Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG TA LÀ VĂN MINH!

         Nhiều nhà khoa học đã có những định nghĩa khác nhau về văn minh. Chúng tôi xin dẫn ra dưới đây một số định nghĩa đã được ghi trong Từ điển để chúng ta tham khảo giúp cho việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói: Đảng là văn minh!

Từ điển Chính trị do Nxb Tiến bộ (M) và Nxb Sự thật (H) đồng ấn hành năm 1988 ghi: Văn minh có 3 cách hiểu như sau:
- Đồng nghĩa với văn hoá;
- Trình độ, giai đoạn phát triển của nền văn hoá vật chất và tinh thần (văn minh cổ đại, văn minh hiện đại).
- Giai đoạn phát triển xã hội sau thời đại dã man.

Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của GS. Nguyễn Lân do Nxb Văn học, H. ấn hành năm 2007 cũng ghi 3 cách hiểu:

- Trình độ phát triển khá cao của nền văn hoá về tinh thần và vật chất trong xã hội loài người: “Văn hoá súc tích, tiên tiến tới một mức nào đó mới thành văn minh” (Trường Chinh).

- Cuộc sống cao đẹp đã xa thời dã man, mông muội: Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn (Hồ Chí Minh).

- Có trình độ văn hoá cao: Chúng ta sẽ xây lên một cuộc đời hoàn toàn mới, một xã hội phồn vinh, văn minh, hiện đại (Lê Duẩn).

Từ “văn minh”(civilization) xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào thế kỷ 18 nói lên niềm tin và khát vọng của con người vào tiến bộ xã hội. Sau đó dùng để chỉ những loại hình xã hội khác nhau kể từ khi con người ra khỏi thời tiền sử, đặc biệt để chỉ những nền văn minh cổ đại (Hy Lạp, Lưỡng Hà, Trung Hoa...). Từ văn minh cũng được đế quốc, thực dân dùng làm vũ khí chính trị che dấu mục đích xâm lược các thuộc địa dưới chiêu bài đi “khai hoá văn minh” cho các nước thuộc địa. Văn minh là một khái niệm động, nhiều nhà nghiên cứu đã ví văn minh như một cơ thể sống. Về đại thể, người ta cho rằng loài người đã trải qua ba giại đoạn văn minh chủ yếu: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Gần đây nhiều nhà khoa học cho rằng giai đoạn văn minh nào cũng bao hàm ba yếu tố: tự nhiên, kỹ thuật, con người nhưng mỗi giai đoạn văn minh lấy một trong ba yếu tố làm gốc, làm trục chính.

Sự bàn luận vẫn đang còn tiếp tục. Theo chúng tôi, trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, khi Người nói Đảng ta là văn minh thì không nên quá sa đà vào việc tranh luận có tính chất ngữ nghĩa mà cách tốt nhất là nên tôn trọng sự tồn tại các định nghĩa của khái niệm văn minh, nhưng quan trọng là xác đỉnh rõ nội hàm của nó và dụng ý của tác giả trong những văn cảnh khác nhau.

Chúng tôi nghĩ rằng câu nói của Hồ Chí Minh “Đảng ta là văn minh” có thể bao gồm một số nội dung sau đây:
- Đảng ta là văn minh bởi vì ở thời điểm khó khăn, đen tối, bế tắc nhất của xã hội Việt Nam (đầu thế kỷ 20), Đảng đã ra đời với tư cách là tổ chức chính trị tiền tiến có tính vượt trội (văn minh) so với mọi tổ chức chính trị đã xuất hiện trong cùng thời kỳ đó. Nó là con đẻ của sự vận động lịch sử và sự xuất hiện của bản thân nó chính là để đáp ứng yêu cầu khách quan, tất yếu của lịch sử dân tộc, gánh vác sứ mệnh dẫn dắt nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh tự giải phóng cho mình khỏi cuộc đời nô lệ, khỏi mọi ách áp bức, bất công và tàn bạo, giành lấy chủ quyền. Đảng tự nguyện nhận làm bộ tham mưu tối cao và đội tiền phong dũng cảm trong cuộc đấu tranh ấy của nhân dân.

- Đảng ta là văn minh bởi vì nó là một tổ chức chính trị chân chính, trung thực, trung thành, quang minh chính đại, chung thuỷ, trước sau như một đều nhất quán một tinh thần yêu chuộng hoà bình, tôn trọng công lý và chính nghĩa, vì độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình và có quan hệ chân thành, bình đẳng, hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với các dân tộc và tất cả các quốc gia trên thế giới. Đảng văn minh là bởi Đảng kiên quyết cự tuyệt thói cơ hội, mị dân, giáo điều, bảo thủ, dối trá, lừa gạt, thất tín, tiền hậu bất nhất, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo...

- Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng là một tổ chức cách mạng, kiên trì cải tạo xã hội cũ, phá bỏ mọi cái lạc hậu; kiên trì chống lại cuộc sống mất nhân tính; nó nhân danh chính nghĩa và vì chính nghĩa mà chống phi nghĩa, tức là đấu tranh chống mọi biểu hiện của cái ác. Vì vậy, bản thân Đảng là một lực lượng tiên tiến, là bộ phận tinh hoa của xã hội, là một tập thể đại diện cho văn minh và nhân danh văn minh để chống dã man, tàn bạo.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì bản chất của Đảng, mục tiêu lý tưởng của Đảng không phải chỉ nhằm đập tan, phá bỏ cái cũ xấu xa, lạc hậu mà chủ yếu là kiến tạo và dựng xây một xã hội mới tốt đẹp, nhân đạo hoàn bị tiến tới một nền văn minh mới - văn minh cộng sản chủ nghĩa - với ba yếu tố đảm bảo:

Tự nhiên được bảo vệ và tái tạo hoà hợp với con người, tự nhiên nhờ có con người mà nhân đôi mình lên và cùng với con người là chủ thể của cái đẹp;

Một xã hội mà nền khoa học và công nghệ phát triển cao (nền kinh tế tri thức), sản phẩm được làm ra bởi trí tuệ con người hướng tới mức của cải ngày càng thoả mãn cho mọi nhu cầu của toàn xã hội;

Nhân dân hoàn toàn làm chủ xã hội; con người được tự do phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và nhân cách, con người thực sự được làm chủ vận mệnh của mình trong một xã hội “người yêu người sống để yêu nhau”.

Như vậy là toàn bộ hoạt động của Đảng thực chất là đều hướng vào làm cho “văn hoá súc tích, tiên tiến tới mức đã trở thành văn minh”.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng bao gồm những phần tử ưu tú của xã hội kết thành một tổ chức có năng lực trí tuệ cao, có trình độ văn hoá tiêu biểu của thế giới đương đại, có trình độ lý luận tiên phong đủ sức làm một đảng tiên phong dẫn đường cho quần chúng trong các giai đoạn phát triển của lịch sử, tức là trong những bước ngoặt của phong trào cách mạng Đảng phải đủ sức đưa ra những kiến giải đúng đắn, hợp tình, hợp lý về những vấn đề mà thực tiễn đang đòi hỏi phải giải quyết. Nói cách khác, Đảng là văn minh có nghĩa là Đảng như người thuyền trưởng và các thủy thủ thông tuệ, đủ trí khôn và lòng dũng cảm chèo lái con thuyền cách mạng qua mọi thác ghềnh để hoà vào dòng chảy chung của nhân loại, đưa dân tộc phát triển bền vững, sánh vai cùng các cường quốc 5 châu. Một đảng như thế tức là bản thân nó phải là một tập thể bao gồm hầu hết những đảng viên hồng thắm, chuyên sâu, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tài đức vẹn toàn, gương mẫu cho quần chúng, dẫn dắt quần chúng, “lo trước thiên hạ, vui sau mọi người”.

Đảng văn minh chính vì Đảng không ngừng phấn đấu để luôn xứng đáng là người dẫn đường cho quần chúng đồng thời “là người con hiếu thảo của nhân dân”.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì trong tổ chức và hoạt động, Đảng phải không ngừng rèn luyện cho mình cách ứng xử văn minh.

Trước khi qua đời Hồ Chí Minh đã dự báo về thời gian giải phóng hoàn toàn miền Nam và Người đã để lại một bản Di chúc với những căn dặn sâu sắc, toàn diện có giá trị như là linh hồn và đề cương thu gọn của bản Cương lĩnh xây dựng đất nước sau ngày thống nhất. Hai vấn đề quan trọng bậc nhất của một Đảng cầm quyền được viết rõ trong Di chúc của Hồ Chí Minh đều thuộc về cách ứng xử văn minh của Đảng: “Trước hết nói về Đảng” và “Đầu tiên là công việc đối với con người”.

Biểu hiện quan trọng nhất của văn minh là cách con người ứng xử với nhau như thế nào. Dưới đây xin điểm lại mấy nét cơ bản trong cách ứng xử của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
* Ứng xử nội bộ
“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triến sự đoàn kết và thống nhất của Đảng...”(1). Đó là nguyên tắc ứng xử quan trọng nhất trong nội bộ Đảng, làm nên bộ mặt văn minh tinh thần của Đảng và là mấu chốt của công tác xây dựng đảng.

“Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(2). Đây là cách ứng xử văn minh giữa những người đồng chí, những người chiến sỹ cùng có lý tưởng cao đẹp, cùng nguyện chiến đấu hy sinh suốt đời vì một nghĩa lớn là độc lập cho Tổ quốc và hạnh phúc cho đồng bào, do đó phải sống với nhau sao cho có tình, có nghĩa bởi như Hồ Chí Minh đã từng nói nếu đọc bao nhiêu sách Mác-Lênin mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì không thể coi là người đảng viên của Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin được. Có tình đồng chí thương yêu là phải giúp nhau cùng tiến bộ, là phê bình chân thành, là đòi hỏi đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm. Thành kiến, trù dập, tranh giành địa vị, bổng lộc, tư túng, bè cánh, yêu nên tốt, ghét nên xấu... là những hành vi không văn minh, là trái với tư cách của một Đảng chân chính cách mạng. Tất cả những gì trái với đạo đức cách mạng đều trái với văn minh, đối lập với văn minh và là sự phá hoại văn minh. Vì vậy có thể nói Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng ta có đạo đức cách mạng. Những ai vô đạo thì cũng là kẻ vô văn, là kẻ thù của cách mạng như Hồ Chí Minh từng chỉ rõ.

* Ứng xử với xã hội:
Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Đây là giai đoạn khác về cơ bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng: Đảng lãnh đạo Nhà nước, Nhà nước thể chế hoá các chủ trương đường lối của Đảng bằng hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Do vậy trình độ văn minh của Đảng ở giai đoạn này thể hiện ở việc lãnh đạo xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện làm thay Nhà nước, không đứng trên Nhà nước mà Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Một vấn đề lớn nhất của lãnh đạo là quan tâm đến con người, là thu hút nhân tâm, là an sinh xã hội, là chăm lo cho mọi lớp người, đến từng đồng bào một. Thái độ và chính sách đối với con người là thước đo trình độ văn minh của Đảng cầm quyền. Điều này chúng ta đã thấy rất rõ trong suốt quá trình trực tiếp lãnh đạo cơ quan cao nhất của Đảng đồng thời là người đứng đầu Nhà nước của Hồ Chí Minh. Chúng ta còn được Hồ Chí Minh dặn lại rất tỷ mỉ trong phần viết về con người của bản Di chúc. Không được phép quên bất cứ ai từ anh chị em thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, đến những chiến sĩ trẻ tuổi, các cháu thiếu niên và nhi đồng, chị em phụ nữ và đồng bào nông dân miền xuôi cũng như miền ngược… Văn minh và nhân đạo hơn nữa là “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(3).

- Đảng ta là văn minh và sẽ mãi mãi "Đảng là đạo đức, là văn minh”, bởi vì Đảng luôn ý thức được rằng: Điều kiện để đảm bảo cho tính tất yếu lịch sử của vai trò cầm quyền và lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn luôn đổi mới và chỉnh đốn Đảng.

Đảng lãnh đạo là tất yếu
Thường xuyên đổi mới và chỉnh đốn Đảng là tất yếu.

Cả hai đều tất yếu như nhau!

Để thể hiện quyết tâm phấn đấu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi: “Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”(4)./.
--------------------
(1,2,3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510.
(4) Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, NXBCTQG, H 2006, tr.279).
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “ĐẢNG TA LÀ... THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, LÀ HÒA BÌNH, ẤM NO”!

         Trong diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:
“....Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.

Trong hai bài trước chúng tôi đã trình bày một số nhận thức của mình về: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Ở bài này chúng tôi xin trình bày mấy suy nghĩ về “Đảng ta... là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.

Nói Đảng là đạo đức là muốn nói rõ tư cách, bản chất chân chính cách mạng, lòng trung thành với Tổ quốc và nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói Đảng là văn minh là muốn nói trình độ cao về văn hoá, năng lực trí tuệ, tính tiền phong về lý luận, sự trong sạch về tổ chức và khả năng của Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh chống lại bạo tàn, chống lại cuộc sống mất nhân tính. Từ trước Đảng đã như thế, ngày nay Đảng lại càng phải rèn luyện để tiếp tục được như thế. Nói Đảng là đạo đức và văn minh nghĩa là Đảng phải thể hiện ra hành động, ở những bước tiến trên thực tiễn để hiện thực hoá cương lĩnh chính trị mà Đảng đã đề ra. Còn nói: “Đảng...: là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no” là chỉ rõ mục tiêu lý tưởng và nhiệm vụ mà Đảng phải hy sinh, chiến đấu để thực hiện.

Tư tưởng thống nhất, độc lập, hoà bình của Hồ Chí Minh là nhất quán. Trước hết phải thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động trong nội bộ Đảng. Để chuẩn bị cho sự nghiệp lớn của Đảng và dân tộc, Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện, giảng dạy về lý luận và phương pháp cách mạng cho lớp cán bộ đầu tiên vào những năm 20 của thế kỷ trước. Những bài giảng đó có tên chung là Đường cách mệnh. Theo Người, trước hết Đảng phải có lý luận tiền phong để làm tròn nhiệm vụ của Đảng tiên phong. Đảng phải có chủ nghĩa. Trong Đảng ai cũng phải hiểu và tin theo chủ nghĩa ấy. Một vấn đề cơ bản nhất là Đảng phải thống nhất trên cơ sở cùng nhận thức được chân lý, cùng tin theo một học thuyết cách mạng và khoa học. Nhận thức lý luận là tự giác. Chân lý khoa học là khách quan. Không thể có sự áp đặt chân lý. Không thể chỉ có “nhiệt tình xông lên” mà lại thiếu hiểu biết, thiếu lý luận soi đường ví như người đi đêm không có ánh đuốc chiếu sáng. Nhưng làm cách mạng tất nhiên là phải có trái tim, có nhiệt tình sôi nổi được dẫn dắt bởi một lý trí sáng suốt. Thống nhất về lý tưởng, cùng tin theo một chủ nghĩa khoa học là điều căn cốt nhất của Đảng chân chính cách mạng. Thống nhất giữa lý trí sáng suốt và tình cảm sôi nổi là bản lĩnh cần có của mỗi đảng viên. Hồ Chí Minh từng nói những người cộng sản Việt Nam phải có 3 chữ “đồng” là: “đồng chí” (cùng chí hướng), “đồng tâm” (một lòng, hiệp lực, chung lòng cứu nước) và “đồng tình” (cùng giống nhau ở tình cảm yêu nước, yêu đồng bào và ghét bất công tàn bạo). Theo Hồ Chí Minh, lý luận phải gắn kết với thực tiễn, soi sáng cho thực tiễn và từ thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức lý luận của mình. Dưới ánh sáng của chân lý khoa học và phép biện chứng duy vật mà nhận định về tình hình đất nước trong bối cảnh quốc tế ở từng giai đoạn cụ thể. Đây là vấn đề rất khó, thường có sự nhận thức khác nhau, có đúng, có sai, tuỳ nhãn quan chính trị, sự hiểu biết, năng lực trí tuệ và trải nghiệm của mỗi người. Do vậy dễ phát sinh mâu thuẫn, dễ có những nhận định, đánh giá tình hình đi tới việc đề xuất các chủ trương, nhiệm vụ, các quyết sách khác nhau. Đây là khâu không dễ dàng để có ngay sự thống nhất cao trong toàn Đảng. Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ dẫn quan trọng thông qua cách ứng xử của bản thân Người trong mối quan hệ với các đồng chí khác khi giải quyết các công việc của Đảng. Đó là dân chủ thảo luận, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, thật thà trên tinh thần đồng chí, là sự lắng nghe lẫn nhau, tôn trọng ý kiến của nhau và chờ đợi nhau. Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời về tôn trọng ý kiến tập thể nhưng biết bảo lưu những ý kiến mà mình cho là đúng đắn, biết giúp đỡ đồng chí nâng cao trình độ lý luận và thâm nhập thực tế, lấy thực tiễn để kiểm tra chân lý, từ đó mà cảm hoá, thuyết phục nhau đi tới sự nhất trí cao trong Đảng về đường lối chiến lược cũng như sách lược cách mạng. Các văn bản vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) nhất trí thông qua chính là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta (theo tôi nên gọi các văn bản đó là Cương lĩnh tháng 2 để phân biệt với các Cương lĩnh sau này). Trên thực tế, tinh thần chung của Cương lĩnh đó đã phải trải qua thử thách khắc nghiệt của cuộc đấu tranh anh dũng và hy sinh của nhiều đồng chí, đồng bào cho mãi đến năm 1941 tại Hội nghị TƯ lần thứ 8 do tình hình trong nước và thế giới biến đổi to lớn, thuận lợi nên mới tạo ra được sự nhất trí cao trong toàn Đảng và được toàn dân hưởng ứng đưa tới bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước nhà. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếp theo là cuộc kháng chiến chống ngoại xâm suốt 30 năm đưa tới kết thúc hoàn toàn thắng lợi đã chứng minh hùng hồn sự thống nhất trong toàn Đảng cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Sự thống nhất ấy cũng chứng tỏ đường lối của Đảng ta luôn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và chỉ có độc lập, tự chủ chúng ta mới có sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức để đoàn kết đấu tranh giành thắng lợi. Bài học về sự thống nhất, độc lập, tự chủ về đường lối, về chủ trương chiến lược là bài học có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta. Thống nhất, độc lập, tự chủ của Đảng là nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc làm cho nước nhà độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Và chỉ có mục tiêu ấy mới làm cho Đảng cùng dân tộc thống nhất ý chí và hành động. Chất keo kết dính tất cả mọi người Việt Nam trong Đảng cũng như ngoài Đảng, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, là ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập dân tộc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu lý tưởng, là khát vọng của Đảng và cùa nhân dân ta. Đó là cơ sở để đoàn kết thống nhất trong Đảng, là cái tạo nên sức mạnh của ý chí độc lập tự chủ, tự quyết định về dường lối để “dù ai nói ngả, nói nghiêng”, dù ai “nói ngon, nói ngọt” hay trước mọi áp lực khách quan Đảng ta vẫn vững vàng chủ động chèo lái con thuyền cách mạng nước nhà trước những bước ngoặt quan trọng của lịch sử. Và chính sự thống nhất, độc lập trong Đảng mới đưa cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ vì đọc lập, thống nhất đất nước đến toàn thắng. Chính vì vậy Đảng ta là biểu tượng chân chính của ngọn cờ thống nhất, độc lập của nhân dân ta trong suốt hơn 94 năm qua. Thời thế đã đổi thay nhưng tư tưởng về thống nhất, độc lập, tự chủ vẫn còn nguyên giá trị, nó vẫn đang có ý nghĩa soi sáng cho các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thống nhất trong Đảng về ý chí, chủ trương và hành động; độc lập, tự chủ trong quyết sách chiến lược; linh hoạt nhưng giữ vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là bản lĩnh của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại… Ngày nay Đảng đang tiếp tục truyền thống của 80 năm đã qua để giữ vững quan điểm độc lập tự chủ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ vùng trời, vùng biển, rừng cao, suối sâu, đất đai, tài nguyên, khoáng sản của cha ông ta muôn đời trước đã đổ biết bao máu xương công sức để lại cho chúng ta ngày nay. Giữ vững chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng đời đời của các thế hệ con dân nước Việt, là trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một Đảng chân chính cách mạng, một đảng luôn tự hào là đại diện cho trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Nếu nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, hoà bình và ấm no là nguyện vọng chính đáng và là khát vọng muôn đời của nhân dân ta. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đã dẫn dắt dân tộc từng bước biến mơ ước hoà bình, ấm no ngàn đời của nhân dân ta thành hiện thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nối kinh nghiệm của tổ tiên ta, Người đã nêu gương sáng về sự cứng rắn trong nguyên tắc, mềm dẻo trong sách lược, về tính cương nhu trong ứng xử để giữ vững hoà bình trong độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Độc lập-tự do-hạnh phúc, tiêu ngữ ấy do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng từ buổi đầu dựng nền dân chủ cộng hoà tới nay vẫn đang dẫn dắt dân tộc ta hướng tới tương lai, trong đó hiện hữu một nước Việt Nam tự chủ, toàn vẹn cõi bờ, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh bước tiến lên cùng nhân loại./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGHĨ TIẾP VỀ LỜI BÁC HỒ “ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”!

     Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường hơn 94 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng "diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống... chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2025 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn./.
Yêu nước ST.

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ CHÍNH TRỊ”!

     Khi giai cấp vô sản ra đời, xã hội đặt dưới sự thống trị của giai cấp tư sản. Phong trào vô sản đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực bóc lột cũng bắt đầu ngay từ đó, nó liên tiếp diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi lúc, cho tới nay. Trong tất cả các hình thức và các giai đoạn đấu tranh của giai cấp vô sản khi chính quyền nhà nước còn nằm trong tay giai cấp tư sản thì đều là các cuộc đấu tranh chính trị với ý nghĩa như là một sự tập dượt, rèn luyện để trưởng thành; những người cộng sản đều phải nắm lấy và hướng dẫn nó. Khi nói về mối quan hệ giữa những người cộng sản với toàn thể những người vô sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào”(1). Đó là chân lý hiển nhiên, là lẽ bình thường mà những người cộng sản chân chính cách mạng phải hiểu và vận dụng. Nhưng trên thực tế, ngay từ thời C.Mác đã có những “lý luận gia” và không ít những nhà hoạt động chính trị thờ ơ với các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản. Họ coi các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản chống chính quyền của giai cấp tư sản và giới chủ tư bản bóc lột giai cấp công nhân như là một sự vụn vặt, thấp kém, trái với nguyên tắc và mục đích tối cao, cuối cùng của đảng cộng sản. Họ đưa ra những lý thuyết viển vông, mơ hồ để ru ngủ phong trào công nhân trước sự bất công, tàn bạo của giới chủ được bênh vực và bảo vệ bởi nhà nước tư sản. Chẳng hạn, họ cho rằng mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước, vì vậy “Giai cấp công nhân không cần phải tự tổ chức thành chính đảng; giai công nhân không được viện bất cứ lý do gì để làm chính trị, vì tiến hành đấu tranh chống nhà nước tức là thừa nhận nhà nước và như vậy là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu! Công nhân không nên tiến hành bãi công, vì phí sức mình để giành cho được tăng lương hoặc để ngăn chặn hạ lương có nghĩa là thừa nhận chế độ làm thuê, như thế là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu của việc giải phóng giai cấp công nhân!

... Công nhân không nên thành lập các công đoàn, vì như vậy công nhân sẽ làm cho sự phân công lao động xã hội, như hiện có trong xã hội tư sản, tồn tại mãi; chính sự phân công ấy làm cho công nhân chia rẽ và là cơ sở thực sự của tình trạng nô lệ hiện nay của họ... Tóm lại, công nhân nên khoanh tay đứng nhìn và không nên lãng phí thời gian của mình vào việc tham gia phong trào chính trị kinh tế. Loại hoạt động đó chỉ có thể mang lại cho họ những hậu quả trực tiếp... Trong khi chờ đợi sự thanh toán xã hội tuyệt đẹp ấy, giai cấp công nhân phải tỏ ra hiền từ nhã nhặn như đàn cừu ăn no, không được quấy rầy chính phủ, phải sợ sệt luật pháp, phải chịu nhẫn nhục... dù sao họ cũng không được chống đối chế độ tư bản, ngoài việc cao đàm về cái xã hội tương lai không còn chế độ đáng ghét ấy nữa”(2). C.Mác gọi đó là “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”.

“Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” mà C.Mác phê phán là tư tưởng phản động và hèn hạ của nhà kinh tế học tư sản Pru-đông P.J (Paris xuất bản năm 1868). Nó đã bị C.Mác phê phán và bị vứt vào sọt rác của lịch sử. Tuy vậy nó cũng vẫn còn ảnh hưởng với những mức độ khác nhau ở những nước có nền kinh tế thị trường. Ngay ở nước ta hiện nay cũng không phải không có nhiều nơi coi thường việc xây dựng tổ chức đảng và tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Không phải là không có sự ươn hèn và thoái hoá, biến chất của một số người được cử đại diện phía Việt Nam tham gia trong lãnh đạo các liên doanh… Phải nhận rõ rằng những người công nhân chúng ta trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay, xét về mặt chính trị xã hội thì họ là một bộ phận của giai cấp đang lãnh đạo xã hội, họ có tổ chức đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Như vậy, họ đang là chủ nhân có tổ chức của xã hội, có Đảng lãnh đạo, có Nhà nước pháp quyền XHCN đang quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong đó có khu vực kinh tế ngoài nhà nước). Nhưng xét về mặt sở hữu thì bản thân những người lao động Việt Nam hiện nay trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước vẫn là người vô sản (với ý nghĩa là người không có tư liệu sản xuất) đang làm thuê cho giới chủ. Mặc dù vậy, như trên đã nói, họ khác xa cái giai cấp vô sản “trần như nhộng” của thế kỷ 19, bối cảnh ra đời của chủ nghĩa Mác. Đây là một bộ phận của giai cấp vô sản đặc thù trong một xã hội có nền kinh tế thị trường chưa hề có tiền lệ trong lịch sử. Vậy thì Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị cần có sự đầu tư trí tuệ, tâm lực và trách nhiệm nghiên cứu và hoạch định chính sách để tổ chức, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Nếu khu vực kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân thì bộ phận giai cấp vô sản ở đây cũng ngày càng quan trọng. Không thể để tình trạng “Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” xuất hiện một cách tự phát như vừa qua ở một số nơi. Ví dụ có doanh nghiệp, giới chủ mạt sát, thậm chí sỉ nhục người lao động, có nơi quỵt lương công nhân, tự ý tăng giờ làm nhằm bóc lột sức lao động; hoặc không ít nơi giới chủ không tôn trọng luật pháp Việt Nam về những điều kiện bảo hộ lao động để xảy ra chết người…, về giữ vệ sinh môi trường lao động; về đảm bảo những phúc lợi xã hội như y tế, sinh hoạt văn hoá, nơi ăn ở (không ít nơi công nhân bị ngộ độc hàng loạt khi ăn cơm ở bếp tập thể), phương tiện đi làm khó khăn, trường học cho con em không có… Đáng chú ý là hầu hết các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có hành động làm ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau, có nơi rất nghiêm trọng, nhưng các nhà quản lý thì có nơi còn bao che, có nơi chỉ xử phạt chiếu lệ, gượng nhẹ; đặc biệt, các chế tài hoặc thiếu, hoặc chưa đủ mạnh và việc khắc phục rất trì trệ. Như thế thì có phải là sự lặp lại “chủ nghĩa thờ ơ chính trị” của Pru-đông P.J một cách có ý thức hay vô thức không?

Theo thiển nghĩ của chúng tôi, trong công tác xây dựng đảng về tư tưởng và lý luận thì cần đấu tranh, vạch trần, lên án những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”; trong hoạch định chủ trương, chính sách cần đặt vấn đề chống một cách nghiêm túc, cần thể hiện một cách quyết liệt trong hoạt động thực tiễn; trong tổ chức thì cần nghiên cứu một cách khoa học, sát với thực tiễn để xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội ở các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Không thể bằng vào kinh nghiệm tổ chức, xây dựng và phương thức hoạt động ở thời kỳ đã qua - thời kỳ cơ chế quản lý tập trung bao cấp - để ứng dụng trong các doanh nghiệp hiện nay. Đảng cần có chỉ đạo cụ thể trong xây dựng và hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và lãnh đạo các cơ quan nhà nước xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động của giới chủ và cả với người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần có sự cân nhắc thận trọng khi cử cán bộ vào làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân, nhất là tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; cần giáo dục và quản lý chặt chẽ tư tưởng và đạo đức của họ để họ thực sự là người của giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động. Phải trừng trị thích đáng những ai chỉ vì lợi ích cá nhân mà hy sinh lợi ích của quốc gia và lợi ích hợp pháp của người lao động. Hơn bất cứ ở đâu, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang đòi hỏi một đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa vững về chính trị, vừa có tâm trong sáng, vừa có trí tuệ và bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Về phía những người lao động, cần phát huy ý thức và bản lĩnh của người làm chủ đất nước, nâng cao tay nghề, rèn luyện tác phong và kỹ thuật lao động công nghiệp, đặc biệt là nắm vững pháp luật để có quan hệ đúng mực với giới chủ, làm cho giới chủ phải tôn trọng người lao động. Đề cao lòng tự tôn dân tộc, biết tự trọng và tuân theo kỷ luật, luật pháp là cách tốt nhất để giới chủ phải khâm phục và tôn trọng.

Đảng và Nhà nước đã và sẽ phải tiếp tục hoàn thiện chế độ chính sách và hệ thống các quy phạm pháp luật để đảm bảo cho những người vô sản trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước được làm chủ - làm chủ bằng Nhà nước và pháp luật./.
---------------------
(1) Tuyển tập Mác - Ăngghen, NXBST, H.1980, tập 1, tr.557.
(2) Sđd, tập 4, tr.345-347.
Yêu nước ST.

NGUY HIỂM “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ CHÍNH TRỊ”

     Trong nhiều trường hợp, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay có sự liên quan nhất định đến những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”!

"Chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là một khuynh hướng trong tư tưởng chính trị, đồng thời cũng là một "căn bệnh", xét dưới góc độ tính nguy hại và tốc độ lây lan của nó. Thuật ngữ “chủ nghĩa thờ ơ chính trị” được C.Mác dùng để chỉ khuynh hướng xem nhẹ, thậm chí phủ định các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân ngay trong chính phong trào công nhân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tất cả các hình thức và các giai đoạn đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản, những người cộng sản đều phải nắm lấy, tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng... như một phần không thể tách rời của cuộc đấu tranh giai cấp. Có thể thấy, ngay từ khi ra đời cho đến nay, giai cấp công nhân đã và đang thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực bóc lột một cách vô cùng quyết liệt.

Tuy nhiên, cũng ngay từ đầu cả về lý luận và thực tiễn đã xuất hiện trào lưu coi nhẹ, thậm chí phủ định vai trò của đấu tranh giai cấp. Mỗi lần, những người theo "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" thường đưa ra những lý thuyết mơ hồ, lập luận suy diễn, ru ngủ phong trào đấu tranh của công nhân. Cuối cùng theo họ, giai cấp công nhân nên khoanh tay đứng nhìn và không nên lãng phí thời gian vào việc tham gia các phong trào đấu tranh.

Ở Việt Nam hiện nay, "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" còn biểu hiện khá phổ biến với mức độ, tính chất và sự ảnh hưởng khác nhau. Biểu hiện rõ nhất là ở trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những biểu hiện chủ yếu trước hết là không quan tâm hoặc coi nhẹ việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Công đoàn. Đồng thời, trong quá trình hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư, đã xuất hiện xu hướng đề cao hợp tác, hợp tác bằng mọi giá mà dẫn đến mất cảnh giác, lơ là đấu tranh, từng bước thoả hiệp vô nguyên tắc. Hơn nữa, những vi phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc không nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng không giải quyết kịp thời. 

Như vậy, thực chất của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là đi ngược lại, có tính chất phủ định những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hậu quả của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là làm cho một bộ phận công nhân xa rời mục tiêu lý tưởng; từng bước làm phai nhạt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; gây sự chia rẽ, hoài nghi giữa công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với công nhân trong các khu vực kinh tế khác...

Tất nhiên, trong quan hệ với giới chủ, những người công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những người làm thuê, nhưng trong mối quan hệ với toàn bộ giai cấp công nhân Việt Nam, họ là bộ phận không tách rời của giai cấp đã làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ xã hội. Vì vậy, họ là giai cấp lãnh đạo xã hội thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”, vai trò của đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng được nâng lên. Do đó, công tác xây dựng Đảng, Công đoàn trong các doanh nghiệp rất cần sự quan tâm hơn nữa của Đảng, Nhà nước, tổ chức Công đoàn cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Phải từng bước ngăn ngừa, khắc phục, đẩy lùi "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" đã và đang xuất hiện một cách vô tình hay cố ý.

Góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời phát huy bản chất ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần nhận thức rõ bản chất, đấu tranh vạch trần, lên án những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”, kiên quyết không để nó có thể “lây lan” trở thành căn bệnh nguy hiểm tàn phá lĩnh vực tư tưởng lý luận, cũng như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội.


Đảng, Nhà nước cần có biện pháp hiệu quả để đấu tranh, khắc phục những biểu hiện của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cần nghiên cứu một cách khoa học, sát với thực tiễn để xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội ở các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Trong công tác xây dựng Đảng và tổ chức Công đoàn ở khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cần chọn cử và quản lý chặt chẽ cán bộ phụ trách, nhất là quản lý về tư tưởng chính trị, đạo đức để họ thực sự là người đại diện tin cậy, người bảo vệ lợi ích chính đáng của đội ngũ công nhân và người lao động. Bên cạnh đó, xử lý nghiêm những hành vi xâm phạm đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, người lao động, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc...
Yêu nước ST.

“BẮT BỆNH” THIẾU NIỀM TIN MỘT CÁCH MÙ QUÁNG!

     Câu chuyện dù đã quen thuộc trong đời sống xã hội nhưng rất ít người đề cập thẳng thắn. Ấy là việc nhiều cá nhân thiếu niềm tin một cách mù quáng vào người tốt, cái tốt đang hiện hữu trong đời sống xã hội, rồi sinh ra tâm lý tiêu cực, bất mãn, thiếu trách nhiệm với tổ chức, cộng đồng, thậm chí là với chính mình. Đây là căn bệnh khá phổ biến ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng; rất cần được cơ quan chức năng sớm nhận diện, dập tắt.

1. Trên trang Facebook cá nhân, một cán bộ hưu trí ở phía Nam bỗng dưng đăng bài viết bày tỏ bức xúc, quy chụp và lớn tiếng phê bình lối sống của một số cán bộ cấp cao. Chủ tài khoản mạng xã hội này cho rằng cán bộ tốt bây giờ không còn nữa nên bản thân thật sự mất niềm tin. Biết anh từ khá lâu nên chúng tôi gặng hỏi, sao anh lại quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm” như thế. Anh bực dọc: “Bây giờ cán bộ ai chả thế. Những người tưởng chừng là tốt, là hay rồi cũng đã “nhúng chàm”. Thế thì còn biết tin ai, tin vào đâu”.

Không đồng tình với quan điểm đó, chúng tôi đấu lý rồi kể tên hàng loạt cán bộ cấp cao liêm chính, giản dị, sống vì dân. Bảo rằng cán bộ tha hóa, biến chất trong xã hội bây giờ không hiếm, nhưng đó không phải là tất cả. Đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thuyết phục mãi anh mới chịu hạ giọng, nhưng vẫn chua thêm một câu qua điện thoại, đại thể: Nói chung, không thể tin được cán bộ bây giờ!

Một câu chuyện khác, khi báo chí đăng tải một bài viết về tấm gương cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở miền Trung, dù không biết cán bộ đó là ai, không rõ thực hư thành quả cá nhân đó đạt được như thế nào nhưng nhiều người đọc ở ngoài Bắc vẫn bình luận bày tỏ sự hoài nghi, thậm chí dị nghị: Lại “bôi trơn”, tung hô nhau đây. Đúng là “đài nói láo, báo nói thêm”...

Rõ ràng, tâm lý xã hội đang thật sự có vấn đề. Đó không chỉ là tâm lý của những người dân bình dị mà còn là lối nghĩ của không ít trí thức, người có vị trí xã hội, kể cả những người có chức trách, nhiệm vụ đi tuyên truyền, giáo dục. Công bằng mà nói, lâu lắm rồi, báo chí và các phương tiện truyền thông chưa quan tâm thỏa đáng, đúng tầm mức việc tuyên truyền về người tốt-việc tốt, cán bộ tiêu biểu, điển hình, mô hình... 

Minh chứng là khi thử thao tác tra cứu Google với cụm từ “gương cán bộ cấp tỉnh, thành phố”... thì kết quả thu được thật khó tin: Gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay số cán bộ cấp tỉnh, thành phố, cán bộ công chức ở các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương được báo chí truyền thông viết thành gương điển hình.

Thực tế cho thấy, không phải không có điển hình, mà chính những người trong cuộc lại ngại được tuyên truyền, vì tâm lý sợ “lợi bất cập hại”... Mặt khác, ngay cả cơ quan báo chí cũng chưa dành nhiều thời gian, đầu tư công sức để mở chuyên trang, chuyên mục ngợi ca, tôn vinh các điển hình, mô hình, cái hay, cái đẹp một cách hệ thống, thường xuyên, hiệu quả. Cũng bởi thế mà trong dòng chảy thông tin xã hội, thông tin mạng xã hội lấn át thông tin báo chí chính thống; thông tin tiêu cực bao trùm lên thông tin tích cực một cách khó kiểm soát.

Kết quả khảo sát tại một số cơ quan báo chí cho thấy, những bài viết về cái hay, cái đẹp, gương người tốt-việc tốt thời gian qua nhận được rất ít sự quan tâm của bạn đọc, lượng chia sẻ, tương tác khá khiêm tốn; số lượng bình luận bày tỏ thái độ tiêu cực, thiếu niềm tin nhiều hơn sự ghi nhận, khen ngợi nhân vật điển hình.

Thậm chí trong không ít năm, các giải thưởng báo chí ở nhiều cấp, ngành, địa phương thường ưu tiên giải thưởng cho các tác phẩm đề cập đến nội dung đấu tranh chống tiêu cực, dám bóc trần những hạn chế, yếu khuyết của đời sống xã hội. Hơn thế, trên báo chí, mạng xã hội hiện nay, người ta nói nhiều đến sự vô cảm và dễ dàng bắt gặp những tin tức tội phạm, câu chuyện tiêu cực, hành vi ứng xử kém văn hóa... Những thứ ấy được đào xới, lan truyền một cách bừa bãi, nhận sự ủng hộ của cộng đồng mạng theo lối a dua, ăn theo; nhưng lại có quá ít người sẻ chia, ủng hộ những tấm gương tốt, việc làm thiện, cách sống hay. 

2. Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi. Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ đình trệ, nội bộ mất đoàn kết.

Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti, cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ, đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”.

Điều đáng nói là các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng, đòi thay đổi chế độ.

Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả, tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả!

3. Thật ra, người tốt, cái tốt luôn hiện hữu quanh ta. Vấn đề là mỗi người cần tĩnh tâm nhìn nhận để phát hiện ra điều đó, bởi người tốt thì không bao giờ lộ thiên, điều tốt thì thiêng liêng, cao quý, rất khó để cảm nhận đủ đầy giá trị của nó. Những người tốt thường khiêm tốn, không thích khoe khoang thành tích cá nhân, không thích được vinh danh, xướng tên trên truyền thông, báo chí. Lòng tốt đôi khi chỉ là những cử chỉ, lời nói động viên rất nhỏ, có khi chỉ thoảng qua khiến chúng ta khó nhận ra, ví dụ như việc giúp một người già qua đường, nhường ghế cho một người yếu thế trên xe buýt... Đừng nghĩ rằng việc tốt phải là những việc to tát, lớn lao.

Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó khăn gấp bội.

Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn 14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học tập, làm theo.

Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh, nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội./.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

KHÔNG ĐỂ ĐỨT GÃY TINH THẦN “XÂY” VÀ “CHỐNG”!

     Các cơ quan, đơn vị, địa phương vừa tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra là phải tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh, làm sâu sắc thêm tinh thần, nhiệt huyết “xây” và “chống”...

Không thể tư duy kiểu “hớt váng”
Sau 2 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW (gọi tắt là Kết luận 01), trong quá trình tổ chức hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm, thực tiễn ở nhiều cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị các cấp ghi nhận không ít ý kiến băn khoăn. Một trong những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm đặt ra là: Tại sao Đảng ta càng đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì số lượng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật càng nhiều? Tại sao ở một số bộ, ngành, địa phương, mặc dù người đứng đầu mỗi lần đăng đàn phát biểu trong các hội nghị liên quan đều hô hào phải đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực, suy thoái, nhưng chỉ mới “dăm bữa nửa tháng” đã vướng vòng lao lý?

Một số cán bộ vừa mới hôm qua lên diễn đàn thuyết giảng đạo lý, hôm sau đã phải tra tay vào còng? Phải chăng, thực trạng đó chứng minh, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ là hình thức, kém hiệu quả, trước hết là ở ngay trong hệ thống chính trị, ngay trong hàng ngũ cán bộ cấp cao? Phải chăng cán bộ càng được học cao, vi phạm càng nhiều...

Những vấn đề được một bộ phận dư luận xã hội đặt ra như trên một phần xuất phát từ những thông tin do các thế lực thù địch xuyên tạc, lèo lái. Thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp luôn là đề tài được các đối tượng cực đoan, bất mãn có tư tưởng thù địch khai thác, thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Họ bám vào các vụ việc tiêu cực, các cán bộ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống bị xử lý kỷ luật đảng, truy tố trước pháp luật để suy diễn, xuyên tạc, phủ nhận thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; bóp méo, bôi đen tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thông tin sai trái, xấu độc trên không gian mạng đã tác động đến tâm lý, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng, dẫn đến kiểu tư duy “hớt váng”, thấy hiện tượng mà không hiểu bản chất; thấy cây mà không thấy rừng...

Để hiểu rõ những chuyển biến tích cực và kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện Kết luận 01 cũng như thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện. Trước hết, đó là tinh thần, phương châm chỉ đạo kết hợp “xây” và “chống”.

Kết luận 01 nêu rõ nhiệm vụ: “Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn”.

Quá trình quán triệt, tiếp tục triển khai thực hiện Kết luận 01 cần thấy rõ: Đảng ta đã đặt ra yêu cầu vừa khái quát, vừa cụ thể về việc phải gắn chặt, kết hợp việc học tập, làm theo Bác với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp; trong đó có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái trong nội bộ. Như vậy, kết quả học tập, làm theo Bác cần phải được thể hiện cụ thể thông qua hành động, việc làm, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Nói cách khác, nó phải được lượng hóa cụ thể trên thực tế.

Trong các hội nghị chuyên đề và quá trình tiếp xúc cử tri, rất nhiều lần các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta đã lưu ý, việc có nhiều cán bộ suy thoái, tham nhũng bị điều tra, xử lý không phải là “càng chống càng sai”, “càng học càng kém”... mà bản chất của vấn đề là do càng ngày chúng ta càng làm mạnh, làm quyết liệt việc đấu tranh, chỉnh đốn đội ngũ theo tinh thần không có vùng cấm. Trước đây, ít có vụ việc bị xử lý không phải là không có tham nhũng, tiêu cực, mà bởi lúc đó công tác đấu tranh chưa quyết liệt như hiện nay nên việc phát hiện, xử lý tiêu cực chưa hiệu quả.

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “trị một người để cứu muôn người” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh, chúng ta cần thấy rõ, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái là những biểu hiện vô cùng tinh vi, vô cùng khó khăn để có thể lôi ra ánh sáng công lý. Chủ nghĩa cá nhân như sâu mọt đục khoét bên trong thân cây.

Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tiêu cực gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo Bác với tinh thần “lấy xây để chống” thời gian qua đã lôi ra được hàng loạt cán bộ suy thoái trong nội bộ Đảng. Đó là thành tựu của cuộc đấu tranh đầy cam go, phức tạp và không ít “hy sinh”. Thành tựu đó đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, ngày càng đạo đức, văn minh để xứng đáng với niềm tin và sự gửi gắm của nhân dân.

Sự phát triển của tư duy và đòi hỏi gắt gao từ thực tiễn
Việc học tập, làm theo Bác không phải đến bây giờ Đảng ta mới đặt ra, mà đó là một hành trình mang tính hệ thống, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng và những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ. Ngay sau khi Bác mất, trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 đã thể hiện sắt son lời thề: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người...”.

Từ đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới đã ghi nhớ khát vọng “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Trải qua mỗi giai đoạn lịch sử, cách mạng dân tộc đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới, việc học tập, làm theo Bác cũng đòi hỏi có sự phát triển, bổ sung những nội dung, yêu cầu mới. Đó là sự phát triển tất yếu của tư duy biện chứng.

Trong 17 năm qua, kể từ khi Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay, việc học tập và làm theo Bác không ngừng được điều chỉnh, bổ sung nội dung, hình thức, giải pháp thực hiện. Đảng ta đã cụ thể hóa sự phát triển tư duy lý luận và đáp ứng yêu cầu gắt gao từ thực tiễn của đất nước bằng các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... Đặc biệt, trong những năm gần đây, việc ban hành, triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận 01 đã thể hiện yêu cầu ngày càng cao đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Kết luận 01 chỉ rõ: Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Bác, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật. Việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các khâu đột phá, các vấn đề cấp bách, bức xúc còn lúng túng, hiệu quả chưa cao...

Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi...

Với phương châm kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, sắp tới chắc chắn sẽ còn nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong hệ thống chính trị bị xử lý kỷ luật, lôi ra trước ánh sáng công lý. Đặc biệt là hiện nay, khi hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh tiếp tục được củng cố, đẩy mạnh, số lượng cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng bị kiểm tra, điều tra, xử lý ở các cấp chắc chắn sẽ còn nhiều thêm.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ tiếp tục diễn ra cam go, phức tạp, nhưng với tinh thần kiên trì, quyết liệt, không có vùng cấm, “lấy xây để chống”, chúng ta có niềm tin son sắt vào thắng lợi của Đảng.

Vấn đề cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị các cấp cần có là sự nhận thức thấu đáo, đầy đủ, sâu sắc bản chất của vấn đề bằng phép tư duy biện chứng. Tuyệt đối không tư duy kiểu “hớt váng” dẫn đến nghe theo, hùa theo, làm theo những luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội. Cán bộ, đảng viên có nhận thức thấu đáo, đầy đủ thì mới có cơ sở vững chắc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện ngày càng sâu rộng, hiệu quả việc học tập và làm theo Bác. Tinh thần “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được củng cố, tiếp lửa thường xuyên, liên tục bằng “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”... không để đứt gãy vì bất cứ lý do gì, bất cứ hoàn cảnh nào.

Thực hiện đồng bộ giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. "Xây" là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. "Chống" là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... (trích Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị)./.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

NỀN TẢNG VỮNG CHẮC KHÔNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC!

     Ngay từ những ngày thành lập, Đảng ta đã xác định chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, là một yếu tố mang tính quyết định góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc!

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chính sách dân tộc không ngừng được Đảng, Nhà nước ta quan tâm bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp tình hình thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đặc biệt trong những năm gần đây các nguyên tắc, vấn đề cơ bản về vấn đề dân tộc tiếp tục được khẳng định và bổ sung nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Vừa qua, lợi dụng sự việc một nhóm đối tượng gây mất an ninh trật tự ở Đắk Lắk, các tổ chức, cá nhân chống phá, thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam lập tức khai thác triệt để nhằm vu cáo chính quyền, xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đáng chú ý, chiêu bài vu cáo “Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền” tiếp tục được các đối tượng chống phá triệt để sử dụng như cho rằng nguyên nhân của vụ việc là do “người dân tộc không khuất phục, không quy thuận người Kinh”, “do căng thẳng sắc tộc, tôn giáo”. Có thể thấy, đây là một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng nhằm cố tình xuyên tạc bản chất của vụ việc, hướng lái dư luận theo những ý đồ đen tối.

Trong khi đó, dựa trên những kết quả điều tra thực tế, cơ quan chức năng đã đánh giá đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính, thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.

Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn, chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Thông tin về vụ việc đã được công bố kịp thời trên các phương tiện truyền thông đại chúng để người dân chủ động nắm bắt, hiểu rõ bản chất vấn đề, tuyệt đối không tin, nghe theo những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng xấu.

Vụ việc nêu trên một lần nữa cho thấy các thế lực thù địch, phản động luôn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Thực tế, nhiều năm qua, mỗi khi xảy ra vấn đề nào có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số thì các đối tượng này đều tìm cách triệt để lợi dụng với mục đích kích động mâu thuẫn, xung đột, làm căng thẳng tình hình, từ đó tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, bất mãn thực hiện các hành vi chống phá, gây rối theo sự điều hành, dẫn dắt của chúng. Bằng cách này chúng âm mưu tạo ra những mầm mống ly khai, chia rẽ nội bộ từ bên trong, gây bất ổn về chính trị, làm suy yếu chính quyền địa phương.

Thí dụ việc một số đồng bào dân tộc thiểu số do chưa nắm rõ thông tin nên chưa đồng tình với một vài chính sách ở các địa phương, đã được các đối tượng phản động lập tức xuyên tạc thành “chính quyền đàn áp người dân tộc thiểu số, vi phạm quyền tự do tôn giáo, nhân quyền của đồng bào du canh du cư”, nhằm kích động người dân bất hợp tác, chống đối cơ quan chức năng, hủy hoại tài sản của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

Bên cạnh đó các đối tượng chống phá thường xuyên khai thác sự chênh lệch về mức hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần giữa các vùng miền để khoét sâu những khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi xảy ra thiên tai, dịch bệnh từ đó xuyên tạc rằng “Đảng, Nhà nước ta thiếu quan tâm”, “đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”...

Chưa kể, lợi dụng một số yếu kém, sai phạm trong công tác quản lý, điều hành ở một số địa phương, các đối tượng chống phá lập tức lu loa, biến thành vấn đề chính sách dân tộc của Việt Nam là thiếu bình đẳng, không công bằng. Mưu đồ sâu xa là từ việc gây ra những “đốm lửa nhỏ” như vậy các đối tượng chống phá hy vọng sẽ thổi bùng lên thành những “đám cháy” lớn để kích động lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế nhằm “quốc tế hóa” các vấn đề nội bộ, từ đó lật đổ chế độ, cản trở sự phát triển của Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chủ trương, chính sách dân tộc, theo nguyên tắc đã được xác định trong Hiến pháp 2013 đó là: nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước (Điều 5).

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước ta còn thường xuyên có những chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo, định hướng đối với công tác dân tộc nhằm hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc đều bình đẳng, được tôn trọng như nhau, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tiêu biểu có thể kể đến Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi.

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Đảng ta đã ban hành nghị quyết riêng về công tác dân tộc (Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 12/3/2003). Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thống kê sơ bộ cho thấy từ năm 2010 đến 2022 Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật,...

Đáng chú ý, ngày 28/1/2022 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó tiếp tục nhấn mạnh quan điểm kiên trì và nhất quán thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào dân tộc trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu vì một Việt Nam thịnh vượng.

Từ những chủ trương, chính sách đúng đắn, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao của Đảng, Nhà nước, những chính sách dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 30/10/2019 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới ghi nhận: công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị.

Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét.

Sự nghiệp giáo dục-đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định.

Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Đảng ta khẳng định: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, tập trung vào nhóm, hộ nghèo nhất.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm hơn 1,4%/năm. Kết cấu hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Trong suốt các chặng đường phát triển của đất nước, Đảng ta luôn đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chú trọng chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Tuy vậy trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi vẫn còn một số hạn chế, bất cập, một vài chính sách dân tộc chưa thật sự phát huy hiệu quả, vẫn còn những mâu thuẫn, vướng mắc chưa được giải quyết dứt điểm. Từ đây đòi hỏi hệ thống chính quyền cơ sở, các cơ quan, ban, ngành liên quan tiếp tục nâng cao trách nhiệm, kịp thời khắc phục những yếu kém, khuyết điểm. Không phủ nhận những hạn chế, nhưng chúng ta cũng kiên quyết phản bác những luận điệu xuyên tạc thành tựu của Việt Nam đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc.

Sự phát triển của đất nước về mọi mặt, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện và nâng cao, niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được củng cố... là minh chứng thuyết phục về sự đúng đắn trong những chủ trương chính sách của Đảng ta về công tác dân tộc, tạo nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục vững bước tiến về phía trước./.
Yêu nước ST.

Cảnh tỉnh người lầm đường, nghiêm trị kẻ phá hoại sự bình yên các buôn làng

Sau năm 1975, không ít đối tượng tại địa phương và nơi khác tới Lâm Đồng sinh sống, có tư tưởng chống đối, thù địch đã móc nối với các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài ráo riết hoạt động, chống Đảng và Nhà nước quyết liệt dưới nhiều hình thức.

Đối diện với từng chồng hồ sơ dày cộm, Thiếu tá Bùi Cao Cường, Phó Đội trưởng Đội Chống phản động và Chống khủng bố, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng giới thiệu rạch ròi về từng đối tượng, từng vụ án xâm phạm tới an ninh quốc gia tại Lâm Đồng đã bị Công an đấu tranh bóc gỡ, xử lý hoặc làm suy yếu, tan rã trong thời gian qua. Theo Thiếu tá Bùi Cao Cường, Lâm Đồng có nhiều đối tượng là cơ sở nội địa của các tổ chức khủng bố, phản động có trụ sở ở nước ngoài. 

Thượng tá Lê Công Duy, Phó trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết, địa phương có nhiều đối tượng liên quan tới các tổ chức phản động, khủng bố, hoạt động rất tích cực. Tổ chức khủng bố này lôi kéo được nhiều người tham gia với 40 đối tượng là cơ sở nội địa, hiện đã bị Công an đấu tranh, bóc gỡ toàn bộ. Trong đó, 27/40 đối tượng có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lâm Đồng, số còn lại ở các địa phương khác nhưng có hoạt động trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. 

Nhờ kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa âm mưu tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, phản động, khủng bố; linh hoạt đấu tranh, cảm hóa, giáo dục, từ năm 2021 tới nay, tỉnh Lâm Đồng không phát sinh thêm thành viên của tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Hoạt động của tổ chức này trên địa bàn Lâm Đồng ngày càng suy yếu. 18/19 đối tượng có liên quan tới các tổ chức phản động, khủng bố ở nước ngoài đang sinh sống tại Lâm Đồng đã có thái độ chuyển biến tích cực, đối tượng còn lại “lưng chừng”. Tám đối tượng chuyển tới địa phương khác sinh sống cũng đã có thái độ chuyển biến tốt. 

Kết quả đấu tranh của Công an tỉnh Lâm Đồng với loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia đã góp phần cùng Công an cả nước bóc trần sự thật về các tổ chức phản động, khủng bố, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cảnh tỉnh những người còn u mê, tin và nghe theo sự xúi giục, kích động bịp bợm của những đối tượng cầm đầu các tổ chức trên./.

Sưu tầm

Tái diễn luận điệu xuyên tạc công tác xử lý cán bộ sai phạm

Trên tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện hết sức quyết liệt, nghiêm minh. Sức nóng của chiến dịch “đốt lò” đã lan tỏa mạnh mẽ, đi vào chính các cá nhân trong cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, lợi dụng việc xử lý cán bộ sai phạm, đặc biệt là cán bộ cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đối tượng xấu tung ra nhiều luận điệu tiêu cực, sai trái, đánh lạc hướng dư luận.

Vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã thực hiện tống đạt quyết định khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam, khám xét chỗ ở đối với bị can Nguyễn Văn Yên (nguyên Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương) để điều tra về tội “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” theo quy định tại Điều 337, Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các đối tượng xấu đã lợi dụng sự quan tâm, chú ý của dư luận để “bẻ lái”, “đánh võng” thông tin, tung ra nhiều luận điệu độc hại, sai trái. Một mặt, chúng rêu rao cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đã lâm vào tình trạng mất kiểm soát, ăn sâu vào bộ máy của Đảng, Nhà nước, không thể loại bỏ tận gốc nếu không thay đổi thể chế chính trị.

Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng càng được đẩy mạnh trên tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Một trong những phẩm chất quan trọng mà mỗi cán bộ, đảng viên phải có là: “Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Về trách nhiệm nêu gương, cán bộ càng cao càng phải gương mẫu.

Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, gắn liền với sự phân hóa quyền lực, được biểu hiện thông qua việc người có chức vụ, quyền hạn sử dụng quyền lực được giao để thực hiện hành vi vụ lợi, sai trái, xâm phạm đến lợi ích của tập thể. Không chỉ riêng Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối diện với nguy cơ tham nhũng xảy ra. 

Với vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập, dưới sự rèn luyện, giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, theo đúng tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực đều được đưa ra xử lý nghiêm minh, bảo đảm tính răn đe. Nhờ đó, từ một Đảng cách mạng non trẻ, trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta không ngừng phát triển, trưởng thành, luôn được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, giao quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội./.

Sưu tầm

Minh chứng phản bác các nhận định sai lệch trong “báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2024” của USCIRF

Việt Nam luôn nỗ lực và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Điều này không chỉ được thể hiện trong các quy định của Hiến pháp, pháp luật mà còn được minh chứng sống động trong thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trên nhiều khía cạnh. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, xem đây là vấn đề mang tính chiến lược, quan trọng trong tiến trình xây dựng, bảo vệ đất nước. Ngay từ buổi đầu thành lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương và đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" và điều này đã trở thành nguyên tắc trong chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta qua các thời kỳ lịch sử.

Để thể chế hóa các quan điểm, chủ trương Đảng, Nhà nước, hệ thống pháp luật của Việt Nam liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được phát triển, hoàn thiện. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) và các bản Hiến pháp sau này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trọng những quyền cơ bản của con người.

Năm 2023, Ban Tôn giáo Chính phủ tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; tạo điều kiện cho 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Việt Nam cũng đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo tổ chức đăng cai các sự kiện tôn giáo lớn như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak, Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo Châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Lễ hội "Xuân yêu thương" của các hội thánh Tin Lành Việt Nam.

Về chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay, nổi bật là quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Tháng 7/2023, hai bên đã thống nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek Zalewski làm đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024, Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Từ ngày 9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam và rất ấn tượng về những thành tựu phát triển kinh tế, đối ngoại của Việt Nam, tin tưởng vào mối quan hệ Việt Nam - Tòa thánh Vatican sẽ đạt được những thành tựu phát triển mới.

Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi người dân nhưng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã nêu rõ quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội hay tinh thần hoặc các quyền liên quan và quyền tự do của người khác.

Vậy nên, việc các cá nhân, tổ chức lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam để tuyên truyền, phát triển các tà đạo, tổ chức hoạt động trái pháp luật như "Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ", "Tân Thiên Địa", tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, "Giê Sùa", "Bà Cô Dợ", "Tin lành Đấng Christ" cần phải đấu tranh, ngăn chặn. Điều này cũng phù hợp thực tế chung của các nước nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, góp phần giữ gìn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Sưu tầm

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2024

Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Người, tự phê bình và phê bình giúp xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, gột rửa, lọc bỏ những sai lệch. Qua đó, tạo chất kết dính trong nội bộ, là phương thuốc hay nhất để chữa nhiều chứng bệnh, bồi bổ cơ thể của Đảng ngày thêm cường tráng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt của mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần bị mất đi. Mọi người học tập ưu điểm của nhau, sửa chữa những khuyết điểm, giúp nhau cùng tiến bộ. Nêu ưu điểm trước, vạch khuyết điểm sau và phải tiến hành đồng thời, không được coi nhẹ một mặt nào, “phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau”.

Hồ Chí Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Vì vậy, phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, mạnh dạn thừa nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, khắc phục. Bác đã dạy: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (2). Mỗi người cần phải có thái độ, phương pháp đúng, trên tình thương yêu giai cấp, tự phê bình mình cũng như phê bình người, phải triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt, đồng thời không dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc chứ không phê bình người, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, ba hoa, phải thực hành khẩu hiệu “chí công vô tư”. Người được phê bình phải cầu thị, nghiêm túc tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình, phải có ý chí quyết tâm khắc phục sai lầm, khuyết điểm.

Các cấp ủy thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trực thuộc trong sạch vững mạnh, trong đó có lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên tiến hành bồi dưỡng chi ủy, chi bộ các nội dung liên quan đến tự phê bình và phê bình. Nhất là việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nhờ vậy, tự phê bình và phê bình trở thành hoạt động thường xuyên góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.

Tuy nhiên, việc tiến hành tự phê bình ở nhiều cấp ủy, chi bộ vẫn còn những hạn chế, nhất là kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng tự phê bình và phê bình nhiều nơi còn mang tính hình thức; còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao... Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là ở cấp chi bộ đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các chi bộ phải nâng cao hơn nữa chất lượng tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những giải pháp sau:

Một là, nâng cao trách nhiệm bí thư chi bộ, mở rộng dân chủ, duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình.

Tự phê bình và phê bình là một quy định, nội dung quan trọng sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức Đảng nói chung và chi bộ nói riêng. Bí thư, phó bí thư chi bộ nhất thiết phải duy trì có hiệu quả hoạt động này. Song song với tự phê bình và phê bình xoay quanh thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, các chi bộ và từng đảng viên cần phải tự phê bình và phê bình gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nắm vững 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra. Người chủ trì sinh hoạt phải khéo léo gợi mở vấn đề, khuyến khích các đảng viên mạnh dạn thảo luận, trình bày ý kiến của bản thân, phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Các ý kiến phải được tôn trọng, tổng hợp, xem xét trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, dân chủ phải đặt trong tổ chức, có kỷ luật, kỷ cương. Tuyệt đối không được lợi dụng dân chủ trong sinh hoạt để đả kích, nói xấu nhau, hoặc dân chủ hình thức, mang tính chất xuôi chiều.

Hai là, tự phê bình và phê bình phải trung thực, thẳng thắn, khách quan gắn với xử lý kỷ luật nghiêm minh.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức, biện pháp xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Tự phê bình và phê bình phải gắn liền với xử lý nghiêm vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, né tránh, không có vùng cấm.

Bốn là, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình.

Công tác kiểm tra, giám sát thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, là nội dung quan trọng bảo đảm nghị quyết của Đảng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy chi bộ cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát cụ thể đối với từng chi bộ trong Đảng bộ mình. Nội dung cần gắn chặt kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trước tổ chức Đảng và quần chúng. Việc duy trì nền nếp chế độ, nguyên tắc, thủ tục, nội dung và thực hiện dân chủ trong tự phê bình và phê bình, nhận thức thái độ, động cơ trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình, tính đấu tranh để xây dựng chi bộ… Qua kiểm tra đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, kịp khắc phục những khâu yếu, mặt yếu và đề ra các giải pháp giúp cấp ủy, chi bộ và đảng viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của chi bộ.

Quán triệt và thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng ở cơ sở; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng, đem lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sưu tầm