lực, “nhiều người cúc cung tận tụy, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân”. Thắng lợi vẻ vang của Đảng được Hồ Chí Minh ghi nhận có công lớn bởi đảng viên của Đảng.

Chủ thể sáng tạo ra Đảng ta, cũng là chủ thể của Đảng, là hiện thân của đạo đức, văn minh. Chủ thể đó, là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng, là giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam là quá trình Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đi từ tích hợp văn hóa Đông – Tây tạo nên bản lĩnh văn hóa vững vàng. Bản lĩnh đó như tấm màng lọc tự nhiên trong sự lựa chọn các học thuyết cứu nước. Bằng bản lĩnh văn hóa và đạo đức, Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản. Hồ Chí Minh lại là người công nhân Việt Nam tiêu biểu, người tiêu biểu cho một dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm văn hiến, dân tộc yêu chuộng và đề cao đạo lý.

Như vậy, Đảng ta là đạo đức, là văn minh là bởi vì Đảng là một tập thể bao gồm hầu hết những đảng viên hồng thắm, chuyên sâu, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tài đức vẹn toàn, kết thành một tổ chức có năng lực trí tuệ cao, có trình độ văn hóa tiêu biểu của thế giới đương đại, có trình độ lý luận tiên phong đủ sức làm một đảng tiên phong dẫn đường cho quần chúng trong các giai đoạn phát triển của lịch sử.

Đảng được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc tích hợp giá trị đạo đức, văn minh

Là sản phẩm văn hóa, trong mọi hoạt động Đảng luôn lấy đạo đức, văn minh là chuẩn mực. Đảng được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc phù hợp với đạo đức, văn minh. Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng là một bộ phận quan trọng trong học thuyết Mác – Lênin về Đảng Cộng sản, là sản phẩm kết tinh trí tuệ của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở vận dụng và phát triển những quy chuẩn đạo đức của xã hội vào tổ chức và hoạt động của một đảng chính trị. Thiếu những quy chuẩn đạo đức, xã hội sẽ rối loạn. Không có các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt, Đảng không thể ra đời, tồn tại và phát triển được. Các nguyên tắc mang tính chân lý đối với sự sống còn của Đảng và hướng đến việc tổ chức, củng cố và phát triển Đảng luôn vững mạnh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng văn minh, đạo đức. Chấp hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng kiểu mới, tức là thực hiện đạo đức trong điều kiện mới, là không ngừng rèn luyện cách hoạt động và sinh hoạt văn minh.

Đảng luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn

Đảng luôn ý thức được rằng: điều kiện để đảm bảo cho tính tất yếu lịch sử của vai trò cầm quyền và lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn luôn đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chỉ có luôn đổi mới và chỉnh đốn, Đảng mới theo kịp dòng chảy văn minh dân tộc và nhân loại. Thông qua đổi mới và tự chỉnh đốn, Đảng loại trừ những yếu tố lạc hậu, bổ sung nguồn lực mới, làm giàu và phát triển lên nội lực đang có.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh vì trong bản thân Đảng và mọi hoạt động của Đảng, đạo đức văn minh luôn là giá trị mang tính bao trùm, xuyên suốt, chi phối. Trong điều kiện hiện nay, đạo đức, văn minh là chân giá trị tạo nên động lực cho Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn. Trước những dấu hiệu đáng lo ngại về đạo đức, văn hóa, xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh càng có có tầm quan trọng, phải trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân.

CĐ,VS (st)

Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội

             Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội

        Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.

        Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.

        Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).