Đấu
tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực
hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính
trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa,
ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính
trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một vấn đề lớn, quan trọng trong đấu
tranh quốc phòng bảo vệ vững chắc tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng tăng cường và nâng cao chất lượng,
hiệu quả của đấu tranh đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
hiện nay là yêu cầu cấp bách, lâu dài nhằm nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn
chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà
nước, giữ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024
ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG CÓ VỊ TRÍ RẤT QUAN TRỌNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
CẦN CÓ CÁCH
HIỂU CÔNG BẰNG VỀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Với những
thành tựu đạt được sau 37 năm đổi mới của Việt Nam, một số lực lượng thù địch đối
lập cố tình hoặc không dám thừa nhận những quan điểm, đường lối của Đảng, chính
sách đúng đắn, nhất quán của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Bởi vì, trong tiềm
thức của họ, chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam;
một trong những công cụ, phương thức để tiến hành âm mưu, thủ đoạn trong chiến
lược “Diễn biến hòa bình” - đó là lợi dụng
vấn đề Dân tộc, Tôn giáo.
Sau đây, bài
viết đưa ra luận cứ góp phần khẳng định những quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách đúng đắn, nhất quán của Nhà nước Việt Nam về Tôn giáo.
Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong lãnh đạo việc quản lý xã hội và điều
hành đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính
sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng.
Ngay sau khi Cách mạng tháng 8/ 1945 thành công. Năm 1946, Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã khẳng định Quyền tự do tín
ngưỡng là một trong năm quyền cơ bản của công dân (Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do
tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài" - Điều 10,
Chương II - Nghĩa vụ và quyền lợi công dân). Với việc tuyên bố tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng của công dân, Hiến pháp năm 1946 đã tạo ra cơ sở pháp lý
cho việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo trong phạm vi cả nước.
Ngày
31-12-1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp
1959, trong đó nêu rõ "Công dân nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào"(Điều 26, Chương III - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của
công dân). Kế thừa Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 2013 của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bổ sung: "Công dân có quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng
tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước"…..
Năm 1986, Việt
Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Đến năm 1990, Đảng Cộng sản
Việt Nam có sự đổi mới trong chính sách đối với tôn giáo qua Nghị quyết số
24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
VI) "Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới". Sau 13 năm
thực hiện chính sách đổi mới đối với tôn giáo, tổng kết thực tiễn, đồng thời
xem xét những vấn đề mới nẩy sinh, trong bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều
thay đổi quan trọng, ngày 12-3-2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã
ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW Về công tác tôn giáo. Văn kiện đã trở thành nền
tảng chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo trong thời kỳ đổi
mới. Tư tưởng của Nghị quyết 25 được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
Hoạt động tôn
giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng
bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp
của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng
dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn
giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính
sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn
giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán
chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo
tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng
để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt
tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động
viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ
quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó
có đồng bào các tôn giáo nói riêng.
Giữ gìn và
phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công
dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng,
tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của
Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an
ninh quốc gia.
Công tác tôn
giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh thần và vật chất
của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bố ở mọi
vùng, miền, địa phương trong cả nước.
Mọi tín đồ đều
có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của
pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo
pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo
chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở
thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng
như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không
được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được
ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo.
Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4-2006) tiếp tục
khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn
kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn
giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau,
đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị
văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo
và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Các tổ chức tôn
giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt
các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn
hoá của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
làm công tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các
hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất
nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân".
Cương lĩnh
ghi: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng,
tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối
với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn
giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Trong báo cáo chính trị tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính
sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát
huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ
chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các
tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của cỏc tổ chức tôn giáo
đó đựơc Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động
phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục nhấn mạnh: “ Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống
tốt đời đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo
đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương,
điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp
và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”..
Sau khi có các
Nghị quyết về công tác tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới, các văn bản quy
phạm pháp luật của Nhà nước đã thể chế hóa tư tưởng đổi mới đối với tôn giáo.
Trước hết phải kể đến Hiến pháp năm 1992, 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới,
đã kế thừa và phát triển các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, thể hiện tư tưởng đổi
mới về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp đã khẳng định: "Công dân
có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng,
tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn
giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của
Nhà nước"./.
Không để kẻ xấu lợi dụng "bất tuân dân sự" để kích động, chống phá
Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các phương pháp, cách thức chống phá trên mọi lĩnh vực xã hội, trong đó, chúng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn mới là "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH), tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Bản chất "bất tuân dân sự" là coi thường kỷ cương phép nước
Thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của bài luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước.
Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó có Việt Nam và những nước không cùng phe với họ. “Phương thức hoạt động” này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lập luận, “xã hội dân sự” là “đối quyền của quyền lực nhà nước” để tập trung đòi thực hiện trách nhiệm xã hội, chia sẻ quyền lực chính trị cho “xã hội dân sự”; thực chất là cổ vũ tư tưởng coi nhà nước đối lập với “xã hội dân sự”; kích động thái độ vô chính phủ hòng từng bước đưa “xã hội dân sự” thành lực lượng đối trọng với nhà nước; chủ nghĩa đế quốc coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chính quyền nhà nước.
Bản chất và phương thức của "bất tuân dân sự"
Xét trên phương diện đó, có thể thấy "bất tuân dân sự" có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Là hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước; gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, pháp luật. Những người tham gia “bất tuân dân sự" thể hiện sự phản kháng, không tuân thủ pháp luật thông qua hình thức đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động”. Tuy nhiên, tính chất “bất bạo động” có thể chuyển hóa thành bạo động rất nhanh chóng trong những hoàn cảnh cụ thể; khi gặp thời cơ thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi.
Mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản. Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Đối với Việt Nam, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền”,“dân tộc, tôn giáo” hoặc lợi dụng các sự kiện chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động, như: Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, phản đối đặt trạm thu phí, bảo vệ chủ quyền biển, đảo... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Chủ thể tiến hành là những cá nhân, tổ chức phản động như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”. Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội nhóm hoạt động “bất bạo động”. Chúng thông qua mạng xã hội, internet, rải truyền đơn, tờ rơi... để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động do chúng chỉ đạo.
Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ về kinh tế-xã hội mà còn gây ảnh hưởng đến ANCT-TTATXH, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017, vụ người dân tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai... xuống đường phản đối Dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Luật An ninh mạng năm 2018... các đối tượng đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội.
Thực tế ở Việt Nam những năm qua đã cho thấy, để thực hiện “bất tuân dân sự”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy quyền tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực xã hội và liên kết hình thành các hội, nhóm “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ... thu hút các tầng lớp xã hội tham gia, như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”… Chúng lợi dụng sơ hở của chính quyền trong thực thi pháp luật để lôi kéo người tham gia phát triển lực lượng hoạt động theo kiểu “bất bạo động” xâm phạm ANCT-TTATXH. Đặc biệt, các đối tượng thù địch tìm cách lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân tích cực tham gia phản biện chính sách, phản biện xã hội, tác động và gây sức ép đòi thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Không để kẻ xấu lợi dụng, chống phá
Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền của người dân được bày tỏ quan điểm một cách công khai đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là với Nhà nước trên cơ sở pháp luật; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm hoạt động lợi dụng quyền và tự do cơ bản của con người để gây mất ổn định. Mọi công dân đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, không cá nhân nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm và xử lý nghiêm bất kỳ ai tham gia “bất tuân dân sự” cản trở thực thi pháp luật, chống đối chính quyền, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân.
Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động này, cần thực hiện các giải pháp trọng tâm sau:
Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” xâm phạm ANCT-TTATXH nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng phương thức này chống phá Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất của “bất tuân dân sự”, về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội Việt Nam, coi đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không gây sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.
Ba là, tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh thông tin, quản lý internet, tích cực đấu tranh ngăn chặn việc tán phát tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... ở nước ta. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, trang bị các phương tiện thiết bị hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet… đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động "bất tuân dân sự".
Bốn là, cần quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay biểu tình, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cốt cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của người dân trên cơ sở pháp luật; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, vì nhân dân; tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân trên cơ sở pháp luật.
Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm
Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.
"Bất tuân dân sự" - lịch sử và sự biến tướng
Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela...
Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự".
Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng.
Nhận diện bản chất
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về "bất tuân dân sự" nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số đạo luật nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật.
“Bất tuân dân sự" là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, "bất tuân dân sự" về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).
"Bất tuân dân sự" hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương "bất tuân dân sự", hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay "châm ngòi" thành công.
Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, "bất tuân dân sự" là bước khởi đầu của một cuộc "cách mạng mềm" nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp.
Đẩy lùi những chiêu trò “bất tuân dân sự” ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời...
Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.
“Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...
Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:
Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…
Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự".
Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo...
Nhận diện và phòng, chống hoạt động “bất tuân dân sự” ở nước ta
Hiểu theo nghĩa phổ thông, “bất tuân dân sự” là hoạt động phản kháng bất bạo động nhằm công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật, gây cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Ở Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng hoạt động "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị (ANCT), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH).
Ra đời từ rất sớm (thế kỷ 19), thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Thoreau cho rằng, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể chống lại luật pháp của nhà nước nếu thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
Thoreau đề cao quyền tự quyết của mỗi cá nhân hơn là sự phục tùng theo đa số, theo cộng đồng và các cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà họ cho là đúng. Tác giả cho rằng, về bản chất "bất tuân dân sự" chính là “bất tuân nhà nước”. Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" đã được phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những nước không cùng phe với họ.
Phương thức hoạt động này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới dưới những tên gọi khác nhau như: "Cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi năm 2010; phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công - Trung Quốc năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Các nước phương Tây luôn coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chế độ chính trị ở một quốc gia. Có thể thấy "bất tuân dân sự" mang một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, về mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật; các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.
Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa, bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc lợi dụng những vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động với mưu đồ được gọi là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trả lại đất đai cho người dân... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, về chủ thể tiến hành, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị và những người dân có trình độ thấp, ngộ nhận, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bị lừa bịp, mua chuộc tham gia; đứng sau hậu thuẫn là các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong do phương Tây hậu thuẫn lập ra như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”.
Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội/nhóm hoạt động theo hình thức “bất bạo động”. Các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội, internet để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” do chúng chỉ đạo.
Thứ ba, về thời điểm, các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; thời điểm có các đoàn nguyên thủ quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; lợi dụng bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia... để kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự” và đưa ra những yêu sách, như: “Đòi bảo vệ chủ quyền, môi trường”, đòi “tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”... gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Khi gặp thời điểm thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi, các thế lực thù địch có thể chuyển hóa từ hình thức bất bạo động thành bạo động rất nhanh chóng.
Khi đó, các đối tượng cộm cán, cầm đầu kêu gọi, kích động những người tham gia đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động” tiến hành các hoạt động bạo loạn như đập phá tài sản nhà nước và công dân; chiếm trụ sở chính quyền; bắt giữ người thi hành công vụ; cản trở hoạt động bình thường của xã hội... qua đó nhằm thực hiện kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” xâm phạm ANCT, TTATXH ở địa phương. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017; vụ tụ tập đông người tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai...
Bằng những phương thức và thủ đoạn nêu trên, các đối tượng kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý những người vi phạm pháp luật; các đối tượng phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước và kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp.
Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm chống phá nước ta, cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “bất tuân dân sự” để xâm phạm ANCT, TTATXH; về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động này. Quan tâm, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, phát huy tác dụng của các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... của các thế lực thù địch hòng kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc... để khắc phục; đồng thời phối hợp giải quyết dứt điểm các điểm nóng về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm tốt các quyền tự do dân chủ của người dân, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ANCT, TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Bốn là, quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, tuần hành theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay lãn công, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cộm cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cộm cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, dân tộc, đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích của người dân. Các ban, bộ, ngành chức năng thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc, đất đai, các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế.
Nâng cao nhận thức về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Đảng bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) hiện nay có 249 chi bộ trực thuộc và hơn 11 ngàn đảng viên. Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước hàng đầu, chủ chốt trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực luôn được Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) quan tâm chú trọng, quyết liệt triển khai những hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng nói chung và BIDV luôn phát triển lành mạnh, ổn định và hiệu quả.
Nhận thức toàn diện về tham nhũng, tiêu cực
Nhận diện và chủ động tích cực phòng ngừa về tham nhũng, tiêu cực là một trong các nội dung đề cập trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trong phần thứ nhất của cuốn sách viết về một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam. Trước đây, Đảng ta chủ yếu quan tâm đến tác hại trước mắt, về vật chất kinh tế, nay Đảng nhìn rõ hơn tác hại tiềm ẩn, khôn lường của tham nhũng, tiêu cực là làm mất cán bộ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cuối cùng là mất chế độ. Vị trí, vai trò của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng được Đảng ta coi trọng và nhận thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn.
Hiện nay, tham nhũng, tiêu cực không chỉ xảy ra trong các hoạt động thuộc khu vực nhà nước, mà còn có sự giúp sức, hỗ trợ đắc lực của các đối tượng hoạt động ngoài khu vực nhà nước. Sự cấu kết giữa những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất trong khu vực nhà nước với những đối tượng hoạt động ngoài khu vực nhà nước trong các ngành nghề lĩnh vực khác nhau là một dấu hiệu có tính phổ biến hiện nay của tội phạm tham nhũng, tiêu cực như Vụ án tham nhũng, tiêu cực xảy ra tại Công ty Việt Á đã làm tha hóa nhiều cán bộ ở Trung ương và địa phương, với số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự lên đến hàng trăm người, vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, gần đây nhất là vụ án ở Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) đã gây ra những thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế, cơ quan chức năng đã khởi tố nhiều cán bộ nhận hối lộ... Do đó, Đảng đã từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ra ngoài khu vực nhà nước để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện đồng bộ, hiệu quả.
Tại Đại hội VI, Đảng chỉ rõ, tham nhũng “làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước”; đặc biệt, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tham nhũng được Đảng ta nhận diện là “một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam”; đến Đại hội IX đã trở thành “một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta” đến Đại hội XI, Đảng xác định tham nhũng “đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”; Đại hội XII, Đảng xác định tham nhũng “là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước” và đến nay, Đại hội XIII của Đảng xác định tham nhũng “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Điều đó cho thấy, Đảng ta luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và tác hại của tệ tham nhũng ở mức độ cao nhất.
Đặc biệt, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được gắn với phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân sâu xa của tham nhũng là do chủ nghĩa cá nhân, do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Vì vậy, phải chấn chỉnh, uốn nắn từ suy nghĩ, nhận thức mới có thể phòng, chống từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc tình trạng tham nhũng.
Đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, với nhận thức đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát, định hướng toàn bộ phương châm, tư tưởng hành động và các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đó là “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”. Nhân tố quyết định việc thực hiện thành công mục tiêu đó là sự lãnh đạo trực tiếp, chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng.
Thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước được Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai và không có “hạ cánh an toàn” được nhân dân đồng tình ủng hộ và quốc tế ghi nhận. Một số trường hợp cán bộ lãnh đạo không đủ uy tín, năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc để cơ quan cấp dưới tham nhũng… đã xin thôi giữ chức vụ. Bên cạnh đó, Đảng đã chỉ đạo từng bước đẩy mạnh đàm phán, ký kết các các thỏa thuận về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm với các nước; phối hợp chặt chẽ với cơ quan tư pháp của các nước, các tổ chức quốc tế để truy bắt, dẫn độ các đối tượng phạm tội tham nhũng lẩn trốn, chuyển giao tài liệu, chứng cứ và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Từ đó cho thấy rõ quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, nói đi đôi với làm của Đảng, Nhà nước trong việc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây không chỉ là tuyên ngôn mà đã trở thành quyết tâm chính trị và hành động thực tế.
Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí, mà nòng cốt là các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tư tưởng, phương châm chỉ đạo xuyên suốt là kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, không nghỉ, không ngừng; chủ động, tích cực phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó phòng là chính, là cơ bản, lâu dài, chống là quan trọng, cấp bách. Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực càng đi vào chiều sâu, quan điểm chỉ đạo của Đảng ngày càng thể hiện sự quyết tâm, quyết liệt, mạnh mẽ với tham nhũng, tiêu cực. Các biện pháp chính trị tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực; đồng bộ giữa xử lý kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng thực hiện trước, tạo tiền đề để xử lý kỷ luật hành chính, đoàn thể và xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng nghiêm hơn xử lý theo pháp luật.
Quyết liệt phòng chống tham nhũng, tiêu cực tại Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV)
Thấm nhuần tư tưởng, đường lối chính sách của Đảng và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp trung ương, NHNN về phòng chống tham nhũng, Đảng ủy BIDV đã quán triệt, triển khai đầy đủ nghiêm túc các đường lối, chủ trương, chính sách, hướng dẫn của cấp trên tới toàn thể Đảng viên, người lao động trong toàn hệ thống. Xem công tác phòng chống tham nhũng là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt trong chỉ đạo điều hành của toàn Đảng bộ cũng như toàn hệ thống để xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; kiên quyết đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đảng bộ đã lãnh đạo tuyên truyền, quán triệt đầy đủ các văn bản chỉ đạo của cấp trên tới Đảng viên, người lao động trong toàn hệ thống BIDV. Đồng thời đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn tuyên truyền, triển khai thực hiện các nội dung công tác phòng chống tham nhũng trong toàn Đảng bộ như xây dựng Kế hoạch triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng về nội dung cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, xây dựng Chương trình công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và tội phạm hàng năm. Đảng ủy BIDV đã quyết liệt chỉ đạo Đảng uỷ và Ban lãnh đạo BIDV, các đảng viên đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn đảng, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đảng uỷ BIDV đã tổ chức các Hội nghị quán triệt và học tập các nghị quyết của Đảng. Trong các hội nghị, nội dung về phòng, chống tham nhũng đều được Đảng ủy và Ban lãnh đạo BIDV triển khai bài bản, cụ thể. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công khai, minh bạch hoạt động công tác cán bộ, công tác tài chính, đầu tư,… Tăng cường vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong việc thực hiện công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Đồng chí Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phòng chống, tham nhũng, tiêu cực và tội phạm với quyết tâm cao, hành động mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả trong đó đẩy mạnh xây dựng văn hóa tiết kiệm, liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và người lao động; rà soát, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách quy định quản lý, hoạt động ngân hàng; hoàn thiện và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và tội phạm. Toàn Đảng bộ nghiêm túc thực hiện công tác kê khai tài sản, thu nhập hàng năm theo quy định. Công tác luân chuyển cán bộ được chú trọng, triển khai thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và yêu cầu kiểm soát nội bộ.
Ngay sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực từ 01/7/2019, Hội đồng quản trị BIDV đã ra Quyết định số 660/QĐ-BIDV ngày 10/07/2019 (về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và tội phạm của BIDV). Đảng ủy BIDV đã ban hành các Nghị quyết về việc Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng và tội phạm. Mô hình tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng tại BIDV được hoàn thiện; các nghị quyết, văn bản chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng được ban hành tạo cơ sở vững chắc để toàn hệ thống BIDV triển khai; đẩy mạnh phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban thanh tra nhân dân, Công đoàn, Đoàn Thanh niên trong công tác phối hợp phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Trong hoạt động kinh doanh, BIDV luôn chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của công tác chính trị tư tưởng. Văn hóa doanh nghiệp và đạo đức nghề nghiệp được đề cao thông qua việc duy trì, kiểm tra việc chấp hành bộ quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử cũng như các quy định về phong cách, không gian làm việc của BIDV trong toàn hệ thống, nhận diện VHKSRR trong hoạt động nghiệp vụ. Văn hóa doanh nghiệp luôn được bồi đắp, lan tỏa, thẩm thấu trong từng hoạt động của hệ thống BIDV. Những nét văn hóa đặc trưng mang đậm tính chất ngành nghề và đã trở thành nét đẹp truyền thống của BIDV có thể kể đến là: Hệ giá trị cốt lõi “Trí tuệ - Niềm tin - Liêm chính - Chuyên nghiệp - Khát vọng”. Trong đó, Liêm chính là giá trị trung tâm, dẫn dắt mỗi đảng viên, cán bộ BIDV hiểu và coi trọng danh dự bản thân, trách nhiệm với nghề nghiệp bằng những hành động trung thực, thượng tôn pháp luật, tôn trọng lẽ phải, tuân theo các chuẩn mực đạo đức, đấu tranh chống “cái sai”, bảo vệ “cái đúng”. Hệ giá trị tư tưởng này đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cho các cấp, từng cá nhân tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp, minh bạch trong các mối quan hệ liên quan đến lợi ích, thẳng thắn, nghiêm túc với bản thân và người xung quanh.
Đảng bộ BIDV đã thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, quy định của Trung ương, Đảng ủy Khối về công tác phòng, chống, tham nhũng, lãng phí. Đảng ủy BIDV mà người đứng đầu là đồng chí Bí thư luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống, tham nhũng, lãng phí, liên tục đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị mạnh mẽ; quán triệt tới toàn thể đảng viên, người lao động trong hệ thống rèn luyện, thực hiện các quy định về các giá trị văn hóa, quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử trong các mối quan hệ công tác của toàn thể cán bộ, người lao động BIDV đã được nêu tại Sổ tay văn hóa BIDV. Đề cao sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm và làm đi đôi với nói của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo đơn vị trong phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực.
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là công việc gian nan, khó khăn và lâu dài, không phải của riêng một người, một cơ quan hay một ngành, mà là công việc của toàn Đảng, toàn dân, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, bền bỉ vào công cuộc của cả hệ thống chính trị. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, Đảng viên và người lao động, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, rèn luyện phẩm chất liêm khiết, không tham nhũng, lãng phí. Đấu tranh phòng chống tham nhũng chú trọng giáo dục, đạo đức liêm chính, răn đe, trừng phạt nghiêm minh và chăm lo đời sống thu nhập, để cán bộ, Đảng viên “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng”, “không muốn tham nhũng”. Mỗi cán bộ, đảng viên tại BIDV luôn không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, tự mình phải là một minh chứng sống, hiện thân của người cán bộ “liêm, dũng, chính, trực”. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, xứng đáng được Nhân dân đặt trọn niềm tin xây dựng Đảng tiên phong và hoàn toàn đủ năng lực lãnh đạo đất nước trong mọi thời kỳ.
Chi bộ Ban Nguồn vốn ủy thác quốc tế - Đảng bộ Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam