Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Một vài suy nghĩ về việc sử dụng mạng xã hội của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay

 Mạng xã hội (MXH) và việc sử dụng MXH là một vấn đề “nóng bỏng”, có nhiều tranh cãi về những mặt tích cực cũng như hệ lụy của nó trong điều kiện xã hội “bùng nổ thông tin” hiện nay. Ở Việt Nam, MXH xuất hiện sau mạng thông tin toàn cầu (Internet) nhưng mức độ phát triển về số lượng người dùng và của nó đang là vấn đề đặc biệt quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý.

          Xin nêu một vài thông tin được đề cập tại buổi Tọa đàm về “Xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội vì một môi trường mạng lành mạnh tại Việt Nam” diễn ra ngày 18/5/2018 tại Hà Nội, do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức, như sau: nước ta hiện có khoảng 55 triệu người dùng MXH. Trong đó có trên 90% là sử dụng MXH thông qua điện thoại di động. Thời lượng người dân sử dụng Internet là 7 giờ và mạng xã hội là 2,5 giờ mỗi ngày; tỉ lệ sử dụng Facebook là 61% và Youtube là 59%[1].


         Khi sử dụng MXH, hành vi và động cơ hành vi của người dùng rất đa dạng. Bên cạnh giao tiếp bằng hữu, chia sẻ kinh nghiệm, niềm vui trong cuộc sống; quảng bá thương hiệu sản phẩm... hành vi nói xấu, đả kích, bôi nhọ người khác, đăng tin giả... cũng đã và đang xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội gây ảnh hưởng nhiều mặt của đời sống văn hóa, tư tưởng, đạo đức xã hội, nhất là những chủ thể chịu tác động trực tiếp bởi các thông tin tiêu cực. Theo suy nghĩ cá nhân, cán bộ, công chức, viên chức – mặc dù chưa phải là nhóm xã hội có mức sống cao hiện nay – nhưng cũng là lực lượng không nhỏ có điều kiện tham gia MXH với cả hai hình thức gồm máy tính (computer, Laptop) và điện thoại di động thông minh đa chức năng (smartphone).

          Hệ thống chế tài đóng vai trò rất quan trọng trong điều chỉnh hành vi cá nhân nhưng điều quan trọng hơn cả là văn hóa ứng xử của mỗi người trong MXH. Chúng ta đã biết, hành vi ứng xử trên MXH cũng như hành vi ứng xử trong xã hội nói chung đã được quy định ở Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật hay đến hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Thế nhưng, như đã nêu trên, chúng ta đã và đang có nhiều điều lo lắng về ứng xử của người dùng trên MXH trong điều kiện việc xử lý của cơ quan công quyền, tổ chức đoàn thể, cộng đồng... còn nhiều bất cập. Nhận thức về những hệ lụy do hành vi tiêu cực mà mình có thể gây ra của người dùng MXH còn nhiều khác biệt, phức tạp gắn lới lối sống cá nhân.

          Là những người tham gia công tác ở các quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, mỗi cán bộ, công chức cũng cần nhận thức đầy đủ về những mặt tích cực và tiêu cực khi sử dụng MXH, nhất là xác lập thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn của bản thân trong giao tiếp, tiếp nhận, xử lý thông tin trên MXH. Vừa không làm phương hại đến mọi chủ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp luật, đạo đức, văn hóa... vừa góp phần tích cực xây dựng một môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới. Vì vậy, mỗi người sử dụng MXH, trong đó có cán bộ, công chức, viên chức cần lưu tâm một số vấn đề:

          - Có thái độ phù hợp trong tiếp cận, xử lý và tiếp nhận thông điệp được gửi đến. Thông điệp được gửi đến bởi chủ thể cụ thể (chủ tài khoản) trong MXH gắn với động cơ, mục đích đưa tin của người gửi. Sẽ càng tối ưu hơn trong phân tích tốt – xấu, đúng – sai nếu ngưỡi dùng nắm bắt được đời sống tâm lý – nhân cách của người gửi, nhất là người có tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên. Phân tích thông điệp bằng việc làm rõ ý nghĩa câu, từ, hình ảnh, video clip mà người gửi muốn nhắn gửi để có định hướng thái độ tiếp nhận/ không tiếp nhận; đồng tình/ phản bác...

          - Thận trọng trong truyền đạt thông điệp trên MXH. Đăng tải thông điệp phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Không chia sẻ, bình luận thuận chiều với những thông điệp có nội dung sai trái, vu khống, giả tạo, kích động hành vi tiêu cực.

          - Không đăng tải, chia sẻ thông điệp chưa được xác minh tính chân thực, nhất là thông điệp có nội dung làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; gây mất an ninh trật tự trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật...

          - Mỗi cán bộ, công chức, viên chức cũng cần xác lập ý thức và thái độ đúng đắn xây dựng phong cách, văn hóa ứng xử không chỉ trong công việc mà còn trong sử dụng MXH; coi đó là một nội dung rèn luyện về đạo đức, tác phong, văn hóa ứng xử trong điều kiện mới hiện nay./.

Nhận diện, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ - nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng hiện nay

 Đã và đang có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên với mức độ khác nhau. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần đẩy mạnh thực hiện giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện này, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm phai nhạt dần niềm tin và các chuẩn mực của người đảng viên cộng sản, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dễ dẫn đến xa rời nguyên tắc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thậm chí, có người nhận thức phiến diện, giản đơn, không thấy được sự nguy hại của nó, vô tình đã có những hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch chống Đảng, Nhà nước, sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì thế, đây là vấn đề không thể xem thường, đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phân tích làm rõ nguyên nhân, đề ra giải pháp, làm cơ sở cho từng đảng viên, tổ chức đảng soi vào đó kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, khắc phục, sửa chữa. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng; lòng tin của nhân dân được tăng lên, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng viên ngày càng cao1.

      Mặc dù vậy, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra chưa được khắc phục triệt để, vẫn như “mạch ngầm” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt nghiêm trọng là đã có những biểu hiện: phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; phản bác, phủ nhận nền dân chủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”; nói xấu các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đòi “phi chính trị hoá” Quân đội và Công an, v.v. Trong số đó, có người do thiếu thông tin, lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lừa gạt, lợi dụng. Nhưng cũng có kẻ đã biến chất, không còn là cán bộ, đảng viên của Đảng, có động cơ xấu, quay lưng chống Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Qua một số vụ việc gần đây được Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng xử lý kỷ luật, đề nghị truy tố, cho thấy, một số cán bộ, đảng viên đã suy thoái sâu, bị “lợi ích nhóm” chi phối; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng ở đó bị giảm sút, cá biệt có nơi bị tê liệt. Vì vậy, chủ động, kịp thời nhận diện, xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Để đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định; trong đó, tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:

      Một làtăng cường giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Đây là điều kiện tiên quyết trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”. Vì, mọi sự mơ hồ, xem nhẹ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, Cương lĩnh của Đảng đều là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng, trong xã hội. V.I. Lê-nin đã dạy: “…, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”2 . Vì vậy, không thể thờ ơ, xem thường vấn đề này. Hơn nữa, nhận diện biểu hiện trên không khó, nó diễn ra ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Để phòng ngừa, ngăn chặn, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc, kiên định hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Quá trình tuyên truyền, giáo dục, cần tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam; hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hết sức chú trọng phòng ngừa nguy cơ sa vào giáo điều, xét lại, sai lầm về đường lối. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

      Hai làđẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Có thể khẳng định rằng, kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa qua, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí với nhiều vụ án lớn đưa ra xét xử, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã góp phần quan trọng giáo dục, rèn luyện, cảnh tỉnh cán bộ, đảng viên. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) xác định, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, cần duy trì nghiêm các chế độ, nền nếp, nguyên tắc sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa”, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và có biện pháp bảo vệ người trung thực, dám đấu tranh với những vấn đề tiêu cực, sai trái. Ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo. Đề cao vai trò nêu gương của bí thư cấp ủy, người chủ trì cơ quan, đơn vị về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong công tác để cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo. Cùng với đó, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở tất cả các cấp, các ngành. Đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài, song toàn Đảng cần nêu cao quyết tâm chính trị, cũng như tổ chức thực hiện; có như vậy mới củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Bên cạnh việc điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng đã phát hiện, các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, tham mưu ban hành các quy định, cơ chế đủ mạnh để ngăn ngừa hành vi tham nhũng, cũng như quan hệ “lợi ích nhóm”, đặc quyền, đặc lợi, “tư duy nhiệm kỳ”; phát huy tốt vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng,… đối với nhiệm vụ này, cũng như công tác xây dựng Đảng.

      Ba làđẩy mạnh công tác quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống. Suy thoái về đạo đức, lối sống là nguồn gốc dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, toàn Đảng cần coi trọng xây dựng cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có sức đề kháng, tự bảo vệ, miễn dịch trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế. Đồng thời, có lề lối, tác phong công tác khoa học, gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Đối với từng cán bộ, đảng viên, trước hết là bí thư cấp ủy, cần nêu cao trách nhiệm trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch, đăng ký thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII). Đồng thời, cần chú trọng gắn chặt công tác giáo dục với công tác quản lý và tự quản lý của đảng viên, nhất là các mối quan hệ trong cuộc sống, sinh hoạt ở nơi cư trú, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện vi phạm; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, cục bộ, “lợi ích nhóm”, cơ hội, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều làm ít”, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

      Bốn làtăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Theo báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Đảng Trung ương (ngày 12-1-2018), năm 2017, các cấp ủy đã kiểm tra gần 60.000 tổ chức Đảng, hơn 230.000 đảng viên trong việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Qua đó, phát hiện hơn 700 tổ chức Đảng, gần 1.500 đảng viên có khuyết điểm, vi phạm; thi hành kỷ luật 22 tổ chức Đảng và 350 đảng viên. Kết quả đó đã từng bước “chỉ rõ” bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, góp phần tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, làm trong sạch, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Điều đó khẳng định tầm quan trọng, cũng như yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Để thực hiện tốt công tác này, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nắm vững, thực hiện tốt phương châm, phương pháp, nguyên tắc của công tác kiểm tra, giám sát; xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung cụ thể, sát với đặc điểm, nhiệm vụ từng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát phải tiến hành toàn diện cả về tư tưởng, chính trị, năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; nhất là chú trọng kiểm tra, giám sát về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, những đảng viên giữ cương vị cán bộ chủ trì ở các cơ quan, đơn vị. Trong quá trình thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, tổ chức, gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, bảo đảm kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, công bằng; nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên đồng thời với tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

      Nhận diện và có giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt và là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu trên là tiền đề vững chắc để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ mới.

Nhận diện một số thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên in-tơ-nét, mạng xã hội và giải pháp phòng, chống

 Cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, mấy năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng in-tơ-nét (interrnet), mạng xã hội để tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, chế độ ta, với những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc. Vì thế, nhận diện và đấu tranh làm thất bại mưu đồ đó của chúng là giải pháp cấp thiết hiện nay.

Những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của in-tơ-nét, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích không thể phủ nhận; từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin cho mọi người và đang thâm nhập vào cuộc sống của con người trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, in-tơ-nét, mạng xã hội trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, in-tơ-nét, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước nói chung, Quân đội ta nói riêng.

    Nhận biết được điều đó, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài,… triệt để lợi dụng in-tơ-nét và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài,… bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Qua đó, chúng thực hiện các biện pháp, thủ đoạn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá ta một cách quyết liệt, tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn, làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng rằng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, chế độ. Nổi lên một số thủ đoạn mới đáng chú ý là:

     Thực hiện Live stream trực tiếp để kêu gọi cộng đồng mạng can thiệp vào nội bộ hoặc tham gia bình luận trái chiều trên mạng xã hội. Đây là thủ đoạn dùng tài khoản Facebook với công cụ Live stream để phát videoclip trực tiếp về một sự việc do chúng dựng lên hoặc “lên sóng” trực tiếp trên mạng xã hội để tạo “diễn đàn” kêu gọi mọi người tham gia bình luận về một vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm. Thủ đoạn này được chúng xây dựng “kịch bản” khá công phu, nội dung chúng quay video phát trực tiếp thường là các vụ việc liên quan đến các cuộc biểu tình, khiếu kiện của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan công quyền. Chủ đề chúng chọn thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực, bức xúc của người dân (môi trường, dân sinh, giải phóng mặt bằng, quan hệ ứng xử của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, thực thi công vụ của các lực lượng chức năng, v.v.). Thời điểm chúng chọn để Live stream thường vào dịp có các sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước (các kỳ họp, ngày lễ, ngày kỷ niệm, nguyên thủ các nước đến thăm Việt Nam,…); qua đó, chúng kêu gọi sự can thiệp của quốc tế và các tổ chức phản động vào Việt Nam, hoặc chúng lồng ghép quan điểm cá nhân, bình luận xuyên tạc, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, kêu gọi sự “phụ họa” của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ. Thông qua đó, chúng “vẽ ra” trong mắt công chúng một Đảng cầm quyền bất ổn, một nhà nước bị chia rẽ cục bộ, một hình ảnh quân đội yếu đuối, công an tham nhũng, v.v.

     Cùng với đó, các thế lực thù địch còn sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng. Đây là thủ đoạn lợi dụng việc báo chí chính thống trong nước khi đưa tin đều phải qua quá trình tiếp cận thực tế, kiểm định nguồn tin, biên tập, thông qua mới cho đăng tin, bài. Thậm chí, để bảo đảm tính chính xác của thông tin và tính toán lợi ích của việc đưa tin, một số vấn đề cụ thể nào đó, có thể bị chậm trễ khi đưa tin. Lợi dụng “khoảng trống thông tin” này, chúng phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách” về vấn đề dư luận đang quan tâm, nhất là vấn đề liên quan đến nội bộ Đảng, Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực dưới các dạng như: thông tin sự việc, đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề để bạn đọc suy ngẫm,… (Ai đứng đằng sau “Vũ Nhôm”, “Út Trọc”? Sau Đinh La Thăng là ai vào tù? Ai xếp hàng sau tướng Nguyễn Thanh Hóa,…), với những thông tin trộn lẫn thật giả, kích thích tính hiếu kỳ, tò mò của cộng đồng mạng muốn vào các trang Facebook, Blog và các tờ báo điện tử phản động, gây tâm lý hoang mang, bán tín, bán nghi, v.v.

     Làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá Quân đội là thủ đoạn được chúng tiến hành khá “bài bản”. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn videoclip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, cán bộ được cho là “hành hung chiến sĩ”, “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, các vấn đề liên quan đến dân chủ trong Quân đội, quan hệ quân dân,… do chúng tạo dựng nên hoặc các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng chúng đưa ra “làm mới”; hoặc những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan chức năng nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, bình luận một chiều. Thời điểm tán phát để “làm mới” hoặc bịa đặt thường là trước mùa tuyển quân, giao nhận quân, quá trình huấn luyện chiến sĩ mới, trước các sự kiện chính trị của đất nước, Quân đội, v.v. Mục đích của việc tán phát các thông tin, hình ảnh, đoạn clip nêu trên không thuần túy chỉ là sự phản ánh một vụ việc, một con người cụ thể, mà đằng sau đó là âm mưu và sự toan tính hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng muốn đánh vào tâm lý lo lắng, sợ hãi trong nhân dân và thanh niên không muốn nhập ngũ vì sợ vào quân đội sẽ bị “đánh đập tàn bạo”, sẻ trở thành những “quân oan”, hoặc tâm lý chấp nhận “ma cũ bắt nạt ma mới” trong chiến sĩ; qua đó, gây dư luận trái chiều trong xã hội, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, làm giảm sức mạnh chiến đấu, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Quân đội. Từ các thông tin, hình ảnh, đoạn clip bị tán phát, sẽ gây nghi ngờ, làm mất đi hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm niềm tin của một số cán bộ và các tầng lớp nhân dân về môi trường quân đội, cuối cùng là thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội.

      Để ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực của những thủ đoạn trên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, Quân đội, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

     Một làtăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch. Nội dung cần tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về nền tảng tư tưởng, lý luận, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm cán bộ, chiến sĩ, mối quan hệ đoàn kết quân dân. Đồng thời, phân tích luận giải làm rõ thực chất đằng sau luận điệu của các thế lực thù địch; đâu là thủ đoạn mới, tính chất nguy hại của nó là gì? để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ cần tiến hành các biện pháp gì, v.v. Qua đó, tạo sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” đối với các tổ chức và cá nhân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch; trang bị cho họ những kỹ năng nhận biết và các giải pháp cơ bản để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

     Hai làphát huy vai trò của các cơ quan chức năng cung cấp thông tin có định hướng rõ ràng. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh việc bị lợi dụng, tạo cớ, xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải “chủ động”, “tiến công” trong định hướng thông tin. Để thực hiện tốt việc này, các cơ quan tuyên giáo, thông tin truyền thông từ Trung ương đến cơ sở cần phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí trong cung cấp, định hướng thông tin, bảo đảm thông tin một nguồn, một chiều, nhanh, chính xác, kịp thời; khắc phục “khoảng trống” hoặc sự chậm trễ trong cung cấp thông tin,… làm sao để thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời đến với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, luôn giữ vai trò chủ đạo, “dòng chủ lưu” trong định hướng dư luận xã hội.

    Ba làphát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây là biện pháp quan trọng nhằm khơi dậy tiềm năng và sức mạnh tổng lực của toàn xã hội trong tổ chức đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Để phát huy hiệu quả, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ, công cụ, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.

    Bốn làkết hợp chặt chẽ các nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức đấu tranh phù hợp với thực tiễn tình hình. Đây là biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các loại hình đấu tranh nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. Để làm được điều đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh công khai trên báo chí với đấu tranh trực diện trên in-tơ-nét, mạng xã hội; đấu tranh trên báo chí, mạng xã hội với đấu tranh trên thực địa; giữa đấu tranh ngăn chặn sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài với giữ vững sự ổn định từ bên trong nội bộ; giữa đấu tranh chính trị với sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa một số trang mạng, blog, Facebook phản động,… nhằm tạo ra một thế trận vững chắc trong tổ chức đấu tranh trên không gian mạng hiện nay.

     Mỗi nhiệm vụ, giải pháp nêu trên có vị trí, vai trò, nội dung và yêu cầu thực hiện khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Do vậy, trong chỉ đạo tổ chức đấu tranh, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ tham mưu giúp việc cần có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh giá tình hình, tổ chức đấu tranh hiệu quả nhất, kịp thời nhận diện và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, giữ vững ổn định đời sống xã hội.

Cảnh giác và thận trọng với các luận điệu xuyên tạc sai trái trên mạng xã hội

 1- In-tơ-nét và cách thức chống phá trên mạng In-tơ-nét thời gian qua

          Trước đây, khi ta cần gửi "lá thư" đoạn đường 40-50 km phải mất vài ngày qua đường bưu điện thì ngày nay gửi cả nghìn trang văn bản với file đính kèm ngay trong vòng vài giây cách xa hàng nghìn km người nhận đọc được ngay nhờ gửi mail qua mạng thông tin toàn cầu (Internet), do đặc thù của Internet là tốc độ truyền tải thông tin nhanh nhạy, thông tin gần như tức thì, việc lập một địa chỉ mail, một Blog cá nhân, một địa chỉ Facebook, một nick zalo...chỉ mất vài phút và gần như không tốn bất kỳ chi phí gì, chưa kể thông tin đăng ký tính “tự do” tương đối của những chủ thể thông tin... nên những quan điểm "chẳng biết đúng sai" "không rõ thật hay giả" "chẳng biết từ đâu"...trên mạng internet có khả năng ảnh hưởng nhanh, sâu và rộng đến nhiều đối tượng. Thực tế cho thấy thời gian qua không ít thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, gây mất phương hướng, sa sút niềm tin, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước...

          Mạng internet ra đời là một bước đột phá về công nghệ phục vụ con người. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ, internet trở thành công cụ không thể thiếu cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Việc truyền tải, chia sẻ thông tin trên internet về mặt khách quan nó đã hàm chứa tính tiện ích hơn gấp trăm lần các phương tiện truyền thông trước nó. Nó tác động đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Càng ngày phạm vi bao phủ của mạng Internet càng lớn, dung lượng  chứa đựng và tốc độ kết nối, lưu chuyển dữ liệu càng cao, và càng có nhiều dịch vụ, kết nối nhiều người trên toàn thế giới, bất kể địa lý, không gian và thời gian.

          Vấn đề là ở chỗ, những âm mưu, thủ đoạn xảo trá, những điều vô nghĩa, phi lý được tung lên mạng toàn cầu lại có "khả năng" lung lạc không ít người truy cập. Không phải ai và lúc nào cũng đủ tỉnh táo và có thể phân biệt được thật - giả, đúng - sai, trong khối lượng thông tin khổng lồ và dày đặc được tung lên mạng toàn cầu.

          Cho nên, internet trở thành phương tiện mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội thoái hóa biến chất, đã sử dụng hàng trăm trang tin điện tử để truyền bá quan điểm sai trái, chống chế độ XHCN, chống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và thường bằng các cách thức sau:

          Cách thức phổ biến nhất là các trang tin này được thiết kế nhiều hình thức "bắt mắt" với nhiều thông tin hấp dẫn, có tác dụng thu hút, lôi kéo người dân trong nước truy nhập vào, để rồi sau đó cài vào đó các thông tin phản động, chống đối. Loại hình nói trên đều có đặc điểm chung là sử dụng nhiều phương thức, hình thức dịch vụ tin tức, trao đổi khác nhau để lôi kéo định hướng người sử dụng Internet đến với các nội dung cần tuyên truyền. Đôi khi các thông tin đánh lạc hướng là những thông tin rất có giá trị để nhằm làm người đọc mất cảnh giác khi đến với các nội dung phản động, họ đã "trộn lẫn thật giả". Các nội dung thường bị bóp méo, xuyên tạc dẫn đến làm sai lệch cách nhìn nhận của cộng đồng mạng về tình hình trong nước.

            Cách thức phổ biến thứ hai được sử dụng là tường thuật trực tuyến (livetreams) hoặc thông qua các dịch vụ hội thoại (chat), trao đổi trực tuyến, diễn đàn (forum). Hội thoại trực tuyến bao gồm cả hội thoại dùng chữ (text), dùng lời (voice), dùng hình ảnh (video), ... Hội thoại trực tuyến là dịch vụ cho phép hai hay nhiều người có thể trao đổi trực tuyến với nhau tức thời thông qua Internet. Có thể nói dịch vụ này đã giúp mọi người liên kết được với nhau một cách thuận tiện, vượt qua không gian, thời gian, và quan trọng nhất là rất rẻ tiền, nếu không nói là hoàn toàn miễn phí.

             Cách thức phổ biến thứ ba là sử dụng thư điện tử (email). Hằng ngày có hàng tỷ email được truyền đi qua Internet. Thư điện tử đã trở thành một dạng dịch vụ không thể thiếu đối với người sử dụng Internet. Có rất nhiều giao dịch, kể cả giao dịch thương mại đã sử dụng email như phương pháp truyền thông hiệu quả và tin cậy. Do đó thông qua email để tiếp cận đối tượng tuyên truyền là một hình thức rất hiệu quả trong thời đại Internet. Hiện tại việc lạm dụng email để quảng cáo, tuyên truyền, thậm chí lừa đảo đã trở thành một vấn nạn toàn cầu. Trong trào lưu đó, các phần tử phản động đã nhanh chóng áp dụng các phương pháp tiếp cận bằng email vào hoạt động của mình.

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội, những người "đào ngũ tư tưởng" đang tăng cường sử dụng mạng In-tơ-nét với hàng trăm trang mạng xã hội và blog, với nội dung xấu độc, với liều lượng, tần suất ngày càng tăng để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tập trung vào một số vấn đề chính như:

         Thứ nhất, qua các trang mạng xã hội và blog xấu độc, tung ra những thông tin và quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Kêu gọi thay đổi chế độ chính trị, đòi đa nguyên, đa đảng; kêu gọi biểu tình gây áp lực đối với Đảng, Nhà nước; âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phi chính trị hóa quân đội…

             Thứ hai, họ phát tán trên mạng In-tơ-nét những tin, bài, tài liệu có nội dung sai trái, thù địch và khuyến khích nhiều người lên mạng “trao đổi”, “thu nhận” thông tin; dùng các trang mạng xã hội và blog làm “nóng” các vấn đề trong nước để tuyên truyền chống phá ta,  kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xuyên tạc, tung tin thất thiệt gây chia rẽ nội bộ, kêu gọi biểu tình, phản đối ban hành Luật Đặc khu...

            Thứ ba, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” “đất đai”... để vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép về chính trị và kinh tế, gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với các điều kiện về hợp tác kinh tế; tìm cách tác động, kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế gia tăng sức ép với Việt Nam…nhằm gây chú ý của dư luận, tạo áp lực với Đảng, Nhà nước ta; nhào nặn, lan truyền những thông tin thất thiệt gây tâm lý bi quan, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, thực hiện mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từng bước hướng lái Việt Nam theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

            Thứ tư, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, xã hội, những vấn đề “nóng”, “bức xúc” trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo, lấy hiện tượng quy thành bản chất nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

           Thứ năm, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, định hướng thông tin, tác nghiệp ở một số cơ quan báo chí để xảy ra tình trạng một số bài viết phản ánh về các vụ việc phức tạp, nhạy cảm sai sự thật, thiếu khách quan; cá biệt một số tờ báo có những bài viết “giật tít” nhằm câu khách; tần suất, số lượng bài viết về các mặt trái, tiêu cực xã hội quá nhiều, nhất là trên một số báo điện tử, để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá ta.

             Tình hình đó  đặt ra nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết đối với cách mạng nước ta cần  phải nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống “DBHB”, trên mạng internet.

          2- Một số giải pháp cần quyết liệt thực hiện để ngăn ngừa, vô hiệu hóa sự phá hoại của các thế lực thù địch trên mạng In-tơ-nét

           Thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; chúng triệt để sử dụng công nghệ thông tin, nhất là các mạng xã hội, blog xấu độc trên mạng In-tơ-nét, tìm mọi cách móc nối giữa các thế lực thù địch bên ngoài với các phần tử cơ hội chính trị trong nước để nhào nặn thông tin, hình ảnh, tung những bài viết có quan điểm sai trái trên mạng In-tơ-nét, thông qua các trang mạng xã hội và blog xấu độc. Để ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu và thủ đoạn phá hoại đó của các thế lực thù địch, thì các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị thực hiện một số giải pháp sau:

         Một là, cấp ủy đảng các địa phương, cơ quan, đơn vị phải thường xuyên nắm chắc âm mưu và thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị; kịp thời có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phản bác; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, góp phần phòng, chống tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

              Hai là, các tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các đoàn thể chính trị-xã hội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị trong việc thu thập, tán phát thông tin và luận điệu sai trái chống phá ta trên các trang mạng xã hội, blog xấu độc, phần lớn có máy chủ đặt ở nước ngoài. Nâng cao cảnh giác không tin theo, không truy cập và tán phát những thông tin xấu độc đó; chủ động đấu tranh ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái không để các thế lực thù địch lợi dụng mạng In-tơ-nét chống phá ta; đồng thời tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, mở rộng việc cung cấp thông tin chính thức, kiến thức pháp luật để nâng cao trình độ nhận thức, tạo sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân chống lại, vô hiệu hóa những thông tin và luận điệu sai trái, thù địch.

             Ba là, các cơ quan thông tin đại chúng duy trì thường xuyên chuyên trang, chuyên mục đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác các thông tin và luận điệu sai trái, thù địch; siết chặt quy trình làm báo không để xảy ra sai sót về chính trị, nhất là những tin, bài liên quan những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, các sự kiện chính trị của đất nước, của các địa phương, đơn vị mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để thổi phồng, vu cáo chống phá ta.

             Bốn là, ban tuyên giáo các cấp, các ngành phải chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên nắm bắt tình hình; kịp thời phát hiện, đề xuất tham mưu với cấp ủy các giải pháp ngăn chặn ảnh hưởng, tác hại của những thông tin xấu độc, luận điệu sai trái do các thế lực thù địch tung lên mạng In-tơ-nét nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

Xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội - một thủ đoạn thường thấy của các thế lực thù địch

 Xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, tiến tới “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Thời gian gần đây, thủ đoạn này càng được tiến hành ráo riết hơn, vì vậy, cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Bất cứ quân đội nào cũng đều mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị đã sinh ra nó. Không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập. V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản”1. Quán triệt, vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn xây dựng Quân đội ở Việt Nam, Đảng ta đã tổ chức xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản từ không đến có, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Các đội tự vệ công nông, đội du kích Bắc Sơn, đội du kích Ba Tơ, đội Cứu quốc quân,… là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, “người trước, súng sau”. Ngày 22-12-1964, kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Người khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”2. Đó là luận điểm khái quát nhất về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

           Thế nhưng, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, hòng “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Chúng coi đây là một trong ba trọng tâm chống Đảng, Nhà nước và hướng lái, chuyển hóa cách mạng Việt Nam. Kế hoạch của chúng là: lấy phá vỡ nền tảng chính trị là then chốt; chống phá về kinh tế là biện pháp cơ bản, thường xuyên, lâu dài; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng yếu. Thủ đoạn đó không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm, nhằm xóa nhòa bản chất giai cấp, chức năng chính trị, xã hội của lực lượng vũ trang cách mạng; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và bị vô hiệu hóa. Để đạt được mục tiêu đề ra, chúng đã và đang sử dụng mọi biện pháp hòng làm thay đổi bản chất chính trị của Quân đội và sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, v.v. Chúng lập luận trơ trẽn rằng, việc tổ chức ra quân đội chỉ để bảo vệ “lợi ích dân tộc”, “lợi ích quốc gia”; rằng, quân đội phải “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”. Chúng còn viện dẫn những hiện tượng cá biệt, đơn lẻ để đánh giá, xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, v.v. Gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền, xuyên tạc về việc Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế xây dựng đất nước. Thâm độc hơn, chúng tỏ vẻ thân thiện góp ý rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam không nên thực hiện sản xuất, lao động”, mà chỉ thuần túy làm nhiệm vụ quốc phòng; “Quân đội không làm kinh tế là sự đột phá về tư duy”; mừng vì “Quân đội sẽ không làm kinh tế”; hay “đáng lẽ Quân đội phải ngừng làm kinh tế lâu rồi”, vì làm kinh tế thì “lợi ít, hại nhiều”, v.v. Những luận điệu thâm độc không có gì khác là nhằm xuyên tạc bản chất, truyền thống, chức năng của Quân đội, tách Quân đội khỏi sự gắn bó máu thịt với nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời hạ thấp uy tín của Quân đội trong đời sống xã hội, v.v.

           Cần thấy rằng, quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù thời bình hay thời chiến, Quân đội luôn mang bản chất cách mạng, là chỗ dựa vững chắc cho Đảng, Nhà nước trong bảo vệ chế độ và nền độc lập dân tộc; gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách, đánh đuổi thực dân, đế quốc và là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là cơ sở thực tiễn khẳng định chức năng, bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lý luận và thực tiễn đã cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam có ba chức năng cơ bản. Cùng với chức năng “đội quân chiến đấu” còn là “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Đó là nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân giao cho Quân đội. Hiểu đầy đủ và nắm vững chức năng của Quân đội phải là như vậy. Trong vấn đề này, các thế lực thù địch đã rất thâm độc khi chỉ đề cập tới chức năng “đội quân chiến đấu” và coi đó là duy nhất, trong khi lờ đi hai chức năng cơ bản còn lại, thậm chí còn xuyên tạc, phê phán việc Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Thật trơ trẽn, lố bịch!

           Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, trong điều kiện phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thù trong, giặc ngoài, V.I. Lê-nin vẫn không coi nhẹ nhiệm vụ phát triển kinh tế, mà đặt kinh tế và quốc phòng trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại. Theo quan điểm đó, mối quan hệ giữa tổ chức quân sự với kinh tế và văn hóa của nước ấy chưa bao giờ bị lơi lỏng. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được thể hiện rõ trong chính sách “ngụ binh ư nông” của các thời Lý, Trần, Lê. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “…quyết tâm xây dựng Quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi”3. Nhiệm vụ lao động, sản xuất của Quân đội được thể hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng qua các kỳ đại hội, mới nhất là văn kiện Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X: “... kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng - an ninh...” và “quốc phòng - an ninh với kinh tế”, v.v. Thực tiễn cho thấy, những năm sau chiến tranh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động, sản xuất”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

           Khi xem xét những luận điểm đề cập bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, với cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, chúng ta không “vơ đũa cả nắm”, không đánh đồng người tốt, kẻ xấu, nhưng cần nhận diện, phân biệt rõ quan điểm nào là sai trái, quan điểm nào là thù địch để có cách ứng xử phù hợp. Đối với những người do thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội thì phải tuyên truyền, thuyết phục để họ nhận thức đúng vấn đề, không có những hành động vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh Quân đội. Đối với những kẻ thù địch, cố tình xuyên tạc, chống phá Quân đội thì phải kiên quyết đấu tranh, nghiêm trị theo pháp luật. Đó là cách làm thiết thực nhất, hữu hiệu nhất trong bối cảnh các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang sử dụng mọi “mưu ma, chước quỷ” chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch

 Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Bởi vậy, việc nắm chắc những thủ đoạn đó để có đối sách xử lý đúng đắn, kịp thời và hiệu quả là vấn đề hệ trọng, cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Với mục tiêu nhất quán chống phá cách mạng Việt Nam đến cùng, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc, nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế và Việt Nam, họ đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và vì thế càng nguy hiểm hơn.       

       Thứ nhấtthực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, nhưng thông qua mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị. Sự chuyển hướng này nhằm thực hiện kịch bản “dân chủ” ở nước ta; tác động vào chính sách ngoại giao của Việt Nam theo ý đồ của họ. Thông qua ngoại giao để tiếp cận hỗ trợ những phần tử “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây; tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam, cản trở các đối tác đang và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam. Đồng thời, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động mâu thuẫn quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

       Thứ haităng cường hoạt động xâm nhập, móc nối nhằm đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, họ ra sức tranh thủ lợi dụng những phần tử thoái hóa, bất mãn, định kiến với chế độ ở trong nước, ngấm ngầm nhen nhóm, tổ chức xây dựng lực lượng, tổ chức chính trị; đồng thời coi đó là lực lượng nòng cốt, có tính quyết định cho việc chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Một mặt, họ sử dụng những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc, như: mua chuộc, lôi kéo, kích động tâm lý,… nhằm làm như trong nội bộ ta có phe này, phái nọ để từng bước phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức Đảng, Nhà nước và trong xã hội. Mặt khác, lợi dụng những kẻ bất mãn, thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, chống đối chính quyền và những bức xúc trong đời sống xã hội để tuyên truyền xuyên tạc hoặc thổi phồng những hạn chế, tiêu cực nhằm kích động nhân dân tụ tập, biểu tình, gây rối, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Họ âm mưu chia rẽ Đảng, chính quyền các cấp với lực lượng vũ trang và nhân dân; hỗ trợ, thúc đẩy các lực lượng đối lập hoạt động chống phá, hòng làm thay đổi nền tảng tư tưởng, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Họ thực hiện mưu đồ này một cách thường xuyên, nhưng tập trung vào thời điểm tổ chức đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước. Thủ đoạn thường dùng của họ là lôi kéo, mua chuộc những cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỷ luật hoặc có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để “góp ý, hiến kế với Đảng”, “thư ngỏ”, “thư khẩn”, “đối thoại”, “sáng kiến pháp luật”, “tham gia đấu tranh chống tham nhũng”,… từ đó thổi phồng khuyết điểm, những khó khăn, thiếu thốn, thiệt thòi về lợi ích so với đội ngũ cán bộ đương chức để kích động, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Ngoài ta, họ còn dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi hòng tạo ra các thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam bàng quan, thờ ơ với những vấn đề thời cuộc; lãnh cảm chính trị, không quan tâm đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng, v.v.

       Thứ bađẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là mưu đồ “dân chủ hóa” truyền thông, tức là đưa “dân chủ” vào truyền thông của Nhà nước, thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của hệ thống truyền thông phi chính thống. Vì lĩnh vực này quan trọng, tác động lớn đến đời sống xã hội, lại khó kiểm soát, kiểm duyệt đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nên là một trong những mục tiêu trọng điểm để họ triệt để lợi dụng trong quá trình chống phá cách mạng nước ta. Để đạt được mục đích, họ đã sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại với một khối lượng lớn các đài phát thanh, loại hình sách, báo chí và các phương tiện thông tin tuyên truyền khác của phương Tây, của bọn phản động người Việt lưu vong để đưa tin, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Triệt để sử dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận và kích động đòi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, đòi lập báo chí tư nhân; lái báo chí, truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, hoạt động theo ý đồ của các thế lực thù địch. Tận dụng tối đa tiềm lực và sức mạnh của báo chí, truyền thông bên ngoài, mạng xã hội để “lấn át” báo chí, truyền thông trong nước; tiếp cận, mời chào, lôi kéo giới báo chí truyền thông Việt Nam, tác động “chuyển hóa” họ xa dần tôn chỉ, mục đích và định hướng báo chí của Đảng, chạy theo xu hướng thương mại; tự do, cổ vũ, khuyến khích việc lập các trang mạng, facebook, blog,… tràn lan, khó kiểm soát. Lợi dụng ưu thế của in-tơ-nét để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Điều đáng quan ngại, phần lớn số người sử dụng in-tơ-nét ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, nên những thông tin xấu độc dễ làm cho lớp trẻ nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng; bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của dân tộc và nhân dân, tiếp tay cho các thế lực thù địch, chống Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

       Họ đẩy mạnh việc làm giả các website, blog mạo danh các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng,… để lừa bịp dư luận, tạo độ tin cậy cho người đọc và thu hút người truy cập. Sau một thời gian, khi đã thu hút một số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, làm cho người đọc lúng túng trong việc tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Đặc biệt, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội, để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề nhạy cảm.

       Thứ tưráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo để “chuyển hóa” Việt Nam. Đây là một “ngón đòn” thâm độc được họ tập trung thực hiện. Họ xác định giáo dục - đào tạo là một trong những mũi đột phá, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lái nền giáo dục Việt Nam đi theo quỹ đạo của phương Tây. Để thực hiện mưu đồ này, họ thực hiện chính sách hai mặt: (1). Mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận thành quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất của tình trạng này là do sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo của Đảng, sự yếu kém trong quản lý của Nhà nước ta. Đây là cái cớ để họ kêu gọi phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục Việt Nam bằng con đường mới “sáng sủa Tây học”. (2). Tiếp tục ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Họ tăng cường sử dụng các thủ đoạn “câu khách” như: tổ chức các hội thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học danh tiếng,... nhằm thu hút sinh viên Việt Nam du học tạo ra một “thế hệ cán bộ thân phương Tây”, để sau này nắm dần các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế - xã hội và thậm chí trong hệ thống chính trị. Nguy hiểm hơn, họ còn đòi loại bỏ các môn lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi chương trình đào tạo; giảng viên, sinh viên được tự do về tư tưởng, không bị chi phối hoặc phụ thuộc vào bất cứ hệ tư tưởng nào, qua đó phục vụ cho mưu đồ chính trị của họ.

       Thứ nămtiếp tục gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho lực lượng vũ trang ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu, bị vô hiệu hóa. Trước đây họ đã sử dụng, hiện nay và thời gian tới thủ đoạn này càng được triệt để sử dụng với tần xuất và mưu mô ngày càng quyết liệt hơn, hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam. Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của lực lượng vũ trang. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang; đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Công an nhân dân, v.v.

       Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Vì một Việt Nam hùng cường thịnh vượng, người dân ấm no hạnh phúc hơn

 

Đất nước đã bước vào năm 2024, đánh dấu vượt qua nửa chặng đường của nhiệm kỳ này với những bước tiến đáng ghi nhận. 1000 ngày đáng nhớ với tâm thế luôn hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Chính phủ, các cấp, các ngành, vì một Việt Nam hùng cường thịnh vượng, người dân ấm no hạnh phúc hơn.

Vượt khó, trụ vững, xoay chuyển tình thế… là những cụm từ được nhắc đến nhiều vào dịp này khi các cấp, các ngành cùng nhìn lại 1000 ngày hoạt động đã qua của Chính phủ nhiệm kỳ này.

Để có được bức tranh sáng sủa của tình hình đất nước, để có được những thành tựu về kinh tế xã hội, chúng ta phải vượt qua muôn trùng sóng gió. Ba năm tưởng như dài bằng cả thập kỷ khi năm nào cũng có những diễn biến bất thường, khó lường nối nhau, như để thử thách bản lĩnh của những người chèo lái con thuyền kinh tế đất nước.

Có thể nói, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đất nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn, có những khó khăn chưa có tiền lệ. Đại dịch COVID-19 kéo dài gây hậu quả nặng nề, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine diễn biến phức tạp; cuộc xung đột đẫm máu giữa Israel – Hamas ngày một lan rộng sang các nước láng giềng; hầu hết các chuỗi cung ứng bị đứt gãy; lạm phát tăng cao, các nước thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất dẫn đến suy giảm tăng trưởng và gia tăng rủi ro trên các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế... tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu.

Với độ mở của nền kinh tế trên 200%, kinh tế Việt Nam lẽ ra bị ảnh hưởng rất lớn, biến động gấp đôi kinh tế thế giới. Thế nhưng, Việt Nam vẫn nổi lên là một điểm sáng về tốc độ tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu.

Kỳ tích không đến một cách tự nhiên. Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, thách thức nhưng nền kinh tế của chúng ta có sự hồi phục, tăng trưởng như vậy là có sự chỉ đạo kịp thời của Đảng và điều hành linh hoạt, sáng suốt của Chính phủ, cũng như quyết tâm đồng lòng vượt khó của doanh nghiệp và nhân dân.

Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị Trung ương 7), Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ trong nửa đầu nhiệm kỳ 2021-2026, đất nước ta đã vững vàng vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhìn nhận, đóng góp vào kết quả này có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có sự quản lý, điều hành nhạy bén, quyết liệt, có hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền các cấp.

Nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá cao nỗ lực, kết quả mà đất nước ta đạt được trong hơn nửa chặng đường của nhiệm kỳ khóa XIII, cũng như bản lĩnh vượt sóng gió của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Nhìn nhận 1.000 ngày hoạt động vừa qua của Chính phủ, PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, tâm đắc với 2 từ: Trụ vững và xoay chuyển tình thế. Nền kinh tế "trụ vững" trong đại dịch COVID-19, vượt qua tình trạng đứt gẫy chuỗi cung ứng, đồng thời, tạo lập cơ sở để chuyển nhịp, bước vào quỹ đạo phát triển mới - công nghệ cao, hội nhập quốc tế tầm cao một cách tự tin.

Ông cũng đánh giá cao nguyên tắc "tình thế bất thường, giải pháp phải khác thường" mà Chính phủ vận dụng. "Không có vấn đề nào không có cách giải quyết" là lời Thủ tướng nhiều lần khẳng định.

Cách điều hành vĩ mô của Chính phủ thời kỳ sóng gió vừa qua đã thể hiện phần nào năng lực và bản lĩnh của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Giữ nhịp tăng trưởng, bảo đảm ổn định vĩ mô cho nền kinh tế mở trong điều kiện thế giới đứt chuỗi cung ứng, lạm phát cao là một thành tích thật sự có ý nghĩa. Đó là kết quả của cách quản trị - điều hành linh hoạt, theo tinh thần "ứng vạn biến" tích cực.

Dưới lăng kính quốc tế, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam ông Andrea Coppola nhận định suy thoái toàn cầu là cú sốc lớn đối với nền kinh tế mở của Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng mà nhiều quốc gia trên thế giới kỳ vọng. Thực tế đã chứng minh, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nằm trong TOP những nước hàng đầu khu vực và thế giới.

Có thể nói, với các bước đi rất cụ thể, sâu sát, tự tin, kiên trì, không đao to búa lớn, Chính phủ nhiệm kỳ này đã bắt tay thực hiện công cuộc thúc đẩy phát triển kinh tế theo cách "không trông chờ ỷ lại, tự lực tự cường, đi lên từ bàn tay, khối óc, khung trời, cửa biển của mình, "biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể", tạo chuyển biến từ việc nhỏ để làm nên sức bật đổi mới mạnh mẽ.

Từ những cuộc họp bất kể ngày đêm bàn tới bàn lui tìm lời giải bài toán phát triển, Thủ tướng muốn chắt chiu từng phần trăm tăng trưởng cho nền kinh tế, với tinh thần "suy nghĩ phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn. Suy nghĩ xong thì bắt tay hành động, làm tốt hơn, nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, không phô trương, hình thức".

Đến thời điểm này, chúng ta có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cùng với các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương đã đi vào cuộc sống như một lẽ tự nhiên, bởi tính đúng đắn, bởi mục tiêu được xác định phù hợp với điều kiện thực tế, với "ý Đảng hợp với lòng dân", và cũng bởi sự góp sức của Chính phủ, của các cấp, các ngành.

Con đường thịnh vượng cho đất nước, cho sự sung túc, khá giả hơn cho người dân, đã đòi hỏi Chính phủ, cả hệ thống chính trị phải ngày đêm lao tâm khổ tứ, vào cuộc nhanh chóng, chủ động, quyết liệt trong đương đầu với sóng gió, không thể để cơ hội phát triển vuột mất, toàn tâm toàn ý, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Bước sang năm mới 2024, hơn lúc nào hết chúng ta cần phát huy những kết quả đã đạt được, khẩn trương hành động với tư duy đột phá, nắm bắt thời cơ, làm mới các động lực cũ, kiến tạo các động lực mới, khắc phục các yếu kém nội tại, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước tiếp tục vượt qua những hải trình sóng gió vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, người dân ấm no hạnh phúc hơn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

BỨC TRANH TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC VÀ KHÁT VỌNG DÂN TỘC QUA TẦM NHÌN 2045

 Trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ nhân dịp Năm mới, Tiến sĩ Trần Du Lịch cho rằng, định hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra khi đất nước kỷ niệm 100 năm độc lập giúp cho người dân thấy được bức tranh tương lai đất nước khi đó, đồng thời thể hiện khát vọng của dân tộc.

Theo Tiến sĩ Trần Du Lịch, nhìn lại nhiệm kỳ 5 năm vừa qua, cũng như nhìn lại chiến lược 10 năm (2011-2020), phải khẳng định đất nước ta có sự phát triển vượt bậc.

Cụ thể, trong giai đoạn 5 năm đầu (2011-2015), chúng ta vượt qua một thời kỳ bất ổn vĩ mô khá nặng. Còn 5 năm sau, chúng ta củng cố các nhân tố ổn định vĩ mô tương đối bền vững, nổi bật là ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, hệ thống tín dụng, kiểm soát nợ công.

Về hội nhập kinh tế, Việt Nam rất thành công trong 5 năm trở lại đây, thể hiện qua 3 yếu tố quan trọng. Đầu tiên phải nói đến là xuất khẩu tăng liên tục, từ 162 tỷ USD năm 2015 lên hơn 282 tỷ USD vào năm 2020. Đây là điểm sáng của nền kinh tế giai đoạn 2015-2020, cho thấy năng lực mạnh mẽ của sản xuất trong nước. Tiếp đến là thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam trở thành điểm đến quan trọng, hấp dẫn. Và thứ ba là mở rộng quan hệ tín dụng, gồm cả các nguồn ODA thương mại…

Với kinh tế trong nước, trong 10 năm (2011-2020), nhất là 5 năm trở lại đây, cơ cấu kinh tế, đổi mới, cải cách thể chế có sự chuyển biến hết sức tích cực. Đó là tăng năng suất lao động, bình quân 5-6% mỗi năm. Năng lực cạnh trạnh quốc gia tăng mạnh. Hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, mang tính thị trường, tính hội nhập cao. Mặc dù vẫn còn nhiều mặt bất cập nhưng tổng thể là một hệ thống pháp luật cho phép thị trường có thể vận hành trôi chảy, TS. Trần Du Lịch phân tích.

Bên cạnh đó, TS. Trần Du Lịch cho rằng, phải kể đến thành quả xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Việc giảm số lượng những điều kiện kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh, chú ý năng lực cạnh tranh quốc gia, môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh. Năm 2020, Việt Nam đã điều hành rất thành công trên vai trò nước chủ nhà ASEAN.

Từ nội lực, cũng như quan hệ đối ngoại, chứng minh vị thế của Việt Nam đã được nâng lên mạnh mẽ. Vị thế cả về kinh tế, chính trị, uy tín quốc gia, đặc biệt là thành công trong chống COVID-19.

Nói về các mục tiêu cụ thể đến 2025, 2030 và 2045 mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định, Tiến sĩ Trần Du Lịch cho rằng, Đại hội đã đặt ra tầm nhìn dài hạn, với những cột mốc quan trọng như 2025 chúng ta thoát khỏi nước thu nhập trung bình thấp; 2030 là nước có thu nhập trung bình cao; và năm 2045, kỷ niệm 100 năm độc lập, nước ta là nước phát triển, có thu nhập cao.
“Với định hướng như vậy, người dân thấy được bức tranh tương lai là gì, đất nước sẽ như thế nào và tôi cho rằng yếu tố này rất quan trọng”, TS. Trần Du Lịch nói. “Dĩ nhiên đây mới chỉ là phác thảo cái ta muốn để phấn đấu, còn cần có những tiêu chí phát triển kinh tế, phát triển con người đi theo. Và quan trọng là làm như thế nào. Nhưng ít ra, người dân thấy rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng ta có khát vọng rõ ràng. Mục tiêu Văn kiện Đại hội XIII đưa ra chính là khát vọng của dân tộc”.

Đáng lưu ý, tầm nhìn dài hạn đã lồng ghép được với những nội dung mới trong 3 đột phá chiến lược. Về thể chế, không còn chung chung, mà tương đối rõ ràng; về nguồn nhân lực, yêu cầu gắn với cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ 4, với công nghệ số và xác định rõ nhân lực để phục vụ mục tiêu này; hay về đầu tư kết cấu hạ tầng, đã chỉ rõ bao gồm cả hạ tầng cứng và hạ tầng cho công nghệ số… Như vậy, ở đây, tầm nhìn mang tính đồng bộ, khả thi và gắn với thời đại.

Ngoài ra, tư duy phát triển bao trùm, quan điểm không để lại ai phía sau được thể hiện khá rõ trong tầm nhìn dài hạn của đất nước. Hệ thống các nhóm giải pháp đều lồng ghép phát triển đồng bộ gồm kinh tế, xã hội, môi trường và nhất là chính sách để làm sao người dân tham gia vào quá trình này. Ví dụ như quan điểm về phát triển chuỗi, người dân tham gia vào quá trình này họ sẽ được hưởng lợi lợi ích.

Theo Tiến sĩ Trần Du Lịch, trong giai đoạn tới đây, chúng ta đã chỉ ra được yếu tố thời đại. Thời đại hiện nay, trong khoảng một thập niên tới là thời đại của công nghệ số. “Điều đáng mừng là Chính phủ đã sớm ban hành chương trình công nghệ số quốc gia gồm chính phủ số, xã hội số và doanh nghiệp số, thực hiện trong 5 năm đầu. Đây là các bước đi cực kỳ quan trọng và chúng ta phải tận dụng được. Trong cơ hội có thách thức. Công nghệ số là cơ hội nhưng không tận dụng được nó sẽ là thách thức”, TS. Trần Du Lịch nhấn mạnh.

Quá trình hội nhập, việc tham gia các hiệp định thương mại đã mang lại hiệu quả thực tế bước đầu, thể hiện qua tăng trưởng xuất khẩu, dòng đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Tuy nhiên, tới đây nếu không tận dụng được, nó sẽ chảy chỗ khác. Trong 15 năm tới, thời kỳ dân số vàng của chúng ta vẫn còn, nếu không tận dụng được thì cũng sẽ mất thời cơ.

Nhìn toàn diện về đất nước trong suốt mấy thập niên vừa rồi, từ những chủ trương chủ động, tích cực hội nhập từ năm 1996 đến bây giờ, trong từng giai đoạn, từng chiến lược, TS. Trần Du Lịch cho rằng chúng ta đã đi sớm, chọn hướng đi đúng, phù hợp với thời đại. Bây giờ, chúng ta đi vào công nghệ số, tức là chúng ta đã chọn đúng những mấu chốt của thời đại, chọn đúng “chìa khóa” mở cánh cửa thời đại.

“Bước sang năm 2021, trên cơ sở những thành công và dấu ấn rõ nét nói trên, điều quan trọng là Chính phủ tiếp tục nỗ lực để củng cố niềm tin cho người dân, doanh nghiệp. Pháp luật, chính sách, thể chế phải ổn định và hiện đại, văn minh sẽ góp phần  quyết định thành bại của một quốc gia”, TS. Trần Du Lịch nói.