Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

Không thể phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về 'Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh'. Điều này không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân mà còn góp phần quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, thái độ, lối sống của cán bộ, đảng viên. Tuy vậy, thời gian qua, trên nhiều diễn đàn mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là những luận điệu cần phải được nhận diện rõ và tích cực đấu tranh phản bác.

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam nên tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người chính là tài sản tinh thần quý giá của cả dân tộc ta. Do vậy, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu chống phá thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh mà còn xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá về chủ trương này tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin và khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”! Để lý giải điều này, các thế lực thù địch viện dẫn rằng chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những năm 40, 50 của thế kỷ XIX dựa trên tiền đề kinh tế - xã hội của các nước châu Âu khác xa so với Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam là “không phù hợp”. Có ý kiến còn cáo buộc rằng sở dĩ Việt Nam trong suốt gần hết thế kỷ XX rơi vào cảnh “nồi da nấu thịt” là do Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì thế, việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là “một sự phi lý”!

Hai là, có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện nay, thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không còn phù hợp, từ đó cho rằng việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là “sai lầm”, “sẽ không có kết quả”. Ở góc độ này, một số phần tử cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đề cao sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn lãnh đạo đất nước tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại bài xích việc Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Họ cho rằng “đó là sự phi lý về mặt lịch sử”, “trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”!

Ba là, với chiêu bài “hạ bệ thần tượng”, có thế lực thù địch còn cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là một con người hoàn thiện” vì “chỉ biết sống vì dân tộc”, “xem nhẹ gia đình”. Có kẻ còn cố tình bóp méo, xuyên tạc khi đánh đồng hai khái niệm “học tập ” và “ bắt chước ”. Họ cho rằng, học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Có kẻ còn cáo buộc, vu khống rằng“Càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng”hay “Học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là vô bổ, tốn ngân sách, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân”!

Có thể nhận thấy, những luận điệu trên lộ rõ ý đồ chống phá, không chỉ với mục tiêu xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Do đó, cần hết sức cảnh giác trước luận điệu chống phá này.

NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được ra đời và kết tinh trong suốt quá Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và hiện đang vẫn là “kim chỉ nam” cho nước ta trên con đường đổi mới và phát triển. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire từng nhận định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”. Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”. Đó những ghi nhận rất khách quan của dư luận quốc tế về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người không chỉ là hệ thống những vấn đề mang tính lý luận mà có sự thống nhất giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng với đạo đức và phong cách. Với Người, lý luận và thực tiễn, nói và làm luôn đi liền với nhau. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Do đó, không thể cho rằng học tập làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là “vô bổ”, “hình thức”, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác vạch sẵn. Đó là sự cố tình xuyên tạc, quy chụp nhằm tạo ra sự lệch lạc về nhận thức trong quần chúng nhân dân. Đây không chỉ là chiêu bài “hạ bệ thần tượng” mà còn nhằm mục đích chống phá, xuyên tạc một cuộc vận động rất có ý nghĩa, được tổ chức sâu rộng, thường xuyên, liên tục trong thời gian dài.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; trở thành phong trào, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thực tiễn, đã có những câu chuyện cảm động về những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là người giáo viên đã 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những cô giáo còn rất trẻ nhưng đã dành cả tuổi thanh xuân của mình dũng cảm ngày ngày chèo đò qua sông đưa học trò tới lớp. Đó là người bác sĩ sẵn sàng từ bỏ những bệnh viện lớn của thành phố, rời xa cuộc sống phồn hoa đô thị để chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng cao với mong muốn mang đến nụ cười cho trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đến với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, không quản khó khăn, nguy hiểm vì sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân…

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác tuy có những cách thể hiện khác nhau song đều có một điểm chung, đó là đều học Bác tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Điều đó chứng tỏ việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải kiểu “hô hào khẩu hiệu”, “mang tính hình thức” như luận điệu mà các thế lực thù địch thường rêu rao. Điều đó đã thật sự ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam; thực sự khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của mình cho đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, góp phần tạo nên “rừng hoa đẹp” cho đất nước. Do đó, không thể quy chụp một cách phiến diện rằng việc “đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là “vô bổ”, “kém hiệu quả”!

Có thể khẳng định, thời gian qua việc “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tuyên truyền, lan tỏa; tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực trên đây đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc “Đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động này để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, coi việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu tự thân, tự nguyện, tự giác thực hiện. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những cá nhân thực hiện tốt việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến, tạo động lực và cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được triển khai trong thời gian dài nên để thu hút được đông đảo sự tham gia của toàn xã hội, cần tạo thêm một luồng sinh khí mới với việc đổi mới nội dung, hình thức thực hiện. Các nội dung thực hiện cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với từng chủ thể thực hiện. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện cũng cần có những tiêu chí riêng, tránh rập khuôn máy móc nhưng cũng tránh tùy tiện, qua loa. Ngoài ra, cần gắn việc thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị khác như vấn đề “tự soi”, “tự sửa”, tự chịu trách nhiệm”, “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó làm cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, tránh lối hình thức, xáo mòn.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu lợi dụng việc xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để chống phá Đảng, Nhà nước. Gần đây, một thực tế không thể phủ nhận là các thế lực thù địch ngày càng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng theo chiều sâu. Đó là bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc, phủ nhận cả những hoạt động của Đảng ta trong việc lan tỏa, tôn vinh đóng góp của Người với dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc Đảng ta đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cần nhạy bén hơn nữa trong việc nắm bắt những thông tin sai trái, xấu độc về vấn đề này, kịp thời định hướng, tuyên truyền cho nhân dân theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” để tránh việc bị các luận điệu sai trái chiếm lĩnh thông tin. Ngoài ra, cần tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện chính trị quan trọng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa tính đúng đắn trong những chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, có thể khẳng định việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Điều đó một mặt làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ăn sâu, bám rễ hơn nữa vào đời sống tinh thần, tư tưởng và tiếp tục trở thành “kim chỉ nam” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, điều đó cũng góp phần củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu hơn nữa, nhân lên những điều tốt đẹp, lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

TS. Lê Thị Chiên

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam - Sự thật không thể phủ nhận

         Là đất nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, tỷ lệ dân số có tín ngưỡng, tôn giáo không nhỏ và tín ngưỡng, tôn giáo thường xuyên bị các thế lực xấu lợi dụng để chống phá nên Đảng, Nhà nước ta càng luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho Nhân dân

Chúng tôi mở đầu bài viết này bằng lời nói của Linh mục Giuse Trần Xuân Mạnh - Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ biểu dương các tổ chức tôn giáo có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (ngày 30/8/2022 tại Thành phố Hồ Chí Minh): “Hơn bảy triệu người Công giáo cũng chính là hơn bảy triệu người công dân Việt Nam và nhận thức rõ: từ bản Hiến pháp đầu tiên đến nay, Nhà nước ta luôn quan tâm, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân”.

Thật vậy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, thể hiện ở các góc độ sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, Việt Nam đã 4 lần sửa đổi Hiến pháp, song quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn luôn được thể hiện nhất quán và khẳng định trong các Hiến pháp như một giá trị của chế độ xã hội mới, phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phát triển đất nước cũng như thực tiễn hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.

Thể chế hóa quy định trong Hiến pháp, năm 2016, Quốc hội Khóa XIV thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và từ 1/1/2018, cả Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP đều có hiệu lực thi hành, góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Ngày 29/12/2023, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 95/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Nghị định số 162/NĐ-CP. Nghị định số 95 tăng 8 điều so với Nghị định số 162, trong đó giữ nguyên 6 điều, sửa đổi 18 điều, bổ sung 9 điều và 02 khoản.

Đầu năm 2024, Quốc hội khóa XV đã tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ 5 để thông qua Luật Đất đai sửa đổi, trong đó có nội dung: Nhà nước thực hiện giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích khác phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước như các tổ chức, cá nhân khác.

Được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi, nên hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo được sửa chữa khang trang, nhiều cơ sở thờ tự được xây mới. Hiện nay, khoảng hơn 70% cơ sở tôn giáo trên toàn quốc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm trong thực tiễn đời sống

Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Những ngày lễ trọng của các tôn giáo như: lễ Phật đản của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành… thu hút đông đảo tín đồ tham dự và được tổ chức với quy mô lớn.

Sãi cả Chau Khi - Trụ trì chùa Tà Ngáo (phường An Phú, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang) cho hay, Chùa luôn được nhận được sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần của cấp ủy, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc ở địa phương để Chùa tổ chức lễ đón mừng năm mới trang trọng, đúng nghi thức cổ truyền cho đồng bào nhân dịp Tết Chol Chnam Thmay hằng năm.

Ngày 8/8/2023, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 623/QĐ-BVN về việc “Công nhận tổ chức tôn giáo cho tổ chức Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn”. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo Chính phủ tại Hội nghị cung cấp thông tin báo chí về công tác thông tin đối ngoại (tháng 4/2024), tính đến hết năm 2023, đã có 38 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận; cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 02 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực, có thêm 1.100 điểm nhóm được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, trước đó đã có hơn 2.600 điểm nhóm được chấp thuận, bao gồm hơn 60 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp trên 690 quyết định xuất bản, với trên 2,4 triệu bản in các tác phẩm và kinh sách tôn giáo, được dịch và xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Việt, tiếng Anh và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số... để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của mọi người,

Hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ. Tháng 7/2023, Việt Nam - Tòa thánh Vatican đã nâng cấp quan hệ lên cấp có Đại diện thường trú tại Việt Nam, đồng thời thông qua việc ký Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh Vatican tại Việt Nam. Việc tăng cường mối quan hệ này không chỉ thể hiện sự đúng đắn trong chiến lược ngoại giao của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho cộng đồng Công giáo ở Việt Nam.

Sau khi thông báo về việc nâng cấp quan hệ, Giáo hoàng Francis đã viết thư gửi cộng đồng Công giáo Việt Nam rằng Việt Nam - Vatican đang rất tích cực cùng nhau tìm kiếm con đường hòa hợp phục vụ thiện ích của hai bên.

Tại buổi tiếp Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher nhân chuyến thăm Việt Nam (ngày 10/4/2024),Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng cho rằng: “Việc hai bên nâng cấp quan hệ lên Đại diện thường trú là dấu mốc quan trọng và là kết quả của một quá trình trao đổi tích cực trên tinh thần tôn trọng, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, đồng thời thể hiện Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tôn giáo, trong đó có Công giáo”.

Bên cạnh đó, trong năm 2023, có hơn 300 lượt đại diện cho các tổ chức tôn giáo đã tham gia vào các diễn đàn, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo tại nước ngoài. Gần 400 lượt người nước ngoài vào nước ta tham gia các hoạt động tôn giáo.

Nhiều sự kiện tôn giáo lớn đã được tổ chức tại Việt Nam, như: Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu tổ chức tại giáo phận Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình. Các Hội thánh Tin lành Việt Nam tổ chức Lễ hội “Xuân yêu thương” tại Thành phố Hồ Chí Minh… Những sự kiện này đã góp phần quảng bá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Thực tế chứng minh, khi và chỉ khi thực hiện tốt vai trò là quốc gia thành viên có trách nhiệm của các công ước quốc tế về nhân quyền thì “Việt Nam được bạn bè quốc tế đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023 - 2025”.

Thực tiễn trên là bằng chứng đanh thép khẳng định rằng, các luận điệu xuyên tạc về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là hoàn toàn sai sự thật, không khách quan, không công bằng, không phản ánh chính xác và đầy đủ tình hình, nỗ lực cũng như thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các luận điệu cố tình biến tấu sự thật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hòng tạo ra các lý do cho sự can thiệp từ các lực lượng thù địch vào chính sách nội bộ của đất nước, thúc đẩy áp lực trên các diễn đàn quốc tế nhằm thay đổi chế độ chính trị của Việt Nam theo hướng tự do và dân chủ phương Tây.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người dân là chính sách nhất quán, luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện trong thực tế với ý chí và quyết tâm cao. Từ lý luận đến thực tiễn và những thành tựu đạt được đã làm rõ sự thật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam là không thể bị phủ nhận. Đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo chính là đảm bảo và tôn trọng quyền con người. Chúng ta sẵn sàng nhận diện và đấu tranh chống lại mọi âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để gây chia rẽ và phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm thực hiện mục tiêu và lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và dân tộc ta đã lựa chọn, đó là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” tại Việt Nam./.

TS. Lý Thị Thu - ThS. Nguyễn Thị Thúy

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 


Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm đảm bảo cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã ra nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Như vậy Đảng ta khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Do đó tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG AN NINH NƠI BIỂN ĐẢO

 


Để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là điều kiện căn bản để xây dựng đất nước; sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống xã hội kinh tế là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Đề cao yêu cầu chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phải xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chống chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Theo đó, một mặt phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tích cực, chủ động của các tổ chức quần chúng; mặt khác, phải tăng cường vai trò của chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về các hoạt động và các tổ chức chính trị-xã hội. Nhà nước phải dựa vào các tổ chức chính trị của quần chúng, tạo điều kiện cho các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả; đồng thời kiên quyết trấn áp những tổ chức và lực lượng phản cách mạng, các hoạt động phá vỡ khối đoàn kết toàn dân.

Thực hiện các cơ chế, chính sách để thực hiện các mục tiêu, chương trình phát triển biển, đảo cả trước mắt và lâu dài, nhất là các dự án phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng an ninh, các đặc khu kinh tế, hình thành các khu kinh tế liên hợp biển - bờ - đất liền, góp phần củng cố thế trận quốc phòng an ninh trên từng hướng và cả nước. Cùng với đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư, khuyến khích nhân dân ra định cư, sinh sống ổn định lâu dài trên đảo; đầu tư, hình thành các tổ, nghiệp đoàn đánh bắt hải sản xa bờ với các loại tàu hiện đại, phù hợp, có bố trí các phương tiện tuyên truyền tương xứng. Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng những kiến thức pháp luật cơ bản về biển, đảo cho lực lượng ngư dân, lao động trên biển, khuyến kích họ bám biển dài ngày, liên tục trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và tham gia tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Chú ý quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các lực lượng tham gia đấu tranh trên biển, kết hợp với thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội; thực hiện xây dựng “Bờ mạnh biển mới vững”.

Công tác tuyên truyền biển đảo là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp hết sức quan trọng cần được phát huy hơn nữa. Cùng với đó, phải coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực và bảo đảm các trang bị cho lực lượng làm công tác tuyên truyền biển đảo; làm tốt việc trao đổi, rút kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tư liệu, tài liệu,…nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trong thời gian tới.

Thực hiện quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc” . Xác định sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, trong đó, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, lấy khu vực phòng thủ ven biển làm chỗ dựa, lực lượng Hải quân làm nòng cốt; kết hợp sức mạnh của mọi ngành, mọi lực lượng hướng biển, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh với tinh thần tự lực là chính để quản lý, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển; sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi, đánh thắng các hành độn g xâm lấn của bất kỳ thế lực nào để bảo vệ biển, đảo.

 

 

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 


                                                                     

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet và lượng người truy cập, sử dụng các trang mạng xã hội tương đối cao trên thế giới. Với đặc điểm nổi bật là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn. Đây chính là mảnh đất màu mỡ, là cơ hội để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng nước ta với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường. Các quan điểm sai trái trên không gian mạng đã và đang gây ra tác hại nhất định đối với tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước và tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sỹ ở các cơ quan, đơn vị trong Quân đội.

SỰ NGHIỆP QUỐC PHÒNG PHẢI ĐẶT DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Dựng nước phải đi đối với giữ nước là một vấn đề có tính quy luật đã được chứng minh trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, là di sản quý báu mà tổ tiên ta để lại cho muôn đời con cháu. Tư tưởng đó được hình thành và phát triển qua các triều đại phong kiến Đại Việt. Trước lúc lâm chung, vua Lý Nhân Tông đã căn dặn Thái tử cùng quần thần: Nên sửa sang giáo mác để phòng việc bất ngờ”[1]. Thượng tướng Trần Quang Khải khi chỉ đạo quân dân Đại Việt chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) đã thể hiện tư tưởng này qua câu thơ: Thái bình tu trí lực/ Vạn cổ cựu giang san”[2] (Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu). Giành lại nền độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ từ tay quân xâm lược nhà Minh sau 10 năm gian lao kháng chiến, dù phải tập trung mọi nỗ lực vào công cuộc khôi phục, xây dựng đất nước sau chiến tranh, vua Lê Thái Tổ luôn đau đáu ý thức phòng bị đất nước. Khi đi kinh lý vùng biên, ông đã thể hiện rõ tư tưởng đó của mình bằng bài thơ cho khắc trên vách núi đá Thác Bờ (Hòa Bình) rằng:Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an”[3] (Biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài”. Cho đến lúc cuối đời, vua Lê Thái Tổ cũng không quên di chúc lại cho con cháu: Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”[4]. Giữa thế kỷ XV, trước nhiệm vụ giữ nước còn rất nặng nề, vua Lê Thánh Tông đã nhắc nhở: Phàm có nhà nước tất có võ bị”[5],và ra chỉ dụ khuyên các tướng sĩ phải biết quý trọng gìn giữ, bảo vệ từng thước núi, tấc sông do cha ông để lại, năng luyện rèn sẵn sàng đối phó với giặc ngoài.

Lịch sử phát triển của cách mạng Việt Nam chứng minh một vấn đề có tính quy luật là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đối với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; sự nghiệp quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ngay từ khi mới ra đời, trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về bạo lực cách mạng, trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổ chức ra Quân đội công nông. Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng xác định “Vũ trang cho công nông”, “Tổ chức đội tự vệ công nông”. Đảng ta xác định việc tổ chức ra Quân đội để tiến hành đấu tranh cách mạng.

Đại hội Đảng lần thứ nhất tháng 3 năm 1935 đã ra nghị quyết về tổ chức và lãnh đạo tự vệ thường trực, trong đó đã chỉ rõ “Công nông tự vệ đội đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương quân uỷ Đảng Cộng sản”, “Luôn giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực”. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước ta ở vào thế phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài, Trung ương Đảng chủ trương “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, với đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hoá cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam”, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ để động viên toàn dân củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh ở miền Bắc, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn, chi viện và phát triển lực lượng vũ trang giải phóng ở miền Nam, từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giành được độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc.

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định: Tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng và Nhà nước, của toàn dân và toàn quân ta; sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước. Hiện nay Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, do đó Đảng phải lãnh đạo, Nhà nước phải quản lý sự nghiệp quốc phòng.

phao

[1] Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1,  Nxb VH-TT, H.2006, tr. 328.

[2] Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1,  Nxb VH-TT, H.2006, tr. 471.

[3] Viện Lịch sử quân sự - Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập1: Buổi đầu dựng nước, tr, 73.

[4] Viện Lịch sử quân sự - Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập1: Buổi đầu dựng nước, tr, 61.

[5] Viện Lịch sử quân sự - Binh chế Đại Việt thế kỷ XI-XV, tr, 721.

TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KÊT DÂN TỘC THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Các nội dung tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải đặc biệt coi trọng tạo nên sự đồng thuận về nhận thức trong nhân dân: Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hôi chủ nghĩa là một chỉnh thế thống nhất, gắn chặt bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân với bảo vệ chế độ; bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn chặt với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ chế độ bao hàm cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, làm cơ sở cho sự đồng thuận về hành động.

Giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là điều kiện căn bản để xây dựng đất nước; sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống xã hội kinh tế là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Đề cao yêu cầu chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phải xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chống chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Theo đó, một mặt phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tích cực, chủ động của các tổ chức quần chúng; mặt khác, phải tăng cường vai trò của chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về các hoạt động và các tổ chức chính trị-xã hội. Nhà nước phải dựa vào các tổ chức chính trị của quần chúng, tạo điều kiện cho các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả; đồng thời kiên quyết trấn áp những tổ chức và lực lượng phản cách mạng, các hoạt động phá vỡ khối đoàn kết toàn dân.

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG AN NINH


Thực hiện các cơ chế, chính sách để thực hiện các mục tiêu, chương trình phát triển biển, đảo cả trước mắt và lâu dài, nhất là các dự án phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng an ninh, các đặc khu kinh tế, hình thành các khu kinh tế liên hợp biển - bờ - đất liền, góp phần củng cố thế trận quốc phòng an ninh trên từng hướng và cả nước. Cùng với đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư, khuyến khích nhân dân ra định cư, sinh sống ổn định lâu dài trên đảo; đầu tư, hình thành các tổ, nghiệp đoàn đánh bắt hải sản xa bờ với các loại tàu hiện đại, phù hợp, có bố trí các phương tiện tuyên truyền tương xứng. Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng những kiến thức pháp luật cơ bản về biển, đảo cho lực lượng ngư dân, lao động trên biển, khuyến kích họ bám biển dài ngày, liên tục trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và tham gia tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Chú ý quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các lực lượng tham gia đấu tranh trên biển, kết hợp với thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội; thực hiện xây dựng “Bờ mạnh biển mới vững”.

Công tác tuyên truyền biển đảo là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp hết sức quan trọng cần được phát huy hơn nữa. Cùng với đó, phải coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực và bảo đảm các trang bị cho lực lượng làm công tác tuyên truyền biển đảo; làm tốt việc trao đổi, rút kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tư liệu, tài liệu,…nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trong thời gian tới.

Thực hiện quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc” . Xác định sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, trong đó, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, lấy khu vực phòng thủ ven biển làm chỗ dựa, lực lượng Hải quân làm nòng cốt; kết hợp sức mạnh của mọi ngành, mọi lực lượng hướng biển, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh với tinh thần tự lực là chính để quản lý, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển; sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi, đánh thắng các hành động xâm lấn của bất kỳ thế lực nào để bảo vệ biển, đảo.

 

 

 

 

 

 

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

 Hoạt động bảo vệ ANQG không giới hạn “phạm vi không gian” cố định, mà diễn ra trên hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong từng tổ chức, từng địa phương, trong phạm vi cả nước và chịu sự tác động trực tiếp của diễn biến tình hình thế giới, khu vực. Củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Để góp phần củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung thực hiện các công tác trọng tâm sau: Nắm vững và thực hiện đầy đủ, đúng đắn chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước; bảo đảm tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, chống âm mưu, hoạt động lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để xâm phạm an ninh quốc gia. Tích cực vận động đồng bào trong các tôn giáo, tranh thủ các tầng lớp chức sắc trong tôn giáo, những người có uy tín trong dân tộc; phân hóa, cô lập số cực đoan, chống đối, củng cố phong trào và các đoàn thể quần chúng trong vùng tôn giáo, dân tộc.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động Tôn giáo, nhất là việc phát triển đạo trái pháp luật vào các vùng dân tộc; bảo đảm quan hệ giữa tôn giáo trong nước với các tổ chức tôn giáo nước ngoài phải tuân thủ luật pháp, tôn trọng độc lập, chủ quyền của Nhà nước ta, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng can thiệp, gây sức ép. Củng cố và phát triển truyền thống Tôn giáo gắn bó với dân tộc. Thực hiện đúng đắn các chính sách đối với trí thức, văn nghệ sĩ, những người có công với cách mạng và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Chủ động và tăng cường công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, tranh thủ số đông hướng về Tổ quốc; phân hóa, cô lập, kiềm chế hoạt động của bọn phản động người Việt lưu vong chống phá đất nước.

Giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ Nhân dân, thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo yên dân, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động nhằm chia rẽ, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân tộc để kích động gây rối, gây mất ổn định chính trị.

BIỂN ĐÔNG ĐẶT RA NHIỀU THÁCH THỨC TỚI AN NINH QUỐC GIA

 

Tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh thế chiến lược, tranh giành ảnh hưởng, lợi ích của các nước lớn ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường không chỉ đe dọa hòa bình, ổn định khu vực, chủ quyền của Việt Nam mà còn đặt ra nhiều thách thức, hệ lụy đối với an ninh quốc gia Việt Nam.

Tại Biển Đông hiện đang tồn tại 02 nhóm mâu thuẫn lớn; mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền đang diễn biến phức tạp và khó giải quyết do liên quan nhiều bên (05 nước, 06 bên) với quan điểm khác biệt cả về chủ quyền, lợi ích và cách thức giải quyết tranh chấp, nhất là khác biệt về quan điểm, chủ trương của Trung Quốc với các bên có tranh chấp còn lại.

Biển Đông không chỉ đơn thuần là tranh chấp chủ quyền mà đan xen với đó là sự cạnh tranh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích của hầu hết các nước lớn trên thế giới, đặc biệt là sự tranh giành thế chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Thực tế quan hệ giữa các nước lớn và quan hệ Mỹ - Trung những năm gần đây đã phản ánh rõ, mỗi khi cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung diễn ra gay gắt thì vấn đề Biển Đông cũng diễn biến phức tạp, căng thẳng, hoạt động của Trung Quốc và sự can dự của các nước lớn vào vấn đề Biển Đông đều gia tăng.

Hai nhóm mâu thuẫn trên khiến tình hình Biển Đông còn diễn biến phức tạp, kéo dài, không thể giải quyết trong ngắn hạn và trung hạn, tiếp tục là yếu tố quan trọng chi phối môi trường an ninh trong khu vực, trực tiếp tác động, ảnh hưởng tới lợi ích, ANQG, môi trường đối ngoại của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam. Sự bế tắc trong giải quyết giữa các bên có tranh chấp ở Biển Đông và sự can dự mạnh mẽ của các nước lớn làm phát sinh những nguy cơ về xung đột cục bộ trên biển, xu hướng chạy đua vũ trang trong khu vực. Bệnh cạnh đó, những căng thẳng ở Biển Đông còn kéo theo hàng loạt các hệ lụy khác như tác động, ảnh hưởng, làm chậm đà phát triển kinh tế biển của đất nước, nhất là các hoạt động dầu khí, nghề cá; những đe dọa về an ninh ngay trong nội địa như các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tiến hành các hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại.

BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Thực hiện chính đường lối đổi mới, mở cửa, tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của  nước ta đã ở vị thế chưa từng có trong lịch sử. Nền kinh tế phát triển ổn định, an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, Việt Nam có quan hệ rộng rãi với các nước, các tổ chức quốc tế, là thành viên có uy tín và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, uy tín lãnh đạo của Đảng được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, cần phải bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ thì phát triển đất nước mới bền vững.

 Bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ. Rà soát, bổ sung và bảo đảm việc chấp hành nghiêm các quy định, quy chế, quy trình công tác của cấp ủy, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp về quản lý cán bộ, đảng viên, phát ngôn của đảng viên, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ. Phát huy vai trò của tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với số đảng viên vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, kỷ luật phát ngôn và vi phạm nguyên tắc Đảng, những cán bộ đảng viên có suy thoái về tư tưởng tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Cung cấp thông tin, vận động, tranh thủ, đồng thời coi trọng củng cố chứng cứ, xử lý theo quy định của pháp luật đối với số văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư, cán bộ hưu trí có tư tưởng bất mãn, nhất là số đã “tự chuyển hóa” thành đối tượng phản động hoặc bị đối tượng phản động lôi kéo, lợi dụng. Thường xuyên củng cố tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, nhất là những nơi có “điểm nóng”, giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trong nội bộ, liên quan đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, đình công, lãn công.

Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, các bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm trao đổi, phối hợp thường xuyên giữa các ban, bộ, ngành liên quan trong phân tích, đánh giá, xử lý thông tin về cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Đông Nam Á, Biển Đông và trên trường quốc tế.

TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỔ QUỐC

 


Tiếp tục đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, tạo sự đan xen về lợi ích chiến lược, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ chủ quyền. Trọng tâm là củng cố, tăng cường quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng. Tận dụng các diễn đàn, các cơ chế song phương, đa phương, tìm kiếm sự ủng hộ của quốc tế; tranh thủ các học giả, nhân sĩ có uy tín trên thế giới viết bài, tổ chức hội thảo quốc tế ủng hộ các quan điểm của Việt Nam. Vừa hợp tác, vừa đấu tranh, phản đối, yêu cầu Trung Quốc dừng hoạt động đối với việc thăm dò, khai thác, các hoạt động bồi đắp xây dựng đảo trái phép, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng biển Việt Nam. Lấy xây dựng lòng tin chiến lược làm cơ sở để đấu tranh; bằng mọi kênh tiếp xúc, ngoại giao, cố gắng không để xảy ra xung đột, làm “đứt gãy” quan hệ hữu nghị với các nước. Tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, nhất là một số đối tác quan trọng (Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước ASEAN; cùng với việc tăng cường thúc đẩy quan hệ, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ta ở Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển 1982, không để Trung Quốc lợi dụng, kích động, gây sức ép trên bộ khi xảy ra bất ổn trên biển, đảo.

Thúc đẩy thiết lập và nâng cao hiệu quả hoạt động các đường dây nóng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng Việt Nam với Trung Quốc và các nước láng giềng, các nước liên quan tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông. Tăng cường các bản ghi nhớ với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các nước có biển tiếp giáp với Việt Nam. Tổ chức tuần tra chung ởcác vùng biển đã được phân định; cùng các nước ASEAN diễn tập cứu hộ, cứu nạn; nghiên cứu phương án phối hợp tuần tra chung bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông.

Coi trọng quan hệ với Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị và thực hiện các cam kết đã ký với Trung Quốc. Thực hiện phương châm “16 chữ”: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Chủ động, tích cực đẩy nhanh tiến trình xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của các nước, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nhân sĩ trí thức tiến bộ và kiều bào ta ở nước ngoài để phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC NHẬN THỨC VÀ TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN ĐẢO TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của biển, đảo. Quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp được xác định trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhận thức rõ đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, đối tượng tác chiến của Quân đội. Thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân, kịp thời định hướng tư tưởng, không để bị kích động. Tích cực, chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin, luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ, phá hoại quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, nhất là các nước láng giềng, nước lớn, chống các tư tưởng quá khích, đòi sử dụngvũ lực - Giải quyết tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, kiên trì, bền bỉ.

Tăng cường vai trò tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương và ngành Tuyên giáo các cấp, thống nhất định hướng thông tin tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tăng cường phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương trao đổi, chia sẻ thông tin, chủ động cung cấp thông tin có định hướng tư tưởng, dư luận trong nước và quốc tế về các vấn đề trên Biển Đông, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, gây khó khăn cho ta.

Thường xuyên làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, thống nhất nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo theo đúng luật pháp quốc tế. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và Nhân dân trên các vùng biển, đảo, nhất là phổ biến Luật biển để hạn chế tình trạng ngư dân khai thác trái phép, vi phạm chủ quyền vùng biển nước khác. Thông tin cho ngư dân trên biển, khi bị các lực lượng nước ngoài bắt giữ phải bình tĩnh xử lý, không manh động, không ký vào các văn bản thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc để tránh bị kẻ xấu lợi dụng tuyên truyền sai sự thật.