Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

 

Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

(LLCT) - Xây dựng đội ngũ cán bộ - nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu, tạo tiền đề vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bài viết tập trung làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; đề xuất một số biện pháp xây dựng đội ngũ này đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.



Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận công tác cán bộ của Đảng, một nội dung hết sức quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có đủ đức, tài, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội là những sĩ quan cao cấp, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, tham mưu, giữ các cương vị chủ chốt trong lĩnh vực trọng yếu ở các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội. Là lực lượng đóng vai trò quan trọng, tham gia hoạch định các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ.

Quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội thời kỳ mới. 

Công tác đào tạo cán bộ được đổi mới theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”, gắn đào tạo với sử dụng; kết hợp đào tạo trong các nhà trường quân đội với tự đào tạo, bồi dưỡng ở các đơn vị, đào tạo ở trong nước với đào tạo ở nước ngoài. 

Công tác quản lý, nhận xét, đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện nền nếp, thống nhất, đúng nguyên tắc: “Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ; phối hợp, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề đặt ra trong đào tạo và xác nhận trình độ lý luận chính trị cho cán bộ. Công tác nhân sự cán bộ được triển khai đúng nguyên tắc, quy chế, quy định và bảo đảm dân chủ, công khai, tạo sự đồng thuận cao trong nội bộ”(1)

Được quan tâm đào tạo, rèn luyện, đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, xử lý tốt các tình huống; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, do đó luôn phát huy được sức mạnh tổng hợp của cơ quan, đơn vị, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. 

Bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, chỉ huy có mặt còn hạn chế; chưa có quy hoạch đội ngũ cán bộ chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược”(2). Việc nhận xét, đánh giá cán bộ ở một số cấp ủy chưa khách quan, nhất quán, có biểu hiện nể nang. “Một số cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tu dưỡng rèn luyện...vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội. Một số cán bộ chiến dịch, chiến lược khả năng tư duy, tham gia những vấn đề chiến lược có mặt chưa toàn diện”(3)

Những năm tới, tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội đặt ra những vấn đề mới, tác động ảnh hưởng trực tiếp đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, nổi lên là xu thế hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh ngày càng sâu rộng, đặt ra những yêu cầu mới. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã xác định: “Xây dựng và triển khai chiến lược hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, vị thế quốc tế của đất nước nhằm phục vụ mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch”(4). Theo đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, luân chuyển, đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ quân đội nói chung, cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nói riêng phải có sự đổi mới, nhất là trong công tác đào tạo, quy hoạch, luân chuyển cán bộ.

Cùng với đó, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thập kỷ tới đặt ra yêu cầu cao đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(5)

Quán triệt quan điểm của Đảng, công tác cán bộ trong Quân đội nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nói riêng cần phải hướng vào thực hiện tốt chủ trương điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, linh hoạt, cơ động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời bình và sẵn sàng mở rộng lực lượng khi có yêu cầu. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Mặt khác, sự chống phá của các thế lực thù địch với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngày càng quyết liệt; các thách thức an ninh phi truyền thống, tư tưởng bành chướng nước lớn, tranh chấp chủ quyền trên biển ngày càng phức tạp, khó lường... Nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của Quân đội có bước phát triển mới; số cán bộ đã qua chiến đấu giảm nhanh, đội ngũ cán bộ trẻ tuy được đào tạo cơ bản, nhiệt tình, trách nhiệm, nhưng kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều.... Những vấn đề trên đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, trong đó, hạt nhân cốt lõi là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Để làm được điều đó, cần thực hiện một số nội dung, biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược

Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 109-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI... Nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì cấp chiến dịch, chiến lược về các quan điểm, chủ trương của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ. Trong đó, cần nhận thức rõ: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt của then chốt”; thực hiện, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ là nòng cốt, v.v..

Nhận thức đầy đủ, đúng đắn mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đến năm 2030 bảo đảm “tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; từ 20 - 30% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”(6).

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác cán bộ, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược cần xác định rõ trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành công tác cán bộ; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo; coi trọng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; tăng cường kiểm tra, giám sát đối với công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả; không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp chiến dịch, chiến lược. 

Phát huy tốt vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ trì cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội, cán bộ dù ở vị trí nào cũng luôn ý thức đầy đủ về trách nhiệm, “đúng vai, thuộc bài”, thật sự chuyên nghiệp, làm tốt nhiệm vụ được giao. Thực hiện nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả chủ trương của Đảng về vai trò “Người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình, bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình”(7).

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược 

Quy hoạch đội ngũ cán bộ quân đội nói chung, cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược nói riêng phải quán triệt quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nội dung và phương pháp công tác quy hoạch cán bộ của Đảng “bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý”(8). Đồng thời, lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị của cách mạng, Quân đội để xây dựng đội ngũ; thông qua thực tiễn hoạt động và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị để phát hiện những cán bộ có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, như: năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tham mưu đề xuất, khái quát tổng hợp ở tầm vĩ mô và năng lực chỉ đạo thực tiễn, làm việc năng động, sáng tạo, hiệu quả. “Đánh giá chính xác, sàng lọc chặt chẽ, lựa chọn những cán bộ tiêu biểu, xuất sắc, được kiểm nghiệm trong thực tiễn để sắp xếp vào nguồn quy hoạch các chức danh cấp chiến dịch, chiến lược”(9)

Kế thừa quy hoạch của nhiệm kỳ trước, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở quy hoạch cấp trên, với tinh thần “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bảo đảm sự liên thông, có tính khả thi cao trong thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ. Cấp ủy, người đứng đầu điều hành quy hoạch phải kiên quyết, gắn quy hoạch với quản lý, nhận xét, đánh giá và các nội dung khác trong quy trình công tác cán bộ.

Chú trọng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng của chiến lược cán bộ gắn với sự phát triển của tình hình trong nước và thế giới cũng như thực tiễn Quân đội, phù hợp với sự phát triển của lý luận, nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải toàn diện, trong đó tập trung bồi dưỡng về lý luận chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; bồi dưỡng những kiến thức về khoa học nghệ thuật quân sự; đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại quốc phòng; luật quốc phòng; tư duy, tầm nhìn cấp chiến dịch, chiến lược và khả năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Quân đội về lĩnh vực quốc phòng, an ninh; bồi dưỡng năng lực chỉ huy, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng cấp chiến dịch, chiến lược... Thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng; tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu. “Cán bộ chủ trì cấp chiến dịch, chiến lược phải hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cả về phẩm chất và năng lực để lãnh đạo, chỉ đạo ở tầm chiến lược. Có năng lực trí tuệ, hiểu biết các loại hình đơn vị, thông thạo về nghiệp vụ, có khả năng nghiên cứu, tham mưu đề xuất cho lãnh đạo, chỉ huy tổng kết, hoạch định chính sách ở tầm chiến lược”(10). Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng trong các nhà trường quân đội và ngoài Quân đội;  khuyến khích cán bộ nâng cao năng lực thực tiễn, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức tổng hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Làm tốt công tác nhận xét, đánh giá cán bộ. Trước hết, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh cán bộ, tiêu chí đánh giá cán bộ sát hợp với từng chức vụ, chức danh, vị trí công tác và uy tín cán bộ, nhằm phản ánh chính xác phẩm chất, năng lực, hiệu quả công tác của từng người. Quán triệt tốt các quan điểm, chủ trương của Đảng về đánh giá, nhận xét cán bộ. Thực hiện đánh giá, nhận xét cán bộ phải liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bảo đảm công tâm, khách quan. 

Thực hiện luân chuyển cán bộ phù hợp với chức danh, bảo đảm cho cán bộ được thử thách, trải nghiệm trên nhiều cương vị công tác, làm cơ sở để bồi dưỡng, bổ nhiệm ở cương vị cao hơn. Kịp thời cho miễn nhiệm, từ chức, thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Đổi mới công tác bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược trước hết phải tuân thủ đúng quy trình, nguyên tắc trong bố trí, sử dụng cán bộ; có quan điểm và động cơ đúng đắn, khách quan, công tâm, dân chủ, công khai. Khi bố trí, sử dụng phải xem xét, lựa chọn kỹ lưỡng, bố trí đúng người, đúng việc, đúng khả năng, đúng độ, đúng thời điểm thì cán bộ mới phát huy được khả năng của mình.

Ba là, coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của cơ quan tham mưu về công tác cán bộ, nhất là cơ quan cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội

Chất lượng công tác cán bộ nói chung, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội nói riêng phụ thuộc vào chất lượng công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện của cơ quan chức năng và đội ngũ những người làm công tác cán bộ. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay, cần tập trung xây dựng cơ quan cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược thật sự vững mạnh; xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông”, toàn tâm, toàn ý thực hiện tốt nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược cần coi trọng xây dựng cán bộ có đủ số lượng theo biên chế, có chất lượng cao, có năng lực, trình độ tham mưu, đề xuất “đúng, trúng, kịp thời, hiệu quả” về công tác cán bộ. 

Tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, của Quân ủy Trung ương về cán bộ và công tác cán bộ, nhất là các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng được nêu trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nghị quyết số 769-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 109-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương và cấp ủy các cấp những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội một cách thiết thực, hiệu quả. Chú trọng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong công tác; trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao khả năng dự báo, tham mưu, đề xuất, hướng dẫn, bảo đảm tính chuyên nghiệp và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan cán bộ và đội ngũ làm công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.  

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; ngăn ngừa và xử lý nghiêm minh những sai phạm trong công tác cán bộ

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đối với công tác cán bộ. Tập trung kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cơ quan chức năng về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác cán bộ. Trong đó, chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chỉ thị, nghị quyết, quy định, quy chế, hướng dẫn của cấp trên về công tác cán bộ. Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng cấp chiến dịch, chiến lược. Kịp thời phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ từ nội bộ để chấn chỉnh ngay khi mới phát sinh. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề, tập trung giám sát cấp ủy, cán bộ chủ trì trong lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược.

Tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định về phân cấp quản lý cán bộ, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục, hồ sơ nhân sự; về đánh giá, nhận xét, lấy phiếu tín nhiệm, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Nghiên cứu, ban hành quy chế, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Đồng thời, có cơ chế công khai, minh bạch trong kiểm soát việc “giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình”(11)

Tăng cường kiểm soát tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Chủ động phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Tập trung xây dựng các cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán có bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí đấu tranh, có kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao.

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng tham gia xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong Quân đội

Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và thực hiện các quy chế, quy định để các tổ chức, lực lượng trong cơ quan, đơn vị phản ánh, góp ý với cấp ủy đảng về công tác cán bộ. Cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến lược phải tăng cường trách nhiệm giải trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương về đối thoại dân chủ với cấp dưới; tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề cán bộ, chiến sĩ phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ, quán triệt, thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm sai phạm trong công tác cán bộ. 

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong tham mưu đề xuất với cấp ủy, cán bộ chủ trì các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác cán bộ; cơ quan chính trị, cơ quan cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược. Các tổ chức quần chúng thực hiện tốt vai trò tham gia nhận xét, góp ý với cấp ủy đảng; thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác cán bộ nói riêng. Chú trọng giám sát, góp ý về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược.

__________________

(1) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Hà Nội, 2021, tr.16.

(2), (10) Quân ủy Trung ương: Nghị quyết số 769-NQ/QUTW Về xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo, Hà Nội, 2012, tr.3, 7.

(3), (9) Quân ủy Trung ương: Nghị quyết số 109-NQ/QUTW Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới,  Hà Nội, 2019, tr.2, 12.

(4), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.163, 158.

(6) Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XII Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Hà Nội, 2018, tr.3.

(7), (8), (11) Kết luận số 21-KL/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Hà Nội, 2021, tr.2.

TS NGUYỄN QUANG CHUNG

TỐNG MINH LƯƠNG

Trường Sĩ quan Lục quân 1

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

 

Ban Chấp hành Trung ương vừa ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó nêu rõ, những năm qua, việc thực hiện chủ trương của Đảng về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã tạo được chuyển biến tích cực; chính sách, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, khắc phục tồn tại, hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực tiễn; công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát được tăng cường.

 

Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu nghiêm túc quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia chủ trương của Đảng.

 

Theo Chỉ thị, bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa sâu sắc, đầy đủ; có lúc, có nơi tổ chức chưa tốt, chấp hành chưa nghiêm; một số cơ quan, đơn vị, địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tình trạng lãng phí, thất thoát còn nhiều, một số trường hợp rất nghiêm trọng.

 

Chính sách, pháp luật, nhất là chế độ quản lý tài chính, tín dụng, tài sản công, đầu tư công, đất đai, đấu thầu, quản lý vốn, tài sản nhà nước chưa hoàn thiện, còn bất cập. Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán có liên quan đến vấn đề này còn chậm. Công tác vận động, tuyên truyền cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được quan tâm đúng mức.

 

Để đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và xã hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương; là văn hóa ứng xử của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và mỗi người dân, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả việc huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế - xã hội cho phát triển đất nước, nâng cao cuộc sống Nhân dân. Tăng cường lồng ghép nội dung giáo dục thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đa dạng hóa, đổi mới hình thức và huy động sự tham gia của các cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác tuyên truyền, vận động để nâng cao hiệu quả thực hiện.

 

Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể, nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu, vận động gia đình, Nhân dân tích cực tham gia thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 

Cùng với đó, tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo hướng lấy tiết kiệm là mục tiêu, chống lãng phí là nhiệm vụ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, khả thi; tập trung xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu; quy định cụ thể hành vi vi phạm, hình thức xử lý; chú trọng các lĩnh vực dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực như đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tín dụng, quản lý tài sản công, đầu tư công, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.

 

Đồng thời, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, chế độ chi tiêu công làm căn cứ để giảm hao phí trong sử dụng vốn, tài sản, tài nguyên, lao động, thời gian lao động, nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 

Xây dựng và tổ chức triển khai có hiệu quả chiến lược và chương trình quốc gia về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 5 năm, hằng năm bảo đảm toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng các lĩnh vực then chốt như năng lượng, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách nhà nước, tài sản công. Các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm quy định về mua sắm công, xây dựng và sử dụng trụ sở, tổ chức hội nghị, lễ kỷ niệm, tiếp khách, đi công tác, đi nước ngoài bảo đảm thiết thực, hiệu quả, không lãng phí, phô trương.

 

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực quốc gia. Đẩy nhanh lộ trình cải cách chính sách thuế; nâng cao chất lượng công tác dự báo; lập, thẩm định dự toán thu, chi ngân sách nhà nước; đổi mới việc phân bổ, đẩy mạnh quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra; bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án đầu tư công để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

 

Có phương án giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án sử dụng vốn ODA, dự án BOT, BT hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn; các ngân hàng thương mại yếu kém; các dự án ngừng triển khai theo kết luận của các cơ quan chức năng, sớm đưa các tài sản này vào phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

 

Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững đối với đất đai, tài nguyên, khoáng sản, giảm thiểu thất thoát, lãng phí, tác động tiêu cực đến môi trường. Tăng cường công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, nguồn lực quốc gia…; nêu cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu đối với việc gây thất thoát, lãng phí ngân sách, tài sản công. Đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện nghiêm chủ trương, mục tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 2021-2026; tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm gắn với biên chế của khu vực công, tiết kiệm ngân sách nhà nước chi cho bộ máy, con người. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, cải cách hành chính, xã hội hóa cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

 

Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra lãng phí, tiêu cực, nơi có nhiều đơn, thư, khiếu nại, tố cáo, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc. Kịp thời phát hiện, phòng ngừa, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực; thực hiện nghiêm kết luận, kiến nghị của các cơ quan chức năng, thu hồi tiền, tài sản cho Nhà nước.

 

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng và Nhân dân. Tăng cường dân chủ cơ sở, tạo điều kiện cho hoạt động thanh tra nhân dân và giám sát của cộng đồng dân cư ở cơ sở; kịp thời phát hiện, thông tin, phản ánh, ngăn chặn hành vi gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các điển hình, sáng kiến; có biện pháp thiết thực bảo vệ người đấu tranh, tố giác hành vi gây lãng phí, thất thoát./.

 

 

 

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 03/01

 LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 03/01


       “Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”.

         Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài “Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay”, viết vào tháng 01 năm 1959.

 

Nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên các môn lý luận chính trị trong nhà trường quân đội

(LLCT) - Đối với các nhà trường Quân đội, việc giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị có ý nghĩa quan trọng bởi đây là những môn học trang bị thế giới quan, phương pháp luận và những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của quân nhân cách mạng. Trên cơ sở phân tích vai trò, thực trạng đội ngũ giảng viên lý luận trong các nhà trường Quân đội, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ này, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.



Trong những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các nhà trường Quân đội đã tích cực đổi mới nội dung gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị nói riêng theo phương châm “khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại” (1).

Các nhà trường đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm về số lượng, cơ cấu và chất lượng; chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất nghề nghiệp; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng sư phạm. Trước yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới, cần quan tâm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội.

1. Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội

Giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội có phẩm chất, trình độ, năng lực chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn lý luận chính trị, nghiên cứu khoa học, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo chức trách, nhiệm vụ được phân công. Đây là những giảng viên giảng dạy 5 môn lý luận chính trị: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, đa số giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội được đào tạo bài bản, bên cạnh việc nắm vững lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, họ còn được trang bị những tri thức khoa học quân sự (khoa học công nghệ và kỹ thuật quân sự, khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự…).

Họ có khả năng giảng dạy, truyền đạt những vấn đề cơ bản về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nội dung khoa học lý luận chính trị tới người học; có khả năng nghiên cứu khoa học nhằm góp phần bổ sung, phát triển lý luận, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới… Đồng thời, giảng viên lý luận chính trị có khả năng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vai trò quan trọng của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội được thể hiện trên những phương diện sau:

Một là, giảng viên lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thế giới quan, xây dựng phương pháp luận khoa học cho học viên. Đó là thế giới quan duy vật triệt để, phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cơ sở để người học vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực tiễn công tác.

Đây cũng là vai trò phản ánh chức năng đặc thù của giảng viên lý luận chính trị so với các giảng viên bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật - quân sự… Vai trò này hướng vào rèn luyện, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho người học, đáp ứng yêu cầu hoạt động trong lĩnh vực quân sự: cần có nhận thức đúng đắn, có căn cứ khoa học về sự vận động, phát triển của hiện thực; nhạy bén và xử lý kịp thời những diễn biến phức tạp về tư tưởng, chính trị, tinh thần, nhất là những tình huống phức tạp liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Hai là, giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội là những người trực tiếp bồi dưỡng và góp phần hoàn thiện phẩm chất, nhân cách, đạo đức cách mạng, những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ nói chung, phẩm chất, nhân cách, đạo đức người cán bộ Quân đội trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể nói riêng cho đội ngũ học viên.

Bên cạnh việc trang bị kiến thức cho người học, giảng viên lý luận chính trị còn giúp họ trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị để sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, thông qua nghiệp vụ sư phạm và hoạt động thực tiễn, giảng viên lý luận chính trị truyền thụ kinh nghiệm thực tế ở đơn vị, bồi dưỡng năng lực tư duy quân sự, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho học viên.

Ba là, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong nhà trường Quân đội là lực lượng quan trọng tham gia nghiên cứu, góp phần phát triển khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ quan trọng của giảng viên. Sự phát triển của khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong Quân đội thời gian qua có sự đóng góp rất lớn của giảng viên lý luận chính trị các nhà trường. Những công trình nghiên cứu của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đã mang lại những giá trị lý luận, thực tiễn về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam;

cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; làm rõ quy luật vận động, phát triển của lĩnh vực quân sự ở khía cạnh chính trị - xã hội; mối quan hệ giữa con người với con người trong lĩnh vực quân sự; quan hệ giữa con người với vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và môi trường quân sự; nghiên cứu phát triển lý luận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; nâng cao bản chất giai cấp công nhân, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Giảng viên lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thế giới quan, xây dựng phương pháp luận khoa học cho học viên. Đó là thế giới quan duy vật triệt để, phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cơ sở để người học vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực tiễn công tác.

Bốn là, giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội là lực lượng trực tiếp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là vai trò quan trọng, góp phần giữ vững định hướng chính trị trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Thực hiện vai trò này, giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội thực sự là những người lính, vũ khí của họ là ngòi bút, những dòng lý luận sắc bén đấu tranh, phản bác những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vu khống, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Hoạt động của họ trực tiếp góp phần vào sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội, giữ vững sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia, góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

2. Thực trạng giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các nhà trường quân đội

Trong thời gian qua, với đóng góp to lớn của đội ngũ giảng viên, việc giảng dạy các môn lý luận chính trị trong nhà trường Quân đội đã đạt được những kết quả quan trọng. Một là, nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giảng viên, học viên về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được nâng lên. Phương pháp dạy học theo hướng tăng cường tính thực tiễn được đội ngũ giảng viên lý luận chính trị các nhà trường vận dụng khá linh hoạt theo từng đối tượng, mục tiêu đào tạo đối với từng môn học, bài học cụ thể, trên cơ sở kết hợp giữa các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại như: nêu vấn đề, dạy học nhóm và xây dựng các bài giảng theo hướng gắn liền giữa lý luận với thực tiễn. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị đã được tiến hành đồng bộ từ khâu chuẩn bị bài giảng, thực hành giảng, hướng dẫn xêmina, trao đổi, thực hành, thực tập đến công tác tổ chức, quản lý học tập.

Hai là, ở các nhà trường Quân đội, hệ thống giáo án, bài giảng các môn lý luận chính trị được biên soạn theo quy định mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Nội dung các bài giảng luôn giữ vững được định hướng chính trị tư tưởng, bảo đảm tính đảng, tính khoa học, tính thực tiễn, cập nhật được những thông tin lý luận mới, sát thực tiễn. Các hoạt động nghiên cứu khoa học lý luận chính trị đã hướng vào các nội dung thực tiễn, mang tính ứng dụng cao, trực tiếp phục vụ hoạt động sư phạm. Việc khai thác hiệu quả các phương tiện dạy học hiện đại cũng góp phần khắc phục được sự đơn điệu trong giảng dạy các môn lý luận chính trị, tăng tính khái quát và sức thuyết phục của bài giảng, tăng tính hấp dẫn, phong phú về nguồn tư liệu, tính trực quan về hình ảnh, thông qua đó giúp người học nhận thức logic về nội dung, phát triển tư duy lý luận và tác phong làm việc trong điều kiện đặc thù của thực tiễn quân sự.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảng dạy các môn lý luận chính trị ở nhà trường Quân đội vẫn còn một số hạn chế: Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực ở một số nhà trường còn gặp khó khăn; nội dung một số bài giảng chưa sâu sắc, thiếu sức thuyết phục, tính thực tiễn không cao; một số giảng viên được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ song thiếu thời gian thực tế đơn vị. Phương pháp giảng dạy còn chú trọng truyền đạt kiến thức lý luận, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Khâu thi, kiểm tra, đánh giá kết quả ở một số nhà trường chưa có sự đổi mới, còn nặng về tái hiện kiến thức, kiểm tra lý thuyết, học viên chưa biết cách liên hệ vận dụng thực tiễn, thiếu tính sáng tạo trong xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tiễn.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên các môn lý luận chính trị

Hiện nay, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động giảng dạy các môn lý luận chính trị ở nhà trường Quân đội. Công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển. Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09-2-2018 của Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”đã chỉ nêu nhiệm vụ: “Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, ứng dụng các phương pháp hiện đại, hấp dẫn người học, tạo hứng thú tìm tòi, nghiên cứu”(2).

Để nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị ở nhà trường Quân đội, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác tạo nguồn và phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Bên cạnh nguồn chính là học viên các lớp đào tạo giảng viênlý luận chính trị,khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Sỹ quan Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các nhà trường ngoài quân đội, đểđáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, các nhà trường cần xây dựng phương án tạo nguồn bổ sung cho đội ngũ giảng viên các môn lý luận chính trị. Việc lựa chọn cán bộ gửi đi đào tạo giảng viên lý luận chính trị phải hợp lý; vừa bảo đảm công tác nghiên cứu, giảng dạy trước mắt có chất lượng, không bị xáo trộn, vừa bảo đảm nguồn đi đào tạo cơ bản, lâu dài. Cần lựa chọn các đồng chí có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức cách mạng trong sáng, có lối sống trung thực, mẫu mực, nhân văn; trình độ hiểu biết sâu rộng, năng lực nhận thức và khả năng tư duy nhanh nhạy, sáng tạo, có năng khiếu sư phạm, khả năng diễn thuyết, trình bày vấn đề lôi cuốn. Chú trọng tuyển chọn những cán bộ đã kinh qua vị trí chỉ huy, quản lý ở các đơn vị, dày dặn kinh nghiệm, hiểu biết sâu rộng về thực tiễn chính trị - xã hội, thực tiễn quân sự; đồng thời, phải chú ý tới độ tuổi, tính cách và các mối quan hệ xã hội của cán bộ tạo nguồn giảng viên lý luận chính trị.

Hai là, bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.Đây chính là hoạt động củng cố và phát triển những tổ hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm dạy học - giáo dục, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo mà các nhà trường Quân đội xác định.

Để hình thành năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, các nhà trường phải chú trọng bồi dưỡng toàn diện về các kỹ năng: xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế, biên soạn bài giảng, xây dựng các tình huống dạy học, đưa người học thâm nhập vào thực tiễn; có năng lực thu thập, xử lý thông tin, khái quát các vần đề nảy sinh trong thực tiễn, tổng kết thực tiễn và rút ra bài học kinh nghiệm; có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại; hiểu biết cơ bản về tin học, ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu khoa học;  có năng lực giao tiếp, ứng xử với học viên; năng lực nghiên cứu khoa học và đánh giá kết quả dạy học.

Ngoài ra, người giảng viên phải có những hiểu biết cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, kiến thức cơ bản về tâm lý học; yêu nghề, tâm huyết với nghề; đặc biệt cần có nhiều trải nghiệm, kinh nghiệm, vốn sống về công tác quản lý chỉ huy, huấn luyện - giáo dục bộ đội.

Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị theo hướng “khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”. Cần vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị theo hướng giảm tối đa việc truyền thụ một chiều, cung cấp kiến thức có sẵn, cần tăng cường việc hướng dẫn, tổ chức cho người học chủ động học tập, nghiên cứu về những nội dung của bài học, tạo điều kiện cho người học rèn luyện phương pháp tự học, phát triển năng lực, tính chủ động, tự chủ của cá nhân. Trong giảng dạy, cần tăng cường trao đổi, thảo luận về các vấn đề thực tiễn, nhằm tạo sự sinh động cho giờ học, khuyến khích người học phát huy khả năng tư duy độc lập và thể hiện chính kiến trong quá trình tiếp cận các vấn đề chính trị - xã hội.

Bốn là, tăng cường các hoạt động nghiên cứu thực tế và dự nhiệm ở đơn vị cho giảng viên các môn lý luận chính trị. Đưa cán bộ, giảng viên đi dự nhiệm và đi nghiên cứu thực tế ở đơn vị là một chủ trương đúng đắn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nhằm thực hiện nguyên tắc dạy học “Gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với đơn vị”. Đây là một trong những biện pháp quan trọng và thiết thực để nâng cao tính thực tiễn trong giảng dạy các môn lý luận chính trị ở nhà trường Quân đội hiện nay.

Thông qua dự nhiệm, thực tế ở đơn vị, giảng viên rèn luyện bản lĩnh chính trị, tác phong và năng lực công tác; đặc biệt kịp thời nắm vững thực tiễn hoạt động của các đơn vị trong Quân đội, liên hệ lý luận với thực tiễn cuộc sống, nhất là thực tiễn thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan ở đơn vị. Trên cơ sở đó, giảng viên rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, những thông tin bổ ích để tiếp tục hoàn thiện nội dung, phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị.

Do đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp ở nhà trường cần nhận thức rõ việc dự nhiệm, thực tế, luân chuyển đội ngũ là một nội dung quan trọng, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên nói chung, giảng viên lý luận chính trị nói riêng. Việc đi nghiên cứu, khảo sát thực tế và dự nhiệm ở đơn vị phải trở thành chế độ bắt buộc đối với mỗi giảng viên. Các nhà trường cần có chương trình, kế hoạch cụ thể, chặt chẽ và triển khai thực hiện nghiêm túc.

Năm là, phát huy vai trò tự đào tạo, tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, giảng viên lý luận chính trị trong các nhà trường Quân đội cần kết hợp tốt giữa đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo, tự bồi dưỡng của bản thân. Bởi chỉ có thông qua quá trình tự đào tạo, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là hiểu biết về lý luận mới làm cho giảng viên lý luận chính trị kiên định về lập trường tư tưởng, có niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, là động lực thúc đẩy trong thực hiện các nhiệm vụ được giao. Giảng viên lý luận chính trị phải tự ý thức được vai trò quan trọng của hoạt động tự học tập nâng cao trình độ, tự bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp giảng dạy, coi đây là phương thức cơ bản để phát triển bản thân, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như các nhiệm vụ khác.

_________________

Ngày nhận bài: 18-1-2023; Ngày bình duyệt: 22-1-2023; Ngày duyệt đăng: 03-7-2023.

 

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.183.

(2) Ban Chấp hành Trung ương: Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09- 02-2018 của Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”Hà Nội.

ThS TRẦN QUỐC TUẤN

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng toàn diện của chương trình thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (qua kết quả điều tra, khảo sát thực tế)


(LLCT) - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tham gia đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ được 30 năm, góp phần vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước. Bài viết tập trung làm rõ hiệu quả đầu ra của đào tạo thông qua đánh giá sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của người học sau khi tốt nghiệp. Bài viết là kết quả Đề án “Khảo sát, điều tra về nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ cán bộ trong thực hiện công vụ sau khi đã tốt nghiệp đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (10 năm gần đây)”.
 


Mở đầu

Đề án “Khảo sát, điều tra về nhận thức, thái độ và hành vi  của đội ngũ cán bộ trong thực hiện công vụ sau khi đã tốt nghiệp đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (10 năm gần đây)” được thực hiện trong hai năm 2022-2023. Mục tiêu của đề án là khảo sát, tổng kết, đánh giá toàn diện về nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ sau khi đã tham gia đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện so với trước khi được đào tạo. Từ đó, gợi mở, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những điểm còn hạn chế trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện. Trong đó, một mục tiêu trọng yếu của chương trình đào tạo là nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ.

Đề án đã triển khai khảo sát tại các địa phương có nhiều học viên đã tham gia chương trình thạc sĩ tại Học viện trải dài từ Bắc tới Nam gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Giang, Sơn La, Thái Nguyên, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng phiếu điều tra là 2.290 phiếu khảo sát định lượng và 07 cuộc phỏng vấn, tọa đàm với 325 phỏng vấn tại các địa phương.

Qua điều tra xã hội học, Đề án đã cho thấy, các đối tượng được hỏi ý kiến khẳng định, chương trình đào tạo cao học, nghiên cứu sinh tại Học viện đã xác định rõ các mục tiêu quan trọng hàng đầu là nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao của hoạt động lãnh đạo và quản lý và chuyên môn.

Xác định đào tạo cao học, nghiên cứu sinh là một phần của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là khâu quan trọng trong toàn bộ chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng đòi hỏi của điều kiện mới. Từ đó, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ đã trở thành chương trình đào tạo quan trọng trong hệ thống đào tạo của Học viện. 

1. Những kết quả chủ yếu về nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ sau khi tốt nghiệp đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện khi về cơ quan công tác

Đối tượng chính của đề án khảo sát này là đánh giá sự thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của người học sau khi được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở Học viện. Để có được kết quả chân thực nhất, Đề án đã khảo sát trực tiếp những cán bộ, đồng nghiệp và lãnh đạo (những cán bộ chuyên trách về công tác tổ chức - cán bộ tại các cơ quan, đơn vị), những cán bộ đã học chương trình thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện. Kết quả khảo sát của đề án đã thu nhận được một số những kết quả chủ yếu cụ thể như sau:

Thứ nhất, về kết quả điều tra về sự thay đổi trong nhận thức của cán bộ.

Nhận thức của cán bộ thể hiện ở hiểu biết của họ về những nhiệm vụ, trách nhiệm công vụ mà họ phải hoàn thành, là trách nhiệm pháp lý và những điều luật, quy định, quy chế mà họ phải tuân theo.

Vì vậy, để đo lường được nhận thức của đội ngũ cán bộ phải thông qua tri thức và hiểu biết của họ về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của các cấp, các ngành, cơ quan, địa phương họ làm  việc, qua việc thực hiện những nội quy, quy định của cơ quan.

Nhận thức của đối tượng khảo sát cũng được thể hiện qua cách thức quán triệt, triển khai đường lối, chủ trương vào trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý, trong các hoạt động công vụ tại các cơ quan, tổ chức. Ở khía cạnh này, kết quả khảo sát của Đề án cho kết quả cụ thể như sau:

Chỉ có 40,5% số người được hỏi trả lời vốn tri thức về chủ trương, chính sách học được đã đáp ứng tốt công việc.

Có 59,5% số người được hỏi cho là kiến thức về nội dung khoa học của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cấp độ vĩ mô chỉ đáp ứng nhu cầu cầu công việc ở mức bình thường.

Đối với cán bộ của các cơ quan Đảng và Nhà nước cấp tỉnh, huyện thì sự đáp ứng tốt về nội dung tri thức khoa học về đường lối, chính sách chỉ 17,7%.

Kết quả này phản ánh một thực tế rằng, cần có một chương trình đào tạo mà nội dung khoa học gắn nhiều hơn cho việc ban hành các chính sách, chủ trương ở tầm trung và vi mô cho gần với cấp huyện.

Ngoài ra, những vấn đề thực tiễn ở cấp huyện cũng cần được cập nhật thường xuyên hơn ở các chuyên đề giảng dạy hệ thạc sĩ, tiến sĩ và đội ngũ giảng viên để đáp ứng những nhu cầu của người học về hệ thống tri thức này.

Nguyên nhân của khả năng đáp ứng tốt về tri thức về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ở cấp độ vĩ mô tốt hơn ở cấp tỉnh và huyện, xuất phát từ hai nguyên nhân.

Một là, do đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cũng là những người đang giảng dạy chương trình cao cấp chính trị. Vì vậy, giảng viên sớm chủ động tiếp cận, cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách mới để vận dụng vào công tác giảng dạy và họ đã lồng ghép vào nội dụng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.

Hai là, do học viên chủ yếu là cán bộ cấp tỉnh và huyện. Nên đội ngũ này tiếp thu phù hợp với sự trải nghiệm của họ.

Về khả năng chuyển hóa những tri thức đã được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ vào trong hoạt động công vụ thì có 42,5% cán bộ cho rằng đã chuyển hóa được mọot phần; 45,7% là chuyển hóa tốt và 11,8% là không rõ. Đây là con số đáng quan tâm, yêu cầu trong nội dung chương trình đào tạo thạc sĩ cần theo hướng ứng dụng cao, đòi hỏi các viện chuyên ngành phải có thêm nhiều những nội dung về định hướng phương pháp và kỹ năng để học viên dễ dàng hơn trong vận dụng vào các hoạt động công vụ

Kết quả khảo sát của đề án ở một số khía cạnh như: “Nội dung khoa học trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ”; “Nội dung khoa học trong nghệ thuật hoạt động chính trị”; “Nội dung khoa học của vấn đề năng lực hoạt động chính trị” có tỉ lệ người hỏi trả lời là đáp ứng tốt lần lượt là: 79,6%, 87,7%  và 86,2%. Điều này cho thấy, chương trình đào tạo sau đại học tại Học viện đang có xu hướng chuyển dần sang cung cấp nội dung khoa học liên quan đến lãnh đạo, quản lý. Đây là xu hướng phù hợp với đối tượng người học, từ đó cho thấy nội dung chương trình cần quan tâm đáp ứng nhiều hơn với yêu cầu của cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị đang triển khai thực hiện.

Nhận thức của người học được thể hiện trong hoạt động công vụ, vì vậy khi thông qua tiêu chí đo lường về mức độ ứng dụng của nội dung chương trình đào tạo so với yêu cầu của công việc để đánh giá về sự thay đổi nhận thức cho thấy:

Chỉ có 34,3% số người được hỏi cho rằng khối lượng kiến thức như vậy là vừa đủ để họ có thể hoạt động trong môi trường công vụ. Tương tự, có 36,1% số người được hỏi cho rằng thiếu những nội dung có thể vận dụng vào thực tiễn.

Điều này phù hợp với đánh giá của các đồng nghiệp khi có 60,3% số cán bộ cho rằng việc họ tốt nghiệp thạc sĩ tại Học viện cũng như những nơi khác. Như vậy, yêu cầu dặt ra đối với các viện chuyên ngành có đào tạo thạc sĩ phải có nhiều thay đổi hơn trong nội dung đào tạo của chương trình đào tạo thạc sĩ theo định hướng ứng dụng.

Trong những năm gần đây, số lượng học viên học thạc sĩ tại Học viện có xu hướng giảm, nhưng nhu cầu học tập nâng cao năng lực chuyên môn gắn với nâng cao trình độ lý luận chính trị có khuynh hướng tăng ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Kết quả khảo sát của Đề án ở tiêu chí “học thạc sĩ tại Học viện để nâng cao nhận thức về lý luận chính trị” là 70,6% đồng ý, đây là tỉ lệ cao nhất trong các nhu cầu về học thạc sĩ của cán bộ.

Ở những tiêu chí liên quan đến nhu cầu của cá nhân về đào tạo thạc sĩ để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước tỉ lệ đồng ý chỉ khoảng 50%. Điều này cho thấy có một tỉ lệ nhất định số cán bộ tham gia học thạc sĩ, tiến sĩ chủ yếu để có thể có được giá trị gia tăng của việc học hoàn chỉnh cao cấp chính trị.

Thứ hai, về kết quả của những thay đổi trong thái độ và hành vi

Kết quả khảo sát của Đề án cho thấy rằng về thực chất nhận thức, thái độ và hành vi là ba mặt biểu hiện khác nhau của việc thay đổi trong tri thức lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ.

Trong ba yếu tố này, tri thức là hạt nhân và quyết định đến nhận thức, nhu cầu đào tạo thạc sĩ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ, tác phong, ứng xử của đội ngũ cán bộ.

Tri thức của cán bộ, cả tri thức ở tầm lý luận hay tri thức ở tầm kinh nghiệm là cái ẩn sâu bên trong tư duy, suy nghĩ của cán bộ, chỉ có thể nhận thức được thông qua những hoạt động thể hiện sự nhiệt tình, chu đáo và tận tâm của đội ngũ cán bộ với công việc, là sự lắng nghe để chia sẻ những khó khăn, bức xúc của nhân dân, tôn trọng với sự đóng góp, góp ý của nhân dân với bản thân và cơ quan/ tổ chức của mình…

Những thái độ, hành vi của cán bộ trong các hoạt động công vụ trước tiên thể hiện ở hành vi tuân thủ những quy định của nền hành chính công vụ, tuân thủ những chuẩn  mực và nguyên tắc của văn hóa chính  trị và đạo đức công vụ. Kết quả khảo sát của Đề án về vấn đề này cho thấy nhữn điểm chủ yếu sau:

Ở các tiêu chí “Thấm nhuần đạo đức công vụ của người cán bộ” có 45,1% cho rằng “ít tiến bộ” và 54,9% cho rằng rất tiến bộ.

Trong tiêu chí “Nhận thức rõ hơn về văn hóa chính trị của cơ quan, tổ chức” có 15,7% cho rằng “không tiến bộ”.

Con số này cho thấy trong chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện kiên trì theo hướng kết hợp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và rèn luyện tư cách đạo đức đặt phong của người đảng viên cho đội ngũ học viên học chương trình thạc sĩ, tiến sĩ.  

Về thái độ của đội ngũ cán bộ đối với công việc. Ở các tiêu chí như: “Nhận thức về quyền và nghĩa vụ của mình với cơ quan, tổ chức và đồng nghiệp” và “Bớt sự rườm ra, tự thêm những khâu không cần thiết trong thực hiện nhiệm vụ”, “Khả năng tự chủ hơn trong công việc” đều có 72,5% cho rằng “rất tiến bộ”.

Tiêu chí “Chuyên nghiệp hơn trong các hoạt động công vụ” có 54,6% cho rằng “rất tiến bộ”. Tiêu chí “Khả năng làm việc nhóm và phối hợp công việc với đồng nghiệp”, có 46,4% cho rằng rất tiến bộ. Tiêu chí “Có thêm những khát vọng mới trong công việc” có 14,4% cho rằng là rất tiến bộ…

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ khẳng định mức rất tiến bộ ở những khía cạnh liên quan đến thái độ và hành vi mang tính đạo đức và văn hóa thấp hơn trong vấn đề thái độ và hành vi với công việc.

Hoạt động công vụ của người cán bộ muốn đạt hiệu quả cao phải bảo đảm các yếu tố về thời gian, năng suất, chất lượng thực hiện công việc. Muốn vậy, họ phải đạt sự đồng thuận và chia sẻ của đồng nghiệp cũng như sự hài lòng của công chúng đối với cách thức họ tổ chức và tiến hành công việc.

Điều này cho thấy, trong chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cần có thêm nhiều những biện pháp để gia tăng quá trình chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động của cán bộ đang học tập ở các lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo, thạc sĩ, tiến sĩ khác nhau.       

2. Một số khuyến nghị

 Trong khuôn khổ kết quả điều tra, khảo sát, Đề án kiến nghị các giải pháp tiếp tục phát huy tính tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của cán bộ sau khi đã tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện như sau:

Một là, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về tri thức, hiểu biết của cán bộ khi học chương trình đào tạo thạc sĩ, tiễn sĩ trước yêu cầu công việc, của cơ quan và và địa phương nơi cán bộ công tác, Học viện cần xây dựng nội dung chương trình đào tạo gần hơn với nhu cầu thực tiễn.

Các nội dung khoa học nên được tổng kết thường xuyên để cập nhật về lý luận để cung cấp hệ thống lý luận có trọng tâm, trọng điểm cho sát nhu cầu người học và yêu cầu thực tiễn công tác của các ngành, lĩnh vực, địa phương.

Theo đó, Học viện cần xây dựng và duy trì tốt các kênh liên lạc giữa Học viện với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị để nắm nhu cầu đào tạo cán bộ của hệ thống chính trị. Đối với chương trình thạc sĩ ứng dụng, cần phải căn cứ vào nhu cầu của các địa phương để xây dựng nội dung chương trình đào tạo tương ứng.

Hai là, học viên tham gia học tập thạc sỹ tại Học viện đa phần là cán bộ, công chức, viên chức từ nhiều cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và nhiều địa phương trên cả nước. Nhiều địa phương, ban, ngành lựa chọn cử cán bộ tham gia học tập thạc sĩ tại Học viện ngoài mong muốn nâng cao trình độ về lý luận chính trị còn mong muốn cán bộ được rèn luyện về đạo đức, tư cách, kỹ năng, phương pháp làm việc, cách thức hoạt động công vụ mang tính văn hóa, đạo đức.

Kết quả khảo sát của Đề án cho thấy về thái độ và hành vi của họ cũng thay đổi nhiều theo hướng tích cực kể từ khi được đào tạo tại Học viện. Điều này cho thấy sự cần thiết phải lồng ghép tiêu chí về rèn luyện tư cách, đạo đức, tác phong của người cán bộ, người đảng viên vào trong những quy chế học tập và rèn luyện cho đối tượng học thạc sĩ và tiến sĩ.

Ba là, cùng với kiến thức chuyên môn, nhận thức, thái độ và hành vi của người học thạc sĩ, tiến sĩ cần thiết phải được xem như là những tiêu chuẩn cứng, bắt buộc trong chuẩn đầu ra của đào tạo thạc sĩ. Các Học viện nên lồng ghép những vấn đề về kỹ năng, phẩm chất, tư cách... khi hoạt động công vụ có liên quan đến các nội dung khoa học được trình bày trong chương trình đào tạo thạc sĩ.

Sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương trên cả nước đang đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực chuyên môn cao, am hiểu sâu sắc về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có năng lực vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo, quản lý tại địa phương. Vì vậy, trong chương trình đào tạo thạc sĩ theo định hướng ứng dụng, Học viện nên tập trung xây dựng những chương trình thạc sĩ thuộc lĩnh vực quản lý, quản trị kinh tế - văn hóa - xã hội để đáp ứng nhu cầu của cán bộ các cơ quan, địa phương. 

Bốn là, Học viện cần chủ động và tích cực hơn trong việc thông tin về triết lý đào tạo nâng cao cả nhận thức, thái độ và hành vi trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. 

Khảo sát của Đề án cho thấy, nhiều địa phương, ban, ngành vẫn có cử nhiều cán bộ có nhu cầu được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại Học viện. Lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo các cơ quan về tổ chức cán bộ vẫn mong muốn được học và được đào tạo tại Học viện. Hiện nay, các cơ quan, ban ngành trên cả nước đều bố trí công việc theo vị trí việc làm. Vì vậy, ưu tiên của cán bộ và lãnh đạo các cơ quan tập trung vào nâng cao trình độ theo vị trí việc làm. Do đó, Học viện cần phải xây dựng các kênh liên lạc giữa Học viện với nhu cầu đào tạo cán bộ của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị để tìm hiểu nhu cầu của các ban, ngành, địa phương. Thông qua đó để xây dựng nội dung chương trình đào tạo thạc sĩ theo định hướng ứng dụng.