Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Nâng cao chất lượng đấu tranh tư tưởng trong Đảng bộ Quân đội hiện nay

 


Việc phối hợp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần được cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Từng bước bổ sung và nâng cao chất lượng việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân Việt Nam. Phổ biến, quán triệt để mọi người hiểu rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội. Luôn bảo đảm để hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội được tổ chức chặt chẽ từ Quân ủy Trung ương đến cơ sở. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở giữ vững sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên, tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội.

Tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại... thành luật pháp, chính sách, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định cụ thể. Hiện nay và những năm tiếp theo, tập trung bổ sung, hoàn thiện thể chế hóa việc đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và của nhân dân.

 Kịp thời ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp để định hướng và quản lý chặt chẽ hoạt động đấu tranh quốc phòng. Cụ thể hóa các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp thành các phương án, kế hoạch đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Nâng cao khả năng bám sát thực tiễn đối tượng, đối tác, xu thế khu vực, quốc tế, khả năng lực lượng, thế trận của ta trong kế hoạch, phương án đấu tranh với kẻ địch.

Đẩy mạnh việc xây dựng, triển khai nội dung chương trình chuyên sâu về đấu tranh quốc phòng để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ về đấu tranh quốc phòng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh quốc phòng đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn hiện nay. Từng bước tiến tới chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi các chương trình này đối với những đối tượng liên quan.

Đưa đội ngũ cán bộ, đảng viên vào rèn luyện trong nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Đặt ra các yêu cầu cao về tư duy, năng lực hoạt động thực tiễn về đấu tranh quốc phòng đối với đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị cấp chiến lược trong lực lượng vũ trang và cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố. Tạo các điều kiện thuận lợi về cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, lực lượng... để đội ngũ cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành của các bộ, ngành, địa phương về nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng; tình hình và kết quả triển khai cụ thể các kế hoạch, phương án đấu tranh quốc phòng để kịp thời phát hiện, bổ sung, giải quyết những bất cập, phổ biến kịp thời những nghiệm tốt và nhân rộng các đơn vị thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng. Kiên quyết xử lý nghiêm khắc với những hành vi vi phạm Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

 Đánh giá lại hiệu quả các chính sách hiện hành về huy động, phát huy sức mạnh các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh quốc phòng. Tiếp tục xây dựng mới, bổ sung, điều chỉnh kịp thời những bất cập trong các chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực, chủ động đấu tranh quốc phòng ngay tại địa phương, cơ sở. Phát hiện kịp thời và kiên quyết phắc phục những rào cản đối với việc phát huy dân chủ và tập hợp, phát huy nguồn lực to lớn của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế tham gia xây dựng, đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. 

Quán triệt sâu rộng các nguyên tắc phối hợp giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng đến các lực lượng tham gia. Bảo đảm mọi chủ trương, biện pháp, phương án, kế hoạch phối hợp hoạt động đấu tranh quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam, sự điều hành của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Mọi hoạt động chỉ huy, chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của từng lực lượng, dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng lực lượng. Bảo đảm đoàn kết, thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuyệt đối không được làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ riêng và công việc nội bộ của nhau, bảo đảm giữ gìn bí mật về lực lượng, phương tiện, biện pháp nghiệp vụ của mỗi lực lượng.

 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách và các lực lượng tham gia đấu tranh giải quyết các tình huống về quốc phòng. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng. Chú trọng phân công rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong trao đổi và xác minh thông tin, vận động quần chúng, triển khai các phương án và kế hoạch cụ thể, bảo vệ chính trị nội bộ các lực lượng, huấn luyện đào tạo và diễn tập các kế hoạch, phương án đấu tranh quốc phòng cụ thể.

Trước mắt, tập trung hoàn thiện và thực hiện tốt giữa các lực lượng trong các phương án, kế hoạch đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta; trong phòng, chống bạo loạn vũ trang, hoạt động lật đổ; trong ứng phó với những xung đột trên biển, đảo và biên giới đất liền; trong ngăn chặn sớm, đẩy lùi từ xa, sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả với mọi hình thái chiến tranh; trong phòng, chống các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm chủ của Nhân dân, phối hợp giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng

 


Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng và quản lý Nhà nước đối với đấu tranh quốc phòng. Ban hành kịp thời các chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ đấu tranh quốc phòng. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ về đấu tranh quốc phòng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh quốc phòng đáp ứng cầu mới của thực tiễn hiện nay. Kiểm tra, thanh tra thường xuyên việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn của Đảng về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong các tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, Đảng viên. Có cơ chế, chính sách đồng bộ tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực, chủ động đấu tranh quốc phòng  trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng ngay tại địa phương, cơ sở. Thực hiện kế hoạch phối hợp cụ thể giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng. Đẩy mạnh sự phối hợp giữa quốc phòng - an ninh - đối ngoại tạo cơ sở vững chắc để tổ chức lực lượng đấu tranh quốc phòng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; phải thường xuyên chăm lo lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc. Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận phải thể hiện tập trung ở việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Để chủ động tiến công toàn diện, thống nhất và đồng bộ làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể hóa vào xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở cấp mình. Phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định về trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, cán bộ chủ trì và của mọi cán bộ, đảng viên; bổ sung hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chế độ công tác tư tưởng, quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tiến hành công tác tư tưởng, lý luận. Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo các cấp phải đề ra được những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sát với đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị mình trong từng thời kỳ; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động, tạo ra được nhiều cách làm hay, hiệu quả; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Các đồng chí cấp ủy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, thường xuyên chỉ đạo và  trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tăng cường, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của các Ban chỉ đạo 35; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 14 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 105 của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác lý luận chính trị. Ban chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các thành viên; tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp trên đối với Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp dưới về tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội...       

Quan tâm xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt; chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật...; cần nghiên cứu xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, phóng viên, biên tập viên... Động viên, khích lệ họ tự giác, chủ động phát huy khả năng, sở trường. Tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên Internet và các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao.

Cấp ủy và chính quyền các cấp cần ban hành các quy định, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Đảng, Nhà nước có liên quan, trực tiếp là các lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hoá, văn nghệ, xuất bản, đối ngoại, an ninh... ở cả Trung ương và địa phương trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; trao đổi thông tin, dự báo đánh giá tình hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và tổ chức phối hợp đấu tranh.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thông dựng nước và giữ nước.

 Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo chủ nghĩa xã hội nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lôi quan điêm cuả Đảng phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng” "dân chủ nhân quyền" theo kiểu phương tây, các luận điệu chống phá cách mạng nưóc ta dưới chiếu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận rõ những nội dung, điều kiện, hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh ý thức hệ giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản. Đặc biệt phải làm rõ xu hướng hợp tác quốc tế hiện nay giữa các nước với nhau trong cùng tồn tại hoà bình, không có nghĩa là xoá bỏ đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vì mục tiêu bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đổi mới công tác giáo dục lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Gắn những nguyên lý, lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận làm sáng rõ những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn, đang có nhiều ý kiến khác nhau. Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác giáo dục lý luận chính trị phải tự mình nâng cao năng lực, rèn luyện đạo đức, trách nhiệm, tác phong gần gũi nhân dân, nắm chắc tình hình tư tưởng trong nhân dân để giải thích, uốn nắn kịp thời những tư tưởng sai lệch. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động. Cung cấp kịp thời, chính xác những thông tin chính thống để mọi người có cơ sở, chủ động ngăn chặn và tấn công đập tan những luận điệu sai trái. Chấn chỉnh ngay những yếu kém trong hoạt động thông tin, tuyên truyền, báo chí. Phát huy tối đa đài phát thanh, truyền hình, sách, báo, mạng internet, cùng các phương tiện khác làm trong giáo dục lý luận chính trị và đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản diện. Huy động đông đảo nhân dân tham gia vào phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí. Đa dạng hóa, mở rộng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho các đối tượng. Bám sát sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nắm chắc đối tượng để lựa chọn, mở rộng nội dung, hình thức tuyên truyền về đấu tranh phù hợp với "tầm", phạm vi, tính đặc thù và nhu cầu phát triển toàn diện của lĩnh vực hoạt động.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay

 


Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đưòng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(4). Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam.

Phải quán triệt sâu sắc quan đểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(5). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh.

Vì thế, công tác tư tưởng luôn phải được quan tâm đầy đủ, được tiến hành thường xuyên, mọi sự xem nhẹ công tác tư tưởng đều sẽ phải trả giá, thậm chí một cái giá rất đắt.

Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững nội dung và yêu cầu cốt lõi của đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(6).

Hoàn thiện các thiết chế đấu tranh tư tưởng hiện nay

 


Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc.

Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, đưa cánh mạng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(1), dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(2); “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. ...Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định huớng XHCN… Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3).

Hoàn thiện cơ chế đấu tranh tư tưởng hiện nay

 

 


Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay? Theo đó, tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG BIẾN SỐ CẦN THEO DÕI!

     Dữ liệu giá tiêu dùng mới nhất ở các nền kinh tế tiên tiến lớn đưa ra một số tin tức đáng khích lệ về xu hướng lạm phát chung; nhưng lạm phát cơ bản (không bao gồm giá năng lượng và lương thực) vẫn cao hơn mục tiêu của các ngân hàng trung ương. Trong số nhiều biến số mà các nhà dự báo cần theo dõi trong năm mới, có ba biến số nổi bật.

Những biến số nổi bật
Vài năm qua đã chỉ ra rằng lạm phát có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi tính thiếu chắc chắn và những yếu tố không thể lường trước, chẳng hạn như thời gian qua là đại dịch Covid-19 hay cuộc chiến ở Ukraine. Một cuộc tranh luận sôi nổi về xu hướng lạm phát đang nổ ra giữa các nhà kinh tế. Một số doanh nhân có uy tín và giàu kinh nghiệm bày tỏ nghi ngờ về việc các ngân hàng trung ương đã kiểm soát được vấn đề. Dữ liệu giá tiêu dùng mới nhất của khu vực đồng euro, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đưa đến một số tin tức đáng khích lệ về xu hướng lạm phát chung; nhưng lạm phát cơ bản (không bao gồm giá năng lượng và lương thực dễ biến động) vẫn cao hơn mức mục tiêu của các ngân hàng Trung ương. 

Tất nhiên, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Trung Quốc dường như không gặp phải vấn đề này. Ngược lại, dữ liệu giá tiêu dùng gần đây nhất cho thấy nước này đang trải qua tình trạng giảm phát, với chỉ số giá tiêu dùng cốt lõi giảm 0,5% vào tháng 11 (so với cùng kỳ năm trước). Đã có lúc nhiều nhà phân tích nghi ngờ rằng Trung Quốc đang truyền áp lực giảm phát đến phần còn lại của thế giới, chủ yếu thông qua xuất khẩu sản xuất chi phí thấp và thị phần ngày càng tăng ở thị trường nước ngoài. 

Quy mô của những thách thức kinh tế trong nước của Trung Quốc - bao gồm cả giảm phát - là một câu hỏi lớn đáng được bình luận riêng. Với những vấn đề mà thị trường bất động sản nước này đang phải đối mặt, dựa trên kinh nghiệm tương tự ở các quốc gia, có thể cho rằng những khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc sẽ còn kéo dài. Nhưng một quan điểm ít bi quan hơn là các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hoàn toàn nhận thức được những vấn đề đó và họ đã có kế hoạch để xử lý.

Ngoài các yếu tố nội bộ của Trung Quốc, người ta cũng phải xem xét xu hướng giá cả hàng hóa toàn cầu, trong đó nhu cầu của Trung Quốc đối với hàng hóa nước ngoài vẫn có sự ảnh hưởng lớn. Ở đây, tin tức trong cuối năm 2023 đáng khích lệ hơn nhiều người mong đợi và cho thấy lạm phát chung ở nhiều quốc gia có thể giảm thêm trong những tháng tới. Bất chấp sự hỗn loạn ở Trung Đông và chiến tranh ở Ukraine, giá dầu thô vẫn ở mức thấp, khiến nhiều nhà phân tích không khỏi ngạc nhiên.

Bên cạnh đó, tăng trưởng tiền tệ đã suy yếu mạnh ở nhiều nền kinh tế, điều này khá yên tâm khi kết hợp với xu hướng giá cả hàng hóa hiện nay. Mặc dù đã lâu rồi không có ai khác ngoài những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhiệt thành nhất tuyên bố rằng cung tiền luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát, nhưng thực tế những năm qua đã chỉ ra rằng nếu tăng trưởng tiền tệ tăng tốc đáng kể (như đã xảy ra vào cuối năm 2020 và đầu năm 2021 ở Mỹ), lạm phát có thể tăng lên.

Ngoài ra, các thước đo gần đây về kỳ vọng lạm phát ở các nước chủ chốt đang mang lại sự yên tâm. Đặc biệt, cuộc khảo sát mới nhất của Đại học Michigan về triển vọng 5 năm của người tiêu dùng cho thấy mức tiêu dùng giảm mạnh, xuống 2,8%, từ mức 3,2% của tháng trước.

Xu hướng của các ngân hàng Trung ương
Câu hỏi cuối cùng và có lẽ khó nhất là các ngân hàng Trung ương sẽ phản ứng như thế nào. Trong hướng dẫn mới nhất dành cho thị trường, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ gợi ý rằng lãi suất sẽ giảm 75 điểm cơ bản vào năm 2024. Tuy nhiên, các ngân hàng Trung ương khác, đặc biệt là ở châu Âu, đang lật ngược sự đặt cược của thị trường tài chính khi cho biết lãi suất sẽ chưa bị cắt giảm trong năm nay. Với lạm phát cơ bản vẫn cao hơn mục tiêu, tiền lương thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) ngày càng tăng và không có bằng chứng rõ ràng về tăng trưởng năng suất, các ngân hàng Trung ương này sẽ không muốn sớm cắt giảm lãi suất. Nhưng khi họ tiếp tục cố gắng gây ảnh hưởng đến thị trường bằng những hướng dẫn và tuyên bố công khai của mình, họ sẽ phải chấp nhận rằng thị trường - theo trí tuệ tập thể của họ - có thể nhìn thấy điều gì đó mà bản thân họ không thấy. Nếu dữ liệu có chiều hướng thuận lợi rõ ràng, các ngân hàng trung ương có thể sẽ thay đổi quan điểm của mình.

Tăng trưởng tiền lương vẫn là một biến số quan trọng. Ở một số nước, đặc biệt là ở Anh, tốc độ tăng trưởng giá tiêu dùng cuối cùng đã nhanh hơn. Theo bản năng, các nhà hoạch định chính sách sẽ lo lắng rằng xu hướng này sẽ gây ra vòng xoáy lương - giá. Nhưng chẳng phải sẽ tốt hơn nếu mức tăng lương thực tế gần đây được chứng minh bằng sự tái cân bằng lợi nhuận tài chính và lợi nhuận được chờ đợi từ lâu của tăng trưởng năng suất dương? Một năm mới đang đến cùng với hy vọng mới./.
Yêu nước ST.

Các thế lực thù địch thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 


Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm. Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)...

Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân.

 


Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”. Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước. Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình. 

Các thế lực thù địch chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

 


Sức mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng. Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân tâm không ít bộ phận dân cư. 

Trí thức hóa giai cấp công nhân hiện nay

 

Để trí thức hoá đội ngũ công nhân thì phải bắt đầu từ sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo nghề để từ đó làm cơ sở cho việc đào tạo bậc đại học chuyên ngành và lao động chất lượng cao theo yêu cầu hiện đại phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức không chỉ đòi hỏi người công nhân phải làm chủ công nghệ mới, không chỉ biết nắm vững công nghệ đã có hay đã chín muồi, mà còn đòi hỏi người công nhân phải biết sáng tạo ra công nghệ mới, đề xuất cái mới. Vai trò của giai cấp công nhân trí thức hoá không những không suy giảm mà trái lại còn tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức. Với trình độ tri thức ngày càng cao thì sự giác ngộ giai cấp, ý thức về vị trí, vai trò, khả năng và sức mạnh của giai cấp công nhân cũng như tính tổ chức, kỷ luật của công nhân trí thức sẽ được nâng lên tương xứng. Để thực hiện được sứ mạng là giai cấp lãnh đạo xã hội thì giai cấp công nhân phải tự trang bị cho đội ngũ của mình cả sự giác ngộ giai cấp lẫn ý thức chính trị, tính tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp. Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, sớm đưa tất cả các công nhân vào các tổ chức Công đoàn; làm tốt công tác phát triển đảng trong công nhân, qua đó hướng dẫn, chỉ đạo, tiến hành các biện pháp giáo dục tư tưởng; tiến hành các biện pháp tạo việc làm, nâng cao mọi mặt đời sống; hết sức quan tâm nâng cao học vấn, trình độ nghề nghiệp; đẩy nhanh quá trình trí thức hoá công nhân, phục vụ tốt nhất cho việc từng bước đưa đất nước vào nền kinh tế tri thức nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đào tạo đội ngũ giám đốc giỏi trong giai cấp công nhân

 


Nhanh chóng cải cách nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng công nhân giỏi một nghề, biết thêm một vài nghề khác, lý luận gắn với thực hành, tạo điều kiện để học sinh làm quen với sản xuất công nghiệp, với đời sống công nhân, với các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Mạnh dạn và khẩn trương đào tạo đội ngũ giám đốc trẻ, giỏi nghề, năng động, sáng tạo xuất thân từ công nhân, hoặc đã trực tiếp là công nhân và định kỳ nâng cao nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh, tay nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế, đi đôi với việc đào tạo đội ngũ thợ trẻ, lành nghề (bằng con đường đào tạo trong nước và gửi đi học ở nước ngoài) vừa trẻ hoá, vừa nâng cao tri thức và khả năng sáng tạo cho đội ngũ công nhân; tổ chức tốt việc đào tạo lại khi chuyển đổi công nghệ mới. Chú trọng công tác đào tạo và phát triển lực lượng công nhân trong các dân tộc thiểu số, coi đó là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Chú trọng cả số lượng và chất lượng. Kết hợp đúng đắn, có hiệu quả chính sách kinh tế với chính sách xã hội và chính sách dân tộc.

Công tác đào tạo nhân lực phải được quan tâm thường xuyên bằng những chính sách cụ thể, thiết thực, có hiệu quả

 

Công nhân và con em công nhân cần được xem là đối tượng ưu tiên để tiến hành phổ cập giáo dục. Có thể và cần phổ cập giáo dục phổ thông trung học cho công nhân trẻ và con em công nhân. Khuyến khích và tạo điều kiện cho công nhân tham gia học ở cấp học giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Có chính sách hợp lý để tuyển chọn được một bộ phận thanh niên ưu tú, nhất là con em công nhân nhiều đời vào các trường dạy nghề. Chỉ có như vậy, trong tương lai chúng ta mới có một đội ngũ công nhân giỏi. Và, từ trong số ấy mới tuyển chọn và đào tạo được những cán bộ quản lý, lãnh đạo giỏi xuất thân từ công nhân.

Đào tạo trình độ cho giai cấp công nhân


Trình độ công nghệ, thiết bị hiện nay của nước ta, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập quốc tế toàn diện, sâu, rộng, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong sản xuất kinh doanh, liên doanh đòi hỏi phải coi trọng việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ học vấn, năng lực trí tuệ, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, văn hoá, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, cho công nhân. Để từ đó họ nhanh chóng có điều kiện tiếp thu, làm chủ công nghệ mới, có cơ hội tìm được việc làm, để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đủ sức cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước. Trong bối cảnh thế giới đã bước vào thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, vấn đề này là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết. Đầu tư vào công tác đào tạo công nhân là một hướng đầu tư vào chiều sâu cơ bản và có hiệu quả nhất, cả về kinh tế, xã hội, chính trị. Yêu cầu của nền sản xuất hiện đại đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân vững vàng cả về lý thuyết lẫn tay nghề, nắm vững công nghệ hiện đại. 

Chú trọng và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho giai cấp công nhân

 


Trong cơ chế mới và trong điều kiện đổi mới thiết bị, đưa quy trình công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, cũng như từ yêu cầu, đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng thì công tác đào tạo công nhân cần được hết sức coi trọng. Cần phải đặc biệt coi trọng xây dựng và trọng dụng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học, kỹ thuật có trình độ cao. Đi đôi với đào tạo mới, cần chú trọng đào tạo lại để có những công nhân, cán bộ có đủ điều kiện tiếp cận với cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế toàn diện, ngày càng sâu rộng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất, hiện đại hoá công nghệ truyền thống. Đó là đòi hỏi bức thiết, khách quan của nền kinh tế nước ta hiện nay.

10 sự kiện tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội năm 2023

Thành phố Hà Nội công bố 10 sự kiện tiêu biểu của Thủ đô năm 2023, trong đó có việc kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá; khởi công dự án đường Vành đai 4 sớm hơn dự kiến; hoàn thiện dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)...

Hội nghị lần thứ mười bốn Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.1. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền và hệ thống chính trị; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải quyết công việc; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thành phố tiếp tục có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả nổi bật, trong đó: Phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, bám sát yêu cầu thực tiễn với tinh thần “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; quyết liệt, khẩn trương, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện nhiệm vụ với phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả”; nêu cao tinh thần gương mẫu, trách nhiệm người đứng đầu; lấy chất lượng công việc và sự hài lòng của người dân là “thước đo” để đánh giá năng lực của cán bộ, đảng viên, của cấp ủy, chính quyền.
Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành và chỉ đạo triển khai, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 7-8-2023 về “Tăng cường kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm giải quyết công việc trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”, qua đó thể hiện quyết tâm tạo chuyển biến căn bản từ nhận thức đến hành động của mỗi cấp ủy Đảng, chính quyền, từng cán bộ, đảng viên. Tập trung rà soát, tinh gọn tổ chức, bộ máy, đồng thời thực hiện tốt công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ nguồn, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Công tác kết nạp, quản lý đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ có nhiều chuyển biến tích cực.
Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, quyết liệt chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, tác nghiệp, ứng dụng số hóa trong nghiên cứu, học tập nghị quyết, triển khai hiệu quả 2 phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử” và “Điều hành tác nghiệp quản lý đảng viên”, được cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đánh giá cao.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tập trung chỉ đạo và đạt được những kết quả tích cực. Vai trò của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được phát huy theo hướng thiết thực, hiệu quả, gắn với cơ sở, tích cực trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
2. Cải cách hành chính được đẩy mạnh; kỷ luật, kỷ cương hành chính, phân cấp, ủy quyền được tăng cường
Hà Nội tích cực trong thực hiện phân cấp, ủy quyền, qua đó góp phần nâng cao chỉ số cải cách hành chính PAR-Index (tăng 7 bậc). Sau 1 năm triển khai thực hiện Đề án phân cấp quản lý nhà nước, ủy quyền, về cơ bản, việc thực hiện phân cấp, ủy quyền trong các ngành, lĩnh vực đảm bảo nền nếp, vận hành thông suốt; tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy, thí điểm thành lập các đơn vị dịch vụ công; rà soát, bổ sung lại chức năng của các sở, ngành, cơ quan chuyên môn; đẩy mạnh xây dựng đơn giá định mức các dịch vụ công: Y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội, vệ sinh môi trường…, từ đó góp phần tạo quyền chủ động cho chính quyền quận, huyện, thị xã, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giải phóng hiệu quả nguồn lực cho các địa phương, đơn vị.
3. Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá - cao hơn mức bình quân chung cả nước; các chính sách an sinh - xã hội được đảm bảo
Vượt qua những khó khăn, thách thức của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, thành phố đã thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tích cực tháo gỡ vướng mắc cho các dự án chậm triển khai; kinh tế Thủ đô đạt được những kết quả khá toàn diện và tích cực: GRDP đạt 6,27% (cao hơn mức bình quân chung cả nước); thu ngân sách trên địa bàn đạt 405.252 tỷ đồng (đạt 114,8% dự toán, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2022)… Những thành tựu, kết quả của Hà Nội góp phần cùng cả nước thực hiện được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thành phố luôn quan tâm thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là người có công với cách mạng. Công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo. Chính sách bảo hiểm được duy trì thực hiện tốt. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,5%.
4. Phối hợp với các cơ quan Trung ương hoàn thiện dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) - giải pháp cấp thiết để xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”
Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ triển khai các đề án, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 16-CTr/TU của Thành ủy về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, năm 2023, thành phố tập trung cho công tác đánh giá kết quả thi hành Luật Thủ đô năm 2012 - nghiên cứu, đề xuất chính sách, lập hồ sơ đề nghị và tham gia xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) trình Quốc hội cho ý kiến vào ngày 10-11-2023. Quá trình xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) được thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan chuẩn bị công phu, nghiêm túc, chất lượng.
Luật Thủ đô (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra những cơ chế, chính sách vượt trội để Hà Nội phát huy lợi thế, phát triển nhanh và bền vững với tầm vóc và vị thế mới, xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trái tim của cả nước, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế; sớm trở thành đô thị thông minh, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, văn hiến, văn minh, hiện đại, có sức lan tỏa để thúc đẩy, tạo động lực, lan tỏa để vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cùng phát triển.
5. Đẩy nhanh tiến độ một số dự án, công trình giao thông trọng điểm; khởi công Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội sớm hơn dự kiến
Hà Nội huy động nguồn lực để sớm hoàn thành các dự án, công trình giao thông trọng điểm như: Đường Huỳnh Thúc Kháng kéo dài, cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 và cầu vượt nút giao Chùa Bộc - Phạm Ngọc Thạch; khởi công Dự án tuyến đường kết nối đường Pháp Vân - Cầu Giẽ và đường Vành đai 3... Đặc biệt, thành phố tập trung đẩy nhanh triển khai các thủ tục đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng để khởi công Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô vào ngày 25-6-2023. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đạt hơn 96%. Các nhà thầu đã triển khai thi công các gói thầu đảm bảo theo tiến độ đề ra. Việc sớm hoàn thành Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô sẽ mở rộng không gian và khai thác thêm nhiều nguồn lực để Thủ đô và vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển.
6. Sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh được quan tâm, đẩy mạnh, trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững Thủ đô; khơi dậy tinh thần “Thành phố sáng tạo”
Quan điểm đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và hành động thiết thực, sáng tạo, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh tiếp tục được nâng lên rõ rệt, thúc đẩy tư duy hành động của cấp ủy và hệ thống chính trị các cấp, lan tỏa rộng rãi tới quần chúng nhân dân, thu hút sự quan tâm, đồng hành của toàn xã hội. Những thay đổi tích cực về cơ chế, chính sách trong đầu tư xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, sáng tạo; tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa; cải thiện chế độ đãi ngộ, hỗ trợ đối với nghệ sĩ, nghệ nhân… chính là những quyết sách quan trọng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển sự nghiệp văn hóa, xây dựng con người Thủ đô trong thời kỳ mới.
Đặc biệt, việc thực hiện Nghị quyết về phát triển công nghiệp văn hóa với tầm nhìn đến năm 2045 đã có chuyển động tích cực, đạt những kết quả đáng ghi nhận, nổi bật là các ngành: Du lịch văn hóa; thủ công mỹ nghệ; nghệ thuật biểu diễn… và tổ chức thành công nhiều sự kiện, lễ hội văn hóa nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế, điểm nhấn ấn tượng là Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm 2023 với chủ đề “Dòng chảy” mang thông điệp kết nối, tôn vinh các giá trị văn hóa, với nhiều hoạt động văn hóa, sáng tạo, tạo nên bản sắc riêng của Hà Nội - đó là lưu giữ truyền thống, định hình hiện tại và hướng tới tương lai. Qua đó, thúc đẩy tài nguyên văn hóa, con người Hà Nội thực sự trở thành nguồn lực mới quan trọng, khơi dậy và lan tỏa tình yêu Hà Nội, tinh thần xây dựng “Thành phố sáng tạo”, khát vọng vươn lên của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa gìn giữ, phát huy giá trị văn hiến nghìn năm, vừa đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phồn vinh, hạnh phúc và bền vững của Thủ đô Văn hiến - Văn minh - Hiện đại.
7. Đẩy mạnh phong trào xây dựng xã hội học tập; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, dẫn đầu cả nước trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế
Ngày 16-11-2023, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TU về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Thủ đô Hà Nội phấn đấu gia nhập vào mạng lưới “Thành phố học tập” của UNESCO trong thời gian sớm nhất.
Năm 2023, toàn ngành Giáo dục đã tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; chất lượng dạy học ngày càng được nâng lên và luôn dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh khá, giỏi và tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm tốt. Điểm bình quân các môn thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT toàn thành phố tăng. Đặc biệt, tỷ lệ tốt nghiệp THPT chung của toàn thành phố đạt 99,56%, tăng 11 bậc so với năm 2022 - là kết quả cao nhất trong 10 năm qua. Hà Nội còn là địa phương có nhiều điểm 10 thi tốt nghiệp THPT nhất cả nước với 1.232 điểm 10, tăng 3,35 lần so với năm 2022. Tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia toàn thành phố là 74,2%; phấn đấu đạt tỷ lệ 80-85% trường chuẩn quốc gia vào năm 2025; đang triển khai công tác xây dựng 7 trường liên cấp tiên tiến, hiện đại có diện tích 5ha trở lên trên địa bàn thành phố.
Năm học 2022-2023, học sinh thành phố đạt 141 giải thưởng trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, 12 học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp quốc tế. Đáng chú ý, trong năm qua, đã có 92 học sinh được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Ngành Giáo dục thành phố cũng có chiến lược đào tạo mũi nhọn và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước phát triển trên thế giới.
8. Hà Nội hoàn thành trước 1 năm mục tiêu xây dựng huyện nông thôn mới
Hà Nội luôn xác định Chương trình xây dựng nông thôn mới có tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn. Phát huy những kết quả đạt được, Hà Nội đẩy mạnh thực hiện Chương trình số 04-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội (khóa XVII) đặt mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới vào năm 2025. Đến nay, tiến độ thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của thành phố Hà Nội đạt được nhiều kết quả khả quan, đồng thời nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để hoàn thành mục tiêu đề ra.
Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng lớn đơn vị hành chính cấp huyện, xã. Với sự quan tâm, tập trung chỉ đạo, huy động mọi nguồn lực, tính đến ngày 5-12-2023, 100% huyện, thị xã của Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và hoàn thành trước 1 năm mục tiêu xây dựng huyện nông thôn mới. Đến nay, 382/382 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 183 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Bốn huyện Đan Phượng, Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2023.
9. Lần thứ hai liên tiếp Hà Nội nhận giải thưởng “Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu thế giới cho kỳ nghỉ ngắn ngày năm 2023”
Với sự tập trung chỉ đạo của thành phố, năm 2023, ngành Du lịch Hà Nội đạt được những giải thưởng rất quan trọng: Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á; Điểm đến thành phố golf tốt nhất thế giới; Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu châu Á cho kỳ nghỉ ngắn ngày; Hà Nội có đại diện nhà hàng được gắn sao Michelin - Giải thưởng danh giá trong ngành ẩm thực thế giới; Sở Du lịch thành phố Hà Nội được trao tặng danh hiệu “Cơ quan quản lý du lịch thành phố hàng đầu châu Á”... Từ đó, Hà Nội tiếp tục trở thành “Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu thế giới cho kỳ nghỉ ngắn ngày năm 2023”.
Tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội trong năm 2023 đạt 24 triệu lượt (tăng 27% so với năm 2022), trong đó: 4 triệu lượt khách quốc tế (tăng 138,1% so với năm 2022) và 20 triệu lượt khách nội địa (tăng 16% so với năm 2022); tổng thu từ khách du lịch ước đạt 85,7 nghìn tỷ đồng (tăng 43% so với năm 2022).
10. Công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại được tăng cường; Hà Nội tiếp tục là “Điểm đến bình yên, hấp dẫn và thân thiện”
Công tác quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; bảo đảm an toàn tuyệt đối các hoạt động kỷ niệm, các ngày lễ quan trọng của Thủ đô và đất nước, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các mục tiêu và địa bàn trọng điểm và gần 2.000 sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng diễn ra trên địa bàn Thủ đô, góp phần vào thành công nổi bật của đối ngoại Việt Nam năm 2023. Thành phố chỉ đạo tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cho các quận, huyện, sở, cụm phía Tây Nam và cụm phía Đông thành phố. Hình ảnh Thủ đô bình yên, thân thiện ngày càng in đậm trong lòng bạn bè quốc tế.
Năm 2023, Hà Nội đón tiếp gần 90 đoàn khách quốc tế đến làm việc, trao đổi về hoạt động, dự án hợp tác với thành phố trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Hà Nội đã tổ chức thành công Hội nghị hợp tác giữa các địa phương Việt Nam - Cộng hòa Pháp lần thứ 12 có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với sự tham dự của gần 1.000 đại biểu trong và ngoài nước đến từ 50 địa phương của Việt Nam và 12 địa phương của Cộng hòa Pháp, cùng nhiều tổ chức quốc tế. Việc Hà Nội phát huy tốt vai trò đăng cai tổ chức hội nghị có ý nghĩa quan trọng không chỉ với công tác đối ngoại của Thủ đô, mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam - Cộng hòa Pháp; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với quốc tế.

Giáo dục tổng thể các biện pháp về giai cấp công nhân

Phải tiến hành giáo dục bằng tổng hợp các biện pháp: Kinh tế, chính trị, pháp luật, hành chính, tư tưởng... với những hình thức phong phú, sinh động, tế nhị, có nghệ thuật, khoa học, phù hợp với từng đối tượng công nhân trong mỗi loại hình doanh nghiệp trong các thành phần, đơn vị kinh tế. Cần đặc biệt coi trọng hình thức giáo dục bằng các loại hình văn học - nghệ thuật, các hoạt động văn hoá, xã hội, các ấn phẩm văn hóa có tác dụng giáo dục. Muốn vậy, phải nâng cao kiến thức văn hoá cho công nhân và tạo ra những điều kiện thuận lợi về vật chất, thời gian,... để công nhân có thể thưởng thức các tác phẩm văn học - nghệ thuật, các ấn phẩm văn hóa có giá trị, có tác dụng giáo dục sâu sắc, để họ có thể tham gia các hoạt động văn hoá, nghệ thuật. Thông qua thực tiễn lao động sản xuất kinh doanh, tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần và hoạt động của các tổ chức, đoàn thể xã hội mà giáo dục, rèn luyện đội ngũ công nhân. Tổ chức, quản lý lao động một cách khoa học, chặt chẽ, bảo đảm đủ việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân sẽ có tác dụng rất lớn đến việc giáo dục, xây dựng giai cấp công nhân. Công tác giáo dục công nhân chỉ thực sự có hiệu quả khi biết tôn trọng và bằng những việc làm thực tế thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích, nhân cách của người công nhân với tư cách là một con người và với vị trí xã hội của họ: là thành viên của một giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo cách mạng. Để công tác giáo dục có hiệu quả, cần xây dựng nội dung, giáo trình bồi dưỡng sát hợp với từng đối tượng công nhân. Đối với những công nhân có trình độ học vấn cao, công nhân - trí thức, phải nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho họ với chương trình và hình thức học tập thích hợp. Với những người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp, công ty, phải quan tâm việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, lý luận cơ bản, năng lực quản lý, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo. 

Bồi dưỡng đội ngũ giáo dục, tuyên truyền trong giai cấp công nhân

 


Để làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục công nhân trong điều kiện hiện nay, phải bồi dưỡng, đào tạo được một đội ngũ những người làm công tác giáo dục có tài năng, hùng biện, hiểu biết sâu rộng về lý luận và thực tiễn, về công nhân và phong trào công nhân. Nhưng điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là phải bằng những việc làm thực tế của Đảng và Nhà nước mang lại quyền lợi thiết thực về vật chất và tinh thần cho công nhân, chứng tỏ trên thực tế tính ưu của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam về mọi phương diện trong việc chăm lo đến cuộc sống hằng ngày của công nhân và quần chúng lao động. Công tác giáo dục sẽ không có hiệu quả khi mà cuộc sống hằng ngày của quần chúng lao động vẫn còn nhiều khó khăn, tiêu cực; tham nhũng hoành hành; bất công xã hội ngày càng nhiều; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, thoái hoá, biến chất, sống xa dân, hư hỏng về đạo đức, lối sống, ...

Giác ngộ về sứ mệnh lịch sử cho giai cấp công nhân

 

Trong tình hình hiện nay, cần thường xuyên tăng cường giáo dục giác ngộ giai cấp, nâng cao ý thức tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giác cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng đối lập. Ngăn ngừa ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, lối sống thực dụng, tư tưởng phong kiến, nhất là ở các đơn vị sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Trong tình hình hiện nay, cần coi trọng giáo dục lập trường, quan điểm giai cấp, nhưng không phải bằng những bài lý luận chung chung, mà phải trên cơ sở thông tin, giáo dục, hướng dẫn khoa học để xây dựng niềm tin khoa học vững chắc cho công nhân. Cần giúp cho công nhân hiểu sự thật về chủ nghĩa tư bản hiện đại, cả mặt phải và trái của nó. Cách tuyên truyền theo kiểu “bôi đen” hoàn toàn, phủ định sạch trơn, hoặc “tô hồng”, ca ngợi chủ nghĩa tư bản hiện đại hết lời, đều không khoa học, phản tác dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục.

Xây dựng niềm tin khoa học cho công nhân về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở giáo dục bằng những nội dung, hình thức, phương pháp khoa học, bằng thực tế trong nước và thế giới. Trang bị cho công nhân phương pháp xem xét khách quan, toàn diện, khoa học.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TÌM CHỌN HIỀN TÀI!

     "Với cơ chế tìm chọn hiền tài đúng đắn, tiến bộ, phù hợp thực tiễn hiện nay, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được những kẻ kém đức, kém tài, cơ hội, đồng thời tìm chọn được những cán bộ có đủ đức, tài...". Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh như vậy trong bài viết "Tìm chọn hiền tài"!

Những bài học từ lịch sử
Tiến sĩ Thân Nhân Trung, khi được Vua Lê Thánh Tông giao soạn bài văn bia cho bia Tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442) đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”.
Những lời ấy đã được đục khắc vào bia đá, để lại cho muôn đời con cháu noi theo mà thực hiện.
Các triều đại nối nhau trong lịch sử nước ta đều coi việc tìm chọn hiền tài là việc hệ trọng của quốc gia. Nhà Lý cho ra đời Quốc Tử giám, trường “đại học” đầu tiên của nước ta để mở khoa thi đầu tiên đào tạo nhân tài. Viên quan văn võ song toàn Tô Hiến Thành ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc chính là trong thời nhà Lý. Năm 1253, nhà Trần lập Quốc Học viện, ban hành thể lệ thi cử rất nghiêm khắc để tránh chuyện con nhà giàu chạy chọt đỗ đạt. Chế độ thi cử đó đã phát hiện và bồi dưỡng ra những danh nhân văn hóa như Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên năm 13 tuổi, Mạc Đĩnh Chi, vị quan liêm khiết, vị sứ thần thông minh, hiểu biết sâu rộng, tài năng khí phách, hay nhà sử học Lê Văn Hưu, người biên soạn bộ Quốc sử đầu tiên của nước ta. Nhà Hồ chỉ trị vì trong một thời gian rất ngắn nhưng qua tuyển cử đã phát hiện những bậc kiệt hiệt như Nguyễn Trãi, sau này là nhà văn hóa lớn của dân tộc... Đến thời Hậu Lê, Vua Lê Lợi ngay năm đầu ở ngôi đã hạ chiếu nói lời thiết tha: “Muốn thịnh trị phải được người hiền tài, muốn được người hiền tài thì phải do tiến cử. Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”.
Minh Mạng, vị vua thứ hai triều Nguyễn đã biến việc cầu người hiền tài thành một chính sách nhất quán của triều đình khi ấy. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ của nội các triều Nguyễn ghi lại có tới 11 lần Vua Minh Mạng ban dụ để cầu người hiền tài tham gia vào bộ máy hành chính nhà nước.
Vua Quang Trung ngay sau khi đánh tan quân Thanh đã giao cho Ngô Thì Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền, hoặc kiên nhẫn ba lần viết thư mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp rập cho nhà Tây Sơn, là những tấm gương điển hình cho việc chiêu hiền đãi sĩ tìm chọn người tài của cha ông ta.

“Chiếu cầu hiền” khi cách mạng thành công
Thời nay, một con người kiệt xuất luôn coi trọng việc thu phục và sử dụng người tài đức là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cuối năm 1945, Hồ Chủ tịch đã hai lần viết thư mời cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà chí sĩ yêu nước ra giúp việc cho Chính phủ. Rồi trong những ngày dầu sôi lửa bỏng năm 1946, trước khi sang Pháp thực hiện chuyến công du nước ngoài lâu ngày, Bác Hồ đã ký sắc lệnh ủy nhiệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhân sĩ ngoài Đảng Cộng sản, làm quyền Chủ tịch nước với lời dặn dò gan ruột: “Dĩ bất biến ứng vạn biến!”. Cụ Huỳnh đã đảm nhiệm công việc này một cách trọn vẹn.
Từ nước Pháp trở về, Bác đã đi cùng với 4 trí thức Việt kiều yêu nước là kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh và nhà khoa học Phạm Quang Lễ (giáo sư Trần Đại Nghĩa ). Tiếp sau đó, những trí thức lớn khác ở Pháp như Nguyễn Khắc Viện, Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo... cũng về Việt Nam. Trong bối cảnh muôn vàn thiếu thốn, các trí thức này đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc kháng chiến và sau này là kiến quốc của toàn dân tộc.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, ngày 20-11-1946, trên Báo Cứu quốc xuất hiện một bài báo, nói đúng hơn là một thông báo, dưới ký tên “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam - Hồ Chí Minh”, viết: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.
Đây chính là một dạng “Chiếu cầu hiền” của người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam non trẻ lúc bấy giờ.

Những bài học đau xót
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”.
Như thế, có thể thấy vận mệnh của đất nước, của chế độ tùy thuộc vào cái cách mà chúng ta lựa chọn đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có cấp chiến lược, những người đảm trách công việc nặng nề là chèo lái con thuyền quốc gia. Điều đó đòi hỏi sự trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao cả vì sự nghiệp chung của những cán bộ lớp trước trong việc giới thiệu với cơ quan có thẩm quyền tuyển chọn những người xứng đáng.
Chúng ta đã có những bài học đau xót về việc giới thiệu cán bộ không đủ phẩm chất và năng lực nhưng là cánh hẩu, là họ hàng, là đổi chác (tôi nâng đỡ con anh thì anh nâng đỡ con tôi, hoặc tôi nâng đỡ người của anh thì anh nâng đỡ người của tôi…) và cũng không loại trừ việc đút lót tiền bạc, của cải để được vào các vị trí trọng yếu.
Cho đến nay, mặc dù công tác cán bộ đã được đổi mới nhiều, nhưng trên thực tế vẫn không tránh khỏi còn những sai sót nghiêm trọng là kẽ hở để những kẻ tham lam, cơ hội, kém đức kém tài chui vào bộ máy, tạo dựng bè cánh, gây nên những tác hại nghiêm trọng, dẫn đến sự bất bình to lớn trong nhân dân và đặt sinh mệnh chính trị của Đảng, của chế độ vào thế bất lợi.
Không thể để những kẻ kém đức kém tài, vô liêm sỉ, “chạy chức chạy quyền”, có nguồn tài sản bất minh, nâng đỡ người thân, gia đình, họ hàng, là cánh hẩu, bị xã hội và báo chí lên án, lại vẫn có thể biện bạch thách thức dư luận hay lên giọng rao giảng đạo đức. Không thể để một ông cán bộ cấp cao phát ngôn bừa bãi, đề ra những chính sách gây thiệt hại cho đất nước và nhân dân có thể tiếp tục nhơn nhơn tại vị. Lại càng không để cho những quan tham, dù ở cấp nào, có thể trốn tránh trách nhiệm và “hạ cánh an toàn”.
Càng là người của tổ chức, của Đảng, lại càng phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn trước sự nghiêm minh của pháp luật, sự giám sát của nhân dân.

Rà soát lại “quy trình”
Làm thế nào để có thể hạn chế tối đa những sai sót trong công tác lựa chọn cán bộ, đặc biệt là ở cấp chiến lược?
Câu trả lời ở đây là cơ chế trách nhiệm.
Quy trình tuyển chọn, đề bạt cán bộ là của tập thể, nhưng công việc giới thiệu cần được cá nhân hóa để thuận tiện cho việc vận hành cơ chế trách nhiệm.
Cá nhân người giới thiệu có trách nhiệm bảo vệ sự tiến cử của mình trước các cơ quan chức năng. Người cán bộ được tiến cử có thành tích và tiến bộ thì cá nhân người giới thiệu và tập thể giới thiệu được khen thưởng xứng đáng; nếu người được tiến cử vi phạm những tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức trong công việc, người giới thiệu và những thành viên nào trong tập thể tán thành giới thiệu bổ nhiệm nhân sự sai lầm cũng phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật tương xứng.
Người cán bộ được giới thiệu để tuyển chọn phải có trách nhiệm trình bày rõ trước cơ quan tuyển chọn về những thành quả nổi bật đã làm, được cơ quan, đơn vị, nhân dân thừa nhận và phải trình bày những công việc mình sẽ làm trên cương vị công tác mới. Các cơ quan chức năng và nhân dân sẽ đánh giá quá trình “thi tuyển” này thông qua các cơ chế giám sát, qua báo chí và dư luận quần chúng.
Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm cán bộ vào các vị trí trong hệ thống chính trị phải chịu trách nhiệm nếu kết quả bổ nhiệm nhân sự ấy lại là người kém đức kém tài; đồng thời cơ quan ra quyết định cũng phải có đủ thẩm quyền và có trách nhiệm xử lý nhanh chóng những trường hợp cán bộ sai phạm trong công tác. Ở các quốc gia văn minh, chỉ cần một Bộ trưởng lỡ lời là đủ để cho Chính phủ buộc người đó thôi chức để giữ uy tín cho Đảng cầm quyền. Còn ở ta, một quốc gia có nền văn hiến hàng nghìn năm rực rỡ, sao lại không thể làm như vậy?
Chúng ta đã có cả một hệ thống các quy định khá chặt chẽ của Đảng cho đến các quy định của Nhà nước, nhưng vẫn xảy ra tình trạng “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền các cấp thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, trong đó có những trường hợp hết sức nghiêm trọng và kéo dài. Thực tế đó cho thấy cần phải rà soát lại toàn bộ “quy trình” tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, khắc phục những hạn chế, yếu kém đã bộc lộ, đồng thời cũng phải rà soát lại quy trình xử lý cán bộ sai phạm theo hướng kiên quyết, nhanh gọn hơn, không thua kém gì các quốc gia văn minh.
Với cơ chế tìm chọn hiền tài đúng đắn, tiến bộ, phù hợp thực tiễn hiện nay, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được những kẻ kém đức, kém tài, cơ hội, chui sâu leo cao, đồng thời tìm chọn được những cán bộ có đủ đức tài làm rường cột quốc gia, đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân.
Dù ở hoàn cảnh nào thì đức hy sinh, khát vọng cống hiến cho Tổ quốc luôn là những giá trị bất biến của hiền tài.
Mối liên hệ hữu cơ giữa “nguyên khí quốc gia” - những người hiền tài - với vận mệnh quốc gia, dân tộc là điều đã được chứng minh qua lịch sử mấy ngàn năm của đất nước. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khi nhờ có hai gia tướng tài năng đức độ Dã Tượng và Yết Kiêu mà thoát khỏi vòng vây quân thù đã thốt lên rằng: “Chim hồng hộc sở dĩ bay cao được là nhờ ở sáu trụ xương cánh cứng rắn”. Ngày nay, những cán bộ liêm chính, đức tài vẹn toàn được lựa chọn đảm nhiệm các trọng trách, sẽ là những trụ xương cánh cứng rắn để Đảng cầm quyền và bộ máy chính quyền vững mạnh, phục vụ nhân dân một cách hiệu quả, đưa đất nước tiến lên vững chắc trên con đường hội nhập và phát triển.
Thời cơ và thách thức nằm ngay trong chính chúng ta./.
Yêu nước ST.

Các thế lực thù địch tăng cường tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.


Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả, nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4- Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông thường. Với những luận điệu trên chúng ta cần kịch liệt lên án, tích cực đấu tranh, phủ nhận những quan điểm trên 

Các thế lực thù địch tăng cường bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị ở nước ta hiện nay

 


Đây là “tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ: nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. Trong rất nhiều phương diện chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng “lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là “khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,... 
Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta. 

Các thế lực thù địch tăng cường công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ.

 


Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. Chung quanh vấn này, nổi bật mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. 
Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng.

Nội dung đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

 


Văn kiện đại hội XII khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, .... bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”. Đấu tranh bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học về chiến tranh, quân đội. Bảo vệ hệ thống khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù về chiến tranh, quân đội. Bảo vệ kết quả vận dụng, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc trong cách mạng Việt Nam. Bảo vệ tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội về quốc phòng, quân sự và bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu, lực lượng, phương thức bảo vệ tổ quốc.. Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tập trung bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng lực lượng quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng, lãnh đạo và quản lý quốc phòng. Bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Bảo vệ chính sách Quốc phòng. Bảo vệ tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội, quyền làm chủ của Nhân dân về quốc phòng, quân sự. Xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta.

Phương châm đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng


Thứ nhất: Khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển, thực tiễn;

Thứ hai: Kiên định về nguyên tắc lý luận chính tri, tư tưởng, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong tư tưởng, quan điểm cụ thể.

Thứ ba: Bình tĩnh, thận trọng, vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa, phê phán với kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái, phản diện

Thứ tư: Sát thực tế nhiệm vụ chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp, chủ động, sáng tạo, linh loạt trong các hình thức, biện pháp và phương thức đấu tranh.