Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của một số quốc gia và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Nền kinh tế số của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á, với tổng giá trị hàng hóa (GMV) tăng 28%, từ 18 tỷ USD trong năm 2021 lên 23 tỷ USD năm 2022, nhờ sự tăng trưởng 26% của thương mại điện tử năm 2022 so với cùng kỳ năm 2021(1). Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế số, như môi trường thể chế và pháp lý cho phát triển kinh tế số chưa đồng bộ, minh bạch và mang tính kiến tạo; việc xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối dữ liệu còn manh mún, thiếu sự kết nối liên thông; nguồn nhân lực công nghệ - thông tin chưa đáp ứng yêu cầu; việc bảo đảm an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin chưa tốt... Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế để góp phần tìm kiếm giải pháp khắc phục những hạn chế trên có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nền kinh tế số của Việt Nam thời gian tới.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của một số quốc gia

Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức

Đức là quốc gia triển khai phát triển nền kinh tế số bằng chiến lược tổng thể, bài bản ở cả cấp độ quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Đức đã thành lập Phòng Công nghiệp 4.0 ở Bộ Kinh tế và Năng lượng, chịu trách nhiệm tham mưu và tổ chức triển khai chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong toàn quốc; thiết lập các tổ công tác đặc trách, như: tổ về xây dựng tiêu chuẩn, tổ về đào tạo - việc làm, tổ về an ninh mạng, tổ về xây dựng mô hình... để quản lý, điều hành từng lĩnh vực cụ thể. Chính phủ Đức cũng đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực: 1- Ứng dụng kỹ thuật số trong các ngành công nghiệp mới, như: robot thế hệ mới, phương tiện thông minh (xe tự lái, tàu điện tự lái, tàu ngầm tự lái, máy bay tự lái...), vật liệu thông minh, năng lượng thông minh. 2- Chuyển đổi mô hình đào tạo nhân lực theo hướng đề cao tính linh hoạt, tính mở, tính tự chủ của các cơ sở đào tạo dựa trên đối thoại giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế số và tập trung đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kỹ năng số cho người lao động thông qua nhiều hình thức khác nhau. 3- Phát triển hệ thống sản xuất thông minh, nhà máy thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động. Trong hệ thống sản xuất thông minh của Đức, các nhà máy thông minh, các hàng hóa, dịch vụ bên trong, bên ngoài nhà máy, các khâu của quá trình sản xuất như các chuỗi giá trị sản phẩm, thiết kế cơ sở sản xuất, sản xuất, bảo trì… được tiêu chuẩn hóa và liên kết với nhau. Với sự liên kết này, cả khu vực sản xuất của Đức sẽ hoạt động như một nhà máy thông minh lớn (2).

Chính phủ Đức đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực như phát triển hệ thống sản xuất thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động_Nguồn: shutterstock.com

Kinh nghiệm của Estonia

Một biện pháp quan trọng mà Estonia áp dụng thành công trong phát triển kinh tế số là “Hạ tầng băng thông rộng của Estonia - Dự án Network” (EstWin), do Bộ Kinh tế Estonia khởi động vào năm 2009 với mục đích cung cấp 6.600km cáp quang ở các vùng nông thôn và các khu có ít hơn 10.000 dân. Đến năm 2020, 98% số hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức không được cách Estwin quá 1,5km và tất cả các nút mạng hiện có đều được kết nối với hệ thống mạng lõi. 85% số chi phí của Estwin được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khu vực châu Âu (ERDF), trong khi phần còn lại 15% số chi phí xây dựng mạng được đồng tài trợ bởi các nhà khai thác mạng hỗ trợ. Cùng với đó, Estonia còn có những chương trình, như Chương trình Nghị sự kỹ thuật số 2020 cho Estonia (Digital Agenda 2020 for Estonia), Chiến lược học tập suốt đời của Estonia năm 2020 (Estonian Lifelong Learning Strategy 2020) đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế số và chuyển đổi số của Estonia. Chính phủ Estonia đã thực hiện chương trình sử dụng thẻ điện tử nhằm hỗ trợ cho người dân, tạo kết cấu hạ tầng thông tin kỹ thuật số X-road, từ đó người dân có thể truy cập bằng E-ID của họ. Hằng năm, các dữ liệu dân cư được cho phép thêm vào bởi các thiết lập mở. Hệ thống thông tin được cung cấp đầy đủ, như bảo hiểm, đăng ký xe, căn cước..., cho phép người dân sử dụng các dịch vụ, như: bỏ phiếu điện tử, thuế trực tuyến, y tế trực tuyến..., giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc thay vì đăng ký và kê khai các dịch vụ trên giấy. Ngoài ra, Estonia luôn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Năm 1995, ý tưởng “Bước nhảy của hổ” đã mang lại sự phát triển về giáo dục cho Estonia. Năm 2018, nhân lực của Estonia đứng thứ 10, hoạt động tốt hơn mức trung bình của EU. Các chương trình “The Digital Agenda 2020 for Estonia”, “Estonian Lifelong Learning Strategy 2020” của Estonia đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc phổ cập kỹ năng số cho người dân với chiến lược học tập suốt đời là: “Tập trung kỹ thuật số vào học tập suốt đời” là ưu tiên hàng đầu vì chúng là tiền đề của thị trường lao động toàn diện, cải thiện năng suất, tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản đã áp dụng thành công chiến lược đầu tư nhằm tăng năng suất của nền kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh phát triển kinh tế số. Chiến lược này tập trung vào các nội dung: Tái cơ cấu các ngành kinh tế và việc làm để thích ứng với kinh tế số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; bảo đảm hạ tầng an ninh thông tin để tăng cường an ninh mạng; thúc đẩy việc sử dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực kinh tế. Để xây dựng, thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia công nghệ thông tin tiên tiến nhất thế giới, Nhật Bản xác định công nghệ thông tin là trụ cột của chiến lược tăng trưởng, là giải pháp giúp vượt qua tình trạng trì trệ và thúc đẩy phục hồi kinh tế. Tiếp đến là chiến lược về an ninh mạng, trong đó, tập trung vào ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực để tăng cường khả năng phát hiện, chống lại các cuộc tấn công mạng. Chiến lược này nhằm tăng cường việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin cho nền kinh tế Nhật Bản thông qua việc phát triển các hệ thống IoT an toàn, tạo ra một xã hội an toàn cho người dân.

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong định hướng chính sách phát triển kinh tế số, Trung Quốc thực hiện việc bảo hộ thị trường công nghệ số trong nước để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, khẳng định vị thế độc quyền. Các doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ để chiếm lĩnh thị trường công nghệ số trong nước trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực, ngành công nghệ số. Hiện nay, Trung Quốc nằm trong top ba thế giới về đầu tư vốn mạo hiểm vào các loại công nghệ kỹ thuật số quan trọng, bao gồm thực tế ảo, xe tự hành, in 3-D, robot, máy bay không người lái và trí tuệ nhân tạo (AI)... Về chính sách quy hoạch, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ số, trước hết, Trung Quốc tập trung vào những lĩnh vực công nghệ số đòi hỏi công nghệ vừa phải, như thương mại điện tử, sau đó mới tiến tới phát triển những lĩnh vực công nghệ số khó hơn, như trí tuệ nhân tạo, robot,...

Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng tạo điều kiện và không gian để các doanh nghiệp số thử nghiệm, đồng thời vừa là nhà đầu tư, vừa là người tiêu dùng các công nghệ số khi chú trọng việc phát triển, chuyển đổi các phương thức, giao dịch trong nền kinh tế sang sử dụng công nghệ số, tập trung vào việc phát triển chính phủ điện tử, ngân hàng điện tử, giao dịch điển tử và thương mại điện tử. Ngay từ năm 2010, Trung Quốc đã chủ trương thành lập chính phủ điện tử bằng việc phát triển chữ ký điện tử, yêu cầu các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương phải thiết lập trang web riêng, cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến tạo thuận lợi cho công việc và đời sống của người dân. Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đang dần được thay thế bằng các phương thức thanh toán điện tử hiện đại như quét mã QR, thanh toán bằng ví điện tử. Đến nay, hai ứng dụng thanh toán điện tử phổ biến nhất hằng ngày tại Trung Quốc là WeChat Pay (Tenpay) của Tencent và Alipay của Alibaba thông qua điện thoại di động và đòi hỏi người dùng phải đăng ký bằng tên thật, kết nối với tài khoản ngân hàng (3).

Kinh nghiệm của Malaysia

Malaysia là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á ban hành và thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu (Data Protection Act). Chính phủ Malaysia cũng đề ra một số kế hoạch và dự án nhằm nâng cao hạ tầng kinh tế số của quốc gia này, như: dự án High Speed Broadband (HSBB) giai đoạn 2020 - 2025; Sub - Urban Broadband (SUBB) giai đoạn 2015 - 2020; Rural Broadband (RBB) năm 2020. Theo đó, Dự án HSBB 1 đã cung cấp hơn 1 triệu cổng kết nối với tốc độ 10Mb/s; dự án HSBB 2 cung cấp 390.000 cổng mới cho các thủ phủ của tiểu bang, thị trấn và các khu vực tăng trưởng cao sử dụng FTTH, ETTH và VDSL lên đến 100Mbps; dự án RBB mở rộng dịch vụ băng thông rộng tại nông thôn; dự án SUBB cung cấp 420.000 cổng mới từ 421 sàn giao dịch và nâng cấp các đường dây đồng hiện có cung cấp băng thông rộng ở các vùng ngoại ô và nông thôn bên ngoài khu vực HSBB và HSBB2 với tốc độ 20Mbps.

Chương trình: “MSC Malaysia” (MSC) với mục tiêu hỗ trợ công ty công nghệ địa phương phát triển, thu hút vốn trong và ngoài nước đã mang lại thành quả rõ rệt. Chương trình “Doanh nhân công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) là chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá rõ nét của Malaysia. Điều đặc biệt của chương trình này là hỗ trợ các thành viên, các doanh nghiệp tham gia được hưởng những ưu đãi về thuế, cụ thể: 70%- 100% số thuế thu nhập của doanh nghiệp sẽ được cắt giảm trong vòng 5 - 10 năm nếu tuân thủ đầy đủ những điều kiện mà chương trình đưa ra. Ngoài ra, MSC còn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế số thông qua những tiện ích nhằm hội tụ không chỉ các doanh nghiệp mà cả những sinh viên, học viên và các chuyên gia trong lĩnh vực thành những khối gắn với mục tiêu khuyến khích sự chia sẻ nguồn lực, hợp tác và tiếp cận các phương pháp hiệu quả.

Bên cạnh đó, Malaysia xây dựng “Chương trình Doanh nhân Công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. MTEP có thể trao cơ hội cho những doanh nhân mong muốn xây dựng các dự án kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ bằng cách cấp thị thực 1 năm đối với người chưa có kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp và 5 năm cho những người đã có kinh nghiệm. Trong kế hoạch tổng thể về kinh tế số, Malaysia nhấn mạnh vào phát triển thương mại điện tử bởi vì Malaysia xác định đó là hướng phát triển phù hợp trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP) đi vào thực hiện. Cùng với phát triển thương mại điện tử, Malaysia cũng thúc đẩy mạnh việc chuyển đổi số trong lĩnh vực dịch vụ công. Quốc gia này thành lập Bộ phận quản lý và hiện đại hóa hành chính Malaysia (MAMPU) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng để chuyển đổi hoạt động cung cấp dịch vụ công thông qua đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Mục tiêu chính của MAMPU là phát triển dữ liệu số, đám mây và an ninh mạng trong việc cung cấp các dịch vụ công.

Malaysia có các chương trình bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật số, như eUshawan với số lượng người tham gia trong các năm 2020, 2021 và 2022 lần lượt là 3.108; 51.203 và 102.269 người. Đây là chương trình đào tạo với mục đích truyền tải những giá trị, kiến thức về kinh doanh kỹ thuật số đến những người kinh doanh trẻ ở khu vực nông thôn, giúp họ ứng dụng kỹ năng về truyền thông, quảng cáo để tăng doanh số bán hàng và cải thiện thu nhập. Đồng thời, với nền tảng “eRezeki”, Chính phủ Malaysia cũng tạo nhiều cơ hội việc làm cho người dân Malaysia, từ những người thợ sửa ống nước đến những người phụ nữ nội trợ. Thông qua đây, họ có thể đăng ký để trở thành những công nhân kỹ thuật số, làm những nhiệm vụ dựa trên các kỹ năng kỹ thuật số đơn giản và kiếm thêm thu nhập mà không phải ra khỏi nhà(4).

Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Xu hướng phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những năm gần đây, các hoạt động kinh tế số đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và được Chính phủ quan tâm, ưu tiên phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm tỷ lệ 20% GDP. Quyết định số 505/QĐ-TTg, ngày 22-4-2022, của Thủ tướng Chính phủ, lấy ngày 10-10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, mở rộng.

Thanh niên bán hàng trực tuyến các sản phẩm OCOP tại Diễn đàn Chuyển đổi số trong truyền thông quảng bá sản phẩm OCOP của thanh niên với nội dung "Khai thác tiềm năng kinh tế số trong xúc tiến quảng bá sản phẩm OCOP"_Ảnh: TTXVN

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản cụ thể, như: Chuyển đổi Số Quốc gia (NCSI – National Digitalization Score): Đây là một chỉ số kết hợp bao gồm: Đo lường mức độ phát triển của chuyển đổi số ở một quốc gia dựa trên các chỉ số con, như: hạ tầng kỹ thuật, môi trường kinh doanh và sự tham gia của người dân. Chuyển đổi Kỹ thuật số (DCI – Digital Readiness Index): Đánh giá khả năng của một quốc gia thích nghi với cuộc cách mạng số hóa. Nó tập trung vào yếu tố hạ tầng kỹ thuật số, sự thúc đẩy và môi trường kinh doanh. Phát triển Kỹ thuật số Thế giới (GDI – Global Digital Development Index): Chỉ số này đo lường mức độ phát triển kỹ thuật số ở các quốc gia dựa trên các yếu tố kỹ thuật số, kinh tế số và xã hội số. Kết nối toàn cầu (GCI – Global Connectivity Index): Chỉ số này tập trung vào mức độ kết nối mạng và hạ tầng kỹ thuật số của các quốc gia. Đổi mới kỹ thuật số (DMI – Digital Maturity Index): Đánh giá mức độ phát triển kỹ thuật số dựa trên khả năng vận dụng và thích nghi với các công nghệ số hóa trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các chỉ số này giúp cung cấp cho cơ quan nhà nước và Chính phủ cái nhìn tổng quan về tình hình chuyển đổi số ở quốc gia và thúc đẩy sự cải thiện trong các lĩnh vực liên quan đến cuộc cách mạng số hóa.

Từ việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu (Đức, Estonia), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia) về phát triển kinh tế số (chiến lược, chính sách) trên đây, một số hàm ý chính sách có thể áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2030 nhằm phát triển kinh tế số.

Thứ nhấthoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng trước hết đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh, thành. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số giúp các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp công nghệ số. Điều này bao gồm cả các chính sách tác động thuận lợi tới môi trường kinh tế kỹ thuật số, cũng như các chính sách thúc đẩy tiếp cận kết cấu hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật số với chi phí hợp lý. Cải cách chính sách thuế và quy định sẽ giúp thu hút đầu tư vào nền kinh tế kỹ thuật số, hỗ trợ quá trình chuyển đổi ngành do kết quả của các mô hình kinh doanh mới.

Song song với hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số, Việt Nam cần xây dựng các kế hoạch, hướng dẫn rất cụ thể về chuyển đổi số cho các doanh nghiệp; các kế hoạch này cần gắn liền với các nguồn tài chính, kinh phí hằng năm để nhằm tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với kinh tế số.

Thứ haixác định rõ ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số

Việt Nam cần căn cứ vào thế mạnh và đặc điểm của từng địa phương để xác định rõ những ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số. Trước mắt, các tỉnh, thành phố nên tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng vì những lĩnh vực này giúp các địa phương tận dụng được những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết (CPTPP, EVFTA, EVIPA) nhưng cũng không đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Đồng thời, các tỉnh, thành phố nên phát triển những lĩnh vực nền tảng của kinh tế số, như hạ tầng số, tài nguyên số, dịch vụ số, thị trường số và có kế hoạch, chiến lược bài bản để tiếp cận, làm chủ những công nghệ quan trọng, cốt lõi của kinh tế số thông qua các chính sách hỗ trợ và trong hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài.

Thứ batuyên truyền nâng cao nhận thức toàn xã hội về nền kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng hoạt động tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp về kinh tế số, các lợi ích và thách thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt thông qua các cơ quan, doanh nghiệp và trường học. Đồng thời, các cơ quan báo chí, truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội có nhận thức đúng về nền kinh tế số, qua đó có sự chuẩn bị tốt nhất cho thích ứng xu hướng phát triển trên. Biện pháp này cũng đồng thời giúp tăng cường trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng kinh tế số.

Thứ tưchú trọng phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số

Vấn đề này đã được các quốc gia phát triển chú trọng từ lâu, nhưng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, Việt Nam cần dành nhiều nguồn lực hơn cho phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số. Trong đó, nên tập trung phát triển, thu hút các chuyên gia về công nghệ số, các doanh nhân số thông qua các chính sách phù hợp. Đồng thời, cần định hướng phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất thông minh của nền kinh tế tri thức; đổi mới, hiện đại hóa chương trình đào tạo đại học, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố, chuyển mạnh từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Thứ nămtập trung đầu tư cơ sở vật chất trong quá trình phát triển kinh tế số

Cơ sở vật chất là nền tảng của quá trình phát triển kinh tế số. Do đó, Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng làm chủ công nghệ lõi. Trung ương cần phối hợp với tỉnh, thành phố nhằm phát triển hạ tầng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp bảo đảm đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin và các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng, phát triển hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao. Nâng cấp mạng di động 4G, phát triển mạng di động 5G để có thể theo kịp xu hướng thế giới. Bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với internet tốc độ cao. Chiến lược cung cấp kết nối phải bao trùm nhất có thể, phổ cập internet cáp quang băng thông rộng tốc độ cao tới mỗi hộ gia đình, phổ cập dịch vụ điện toán đám mây tới mỗi cơ quan, doanh nghiệp, phổ cập công nghệ 4G, 5G tới mỗi người dân. Để có đủ nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng số, cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế có đủ năng lực tham gia đầu tư nhưng có cân nhắc với các phạm vi nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia(5).

Cần nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện nền tảng số phục vụ việc đơn giản hoá thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ số để làm các thủ tục trực tuyến một cách thuận tiện, nhanh chóng, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu. Xây dựng chính quyền điện tử sẽ giúp tăng hiệu quả dịch vụ công, đồng thời mở rộng thị trường cho sự phát triển của ngành dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông. Ngoài ra, cần chú trọng vấn đề bảo đảm an ninh mạng và hoạt động mạng bằng cách gia tăng số lượng máy chủ an toàn và phát triển khả năng bảo mật không gian mạng để giám sát các mối đe dọa trực tuyến. Các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế về các luồng dữ liệu, bảo mật, giảm các rào cản đối với thương mại trực tuyến trong và ngoài nước cũng như các quyền và sự đòi hỏi của công dân liên quan đến quyền riêng tư và lưu trữ dữ liệu./.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân


Huy động mọi lực lượng, mọi cấp, mọi ngành tham gia vào đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đê tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Gắn kết chặt chẽ các hoạt động, các lực lượng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Phát huy vai trò làm nòng cốt vững chắc của lực lượng vũ trang, Quân đội, công an nhân dân trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải gắn chặt với đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao... về mục tiêu, lực lượng, phương thức, chương trình, kế hoạch..Bảo đảm thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.Bảo đảm phát huy vai trò năng động, sáng tạo, thế mạnh của mỗi lĩnh vực. Không chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi lĩnh vực. 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA : NGÀY 03 THÁNG 01 NĂM 1958!

     “Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”!
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, viết vào tháng 1-1959, trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng bom đạn để đàn áp, giết hại nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và cấu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương cách mạng - nhân tố quyết định đến những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lời của Người đầu năm 1959 đã khích lệ, cố vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, vượt qua khó khăn, thử thách, đoàn kết đồng khởi, quyết tâm đấu tranh diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, giành chính quyền, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, hình thành một cao trào cách mạng đồng khởi vũ trang của quần chúng rộng khắp, tạo tiền đề đẩy nhanh thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; song lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm ấy đến hôm nay vẫn đang lan tỏa sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết, kiên trì, sáng tạo đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn ghi sâu lời Bác, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cho quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
Môi trường ST.

Bồi dưỡng đội ngũ giáo dục, tuyên truyền trong giai cấp công nhân

 

 


Để làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục công nhân trong điều kiện hiện nay, phải bồi dưỡng, đào tạo được một đội ngũ những người làm công tác giáo dục có tài năng, hùng biện, hiểu biết sâu rộng về lý luận và thực tiễn, về công nhân và phong trào công nhân. Nhưng điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là phải bằng những việc làm thực tế của Đảng và Nhà nước mang lại quyền lợi thiết thực về vật chất và tinh thần cho công nhân, chứng tỏ trên thực tế tính ưu của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam về mọi phương diện trong việc chăm lo đến cuộc sống hằng ngày của công nhân và quần chúng lao động. Công tác giáo dục sẽ không có hiệu quả khi mà cuộc sống hằng ngày của quần chúng lao động vẫn còn nhiều khó khăn, tiêu cực; tham nhũng hoành hành; bất công xã hội ngày càng nhiều; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, thoái hoá, biến chất, sống xa dân, hư hỏng về đạo đức, lối sống, ...

Phát huy dân chủ trong Đảng làm trung tâm để thực hiên dân chủ ngoài xã hội.

 


Đảng cẩn tiếp tục đổi mới công tác lý luận, tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra. phương thức lãnh đạo theo hướng mở rộng dân chủ hơn nữa. Đảng phải thường xuyên coi trọng việc xây dựng, cũng cố Đảng về tổ chức, chăm lo công tác cán bộ; nâng cao trinh độ tri tuệ và chất lượng công tác lý luận với sức sáng tạo cao. Đường lối, chủ trương, chính sách phải luôn luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Không giáo điều, báo thủ.

Đảng phi thật sự thm nhuần dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ: tránh dân chủ hình thức. Đảng phái giành thắng lợi trong cuộc đẩu tranh lảm trong sạch Đảng vả chống tham nhũng, lãng phí. Hiện nay, đang có những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong đội ngũ cán bộ. đảng viên ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phá hoại quan hệ máu thịt giữa Đàng vả nhân dân

Cùng với việc chủ động nâng cao đạo đức trong Đng, phải rất coi trọng việc nâng cao trình độ trí tuệ của Đàng và thu hút được nhiều nhân tài vảo Đảng; đề phòng tính kiêu ngạo cộng sản, biết lắng nghe ý kiến kế cả những ý kiến trái tai.

Thực hiện tốt Di chúc cùa Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘"Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế vả văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sng của nhân dần. Đây là điểm mấu chốt để tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng vả nhân dân.

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

Nâng cao nhân thức cho toàn thể xã hội trong thực hiện dân chủ hiện nay

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Trước hết, nhân dân cần hiểu (nhận thức được) mình có những quyền gì cả ở tầm tổng quát, lâu dài, lẫn quyền cụ thể. Đó mới là thông tin về chủ thể. Để có dân chủ, còn cần có thông tin về khách thể: đó là cái gì, tình hình gì đã diễn ra, sự biến đổi của tình hình đó, tác động của sự biến đồi ấy tới môi trường xã hội và tự nhiên, những thông tin khác nhau về các vấn đề đó. Đây chính là những thông tin “đầu vào” để chủ thề quyền lực - nhân dân - có thể phân tích, phát hiện tình huống có vấn đề nhằm tham gia giám sát, phản biện, đề xuất giải pháp...

Để dân “hiểu” rõ mọi vấn đề, họ cần có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau, bình đẳng về thông tin (trừ những thông tin mật hoặc tuyệt mật) là điều kiện đầu tiên bảo đảm dân chủ khi tranh luận, thảo luận, tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Muốn vậy, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải nâng cao dân trí, phải làm cho hoạt động của nhân dân mang tính tự giác ngày càng cao thông qua công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục. Sức mạnh thật sự của chế độ, của Đảng cầm quyền, của Nhà nước thề hiện ở trình độ dân trí cao, xã hội năng động, người dân biết phát huy tối đa năng lực của mình. Tất cả những điều đó chỉ trong chế độ dân chủ mới có khả năng tạo ra được. Không dựa trên cơ chế dân chủ thì không có một thứ pháp luật, đạo đức hay công cụ nào có thể ngăn chặn hữu hiệu sự thao túng của các nhóm lợi ích, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Chất lượng dân chủ của một xã hội phải được đo bằng chuẩn bị thông tin, cung cấp thông tin đầy đủ cho nhân dân đề nhân dân được biết. Khi dân trí được nâng lên, nhân dân sẽ tham gia bàn bạc các công việc của xã hội, đất nước.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG. CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG”!

     Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 2-1-1967: “…Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 4660, ngày 10-1-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà!
Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tôn vinh những cá nhân, tập thể đã cống hiến, hy sinh xương máu vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt mấy chục năm; động viên, huấn thị mọi người, mọi tập thể hãy cố gắng hơn nữa, thi đua sản xuất, công tác và chiến đấu, lập nhiều thành tích to lớn, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Lời phát biểu năm ấy của Hồ Chí Minh đã lan tỏa tới quốc dân đồng bào, thâm nhập sâu vào quân đội, trở thành động lực thúc đẩy mọi cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua học tập, công tác, huấn luyện, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Đến hôm nay, lời phát biểu năm xưa của Người vẫn tỏa hào khí mạnh liệt, đang được mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, đoàn kết thi đua, nỗ lực thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; quan tâm tạo điều kiện để các tập thể, cá nhân anh hùng, điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy thành tích cao hơn nữa; phát động, khuyến khích, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực học tập, làm theo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội

 


Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải góp phần tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững chế độ chủ nghĩa xã hội trong mọi tình huống. Sức mạnh vật chất đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vừa phải dựa trên nền tảng chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, an ninh, đối ngoại…. của dân tộc và kết quả công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đang xây dựng. Quan điểm xem xét, nhìn nhận, giải quyết các vấn đề, các phương án, kế hoạch đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng... phải trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước.Luôn kiên định về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải luôn quán triệt, thực hiện tốt quan điểm lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất trong đấu tranh quốc phòng. Mọi hoạt động đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đều phải góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mọi mặt, đặc biệt là ổn định tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, Nhân dân để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng phát triển quan hệ đối ngoại của đất nước.

Vai trò của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận


Đảng, Nhà nước ta khẳng định vai trò quan trọng của đấu tranh quốc phòng trong thời kỳ mới

 Thứ nhất: Góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, "trận địa" tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, trong lực lượng vũ trang, trong quân đội nhân dân Việt Nam. Thứ hai: Bảo vệ vững chắc tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ ba: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt vững chắc cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống 

Mục tiêu đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay

 


 

Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tương sử dụng nhiều các hình thức khác nhau, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, như: tuyên bố, kêu gọi, công thư, điện đàm, công hàm, hội đàm, báo chí, truyền thông, hội thảo, tuyên truyền, vận động, quảng bá....Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chủ thể, đối tượng đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay

 


Chủ thể đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị tư tưởng là toàn dân, các cấp, các ngành, các địa phương, sức mạnh của cả nước, của các lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị để đấu tranh toàn diện, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ vai trò quản lý, điều hành; phát huy vai trò làm chủ của toàn xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân; Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng.

Đối tượng của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là các âm mưu, hành động, tư tưởng, quan điểm phê phán, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận, phá hoại chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiêu cực, đi ngược lại công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vận dụng lý luận đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay

 

       

Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh.”.7 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trước sự chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu cho thấu đáo, không được tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, nhưng cũng không được mơ hồ, xóa nhòa đi đấu tranh giai cấp. Việc nắm vững các lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta nhận diện được các luận điểm phản động, từ đó có những căn cứ và luận chứng sắc bén để đánh bại sự xuyên tạc của kẻ thù, qua đó bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững con đường mà đất nước ta đã lựa chọn.

Phủ nhận quan điểm: Sự vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.

 

Các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị cho rằng do kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam khác với các nước khác, nên sự vận dụng  quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lêninviệc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi phân tích, so sánh về đấu tranh giai cấp ở phương Đông và phương Tây, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ sự khác biệt do điều kiện kinh tế - xã hội quy định: “Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế không giống với các xã hội phương Tây thời trung cổ hay thời cận đại và đấu tranh ở đó không quyết liệt như ở đây” Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm phiến diện, giáo điều về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới. Trong điều kiện mới hiện nay, không được hiểu sai về nội dung đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác. Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, đã hình thành kết cấu xã hội - giai cấp đa dạng, phức tạp gồm nhiều giai tầng. Thực chất đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chống lại các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền và lợi ích của nhân dân.

Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng trong tình hình hiện nay

 


Đấu tranh Quốc phòng bảo vệ tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng tổng thể các biện pháp đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nhằm giữ vững, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ thống chính trị, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng là một bộ phận quan trọng của đấu tranh quốc phòng bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Là vấn đề quan trọng trong đấu tranh giai cấp hiện nay. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung căn bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết quả tất yếu của sự vận dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào xem xét lĩnh vực xã hội. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp đã và đang là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học để các đảng cộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới xác định đường lối chiến lược, sách lược trong cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Phủ nhận quan điểm cho rằng: Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin

 

      

Những kẻ chống đối chủ nghĩa Mác – Lênin còn cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin trong đó có lý luận về đấu tranh giai cấp. Sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu nơi được coi là thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến nhiều người, nhất là giới học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng quy chụp nguyên nhân của sự sụp đổ đó là do những sai lầm từ chủ nghĩa Mác. Từ đó, họ lên tiếng chống phá, bác bỏ chủ nghĩa Mác nói chung, bác bỏ quan điểm về giai cấp, đấu tranh giai cấp nói riêng. Các thế lực thù địch cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được” Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”. Mục đích của sự xuyên tạc này là nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội nói chung và về đấu tranh giai cấp nói riêng. Trước tiên, chúng ta không thể phủ nhận sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Sự sụp đổ đó cũng không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác, nó cũng không phải là do chủ nghĩa Mác đã lạc hậu, lỗi thời mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô “bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều và xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”. Sự phát triển của các nước theo con đường chủ nghĩa xã hội hiện nay đã chứng minh những luận điệu trên là thiếu tính khoa học, là sự bịa đặt hoang đường. Thực tế cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đổi mới để tìm kiếm những mô hình phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia - dân tộc mình. Trung Quốc với sự cải tổ của mình, ngày càng chứng tỏ được vị thế của họ trên thế giới; công cuộc đổi mới của Việt Nam, Lào, Cuba và một số trào lưu xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa Mác –Lênin.

Phủ nhận quan điểm cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”.


        Các thế lực thù địch, một số học giả tư sản đã cường điệu hóa quan điểm của C. Mác về đấu tranh giai cấp và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”. Họ cho rằng Mác lúc nào cũng chỉ nói đến đấu tranh giai cấp, đến bạo lực cách mạng, như vậy là kích động chiến tranh, cổ vũ cho bạo lực trong xã hội. Cần phải khẳng định, trong nhiều tác phẩm, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn cho rằng đấu tranh giai cấp không phải là những cuộc bạo loạn, khủng bố, lật đổ, chỉ có ý nghĩa phá hoại gây chia rẽ, bè phái, gây rối loạn, làm tổn thất cho xã hội mà là một quá trình tất yếu, khách quan của xã hội có áp bức giai cấp, là những cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động chống lại giai cấp thống trị. Nguyên nhân của cuộc đấu tranh giai cấp này bắt nguồn từ những mâu thuẫn về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế không thể điều hòa được giữa các giai cấp. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, nhằm xóa bỏ những cơ sở kinh tế của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế độ xã hội cũ lỗi thời, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn. Do vậy, đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển, chứ không phải là sự gây rối, phá hoại, chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”, đây là sự quy chụp vô căn cứ, không dựa trên bất cứ cơ sở khoa học nào.
        Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng là “bà đỡ” để đưa xã hội mới ra đời trong lòng xã hội cũ. Vấn đề xã hội mới trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng.

Phủ nhận quan điểm: Chủ nghĩa Mác- Lênin tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp


Các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin không hề tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, các ông luôn cho rằng giai cấp và đấu tranh giai cấp là một phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp. Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, theo C.Mác là mâu thuẫn giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất… Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” đó chính là cách mạng xã hội hay đấu tranh giai cấp. Trong Thư gửi Ioxp Vâyđơmaiơ C.Mác khẳng định: 1) Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3) Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp. 

Đấu tranh quốc phòng trong tình hình mới


Trong những năm tới, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, phát triển thành bạo loạn vũ trang, can thiệp quân sự, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có xu hướng gia tăng; chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng diễn ra thường xuyên, với quy mô khác nhau; xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm chiếm biển, đảo, xâm lấn biên giới bằng biện pháp phi vũ trang hoặc vũ trang; chiến tranh biển, đảo, biên giới và chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Để đấu tranh có hiệu quả với các tình huống trên, chúng ta phải dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững chắc; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Tuy nhiên, tùy từng tình huống để vận dụng phương thức đấu tranh phù hợp. 

Mục tiêu đấu tranh quốc phòng trong tình hình hiện nay

 


Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc; ngăn chặn làm thất bại xung đột vũ trang và xâm nhập tiến công mạng, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã làm tham mưu và trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng tham gia đấu tranh đạt được nhiều kết quả quan trọng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, nhận thức về đấu tranh quốc phòng của các cấp, các ngành và nhân dân một số nơi chưa đầy đủ, sâu sắc; việc phát huy vai trò đấu tranh của các lực lượng trên các lĩnh vực, kết hợp các hình thức đấu tranh tạo sức mạnh tổng hợp trong xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh còn hạn chế, v.v.

ĐỐI TƯỢNG TRONG ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG HIỆN NAY

 


 

Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, đối phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống, phi truyền thống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đối tượng đấu tranh quốc phòng rất đa dạng, bao gồm đối tượng cơ bản, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực thù địch hiếu chiến, đồng minh và tay sai có âm mưu, hành động xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, chuyển hóa, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực nước lớn và đồng minh có tham vọng, hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối tượng rất nguy hiểm là các tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, có tư tưởng, hành động chống phá sự nghiệp cách mạng bằng biện pháp vũ trang, phi vũ trang. Chúng câu kết, tiếp tay cho các thế lực thù địch, hiếu chiến và thế lực nước lớn có tham vọng chủ quyền lãnh thổ, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.