PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM
Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025
PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM
KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỂ VIỆT NAM VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành các yếu tố quan trọng mang tính quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đóng góp thiết thực, toàn diện trên mọi lĩnh vực, như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, quốc phòng - an ninh... Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng, thời cơ tốt nhất để xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn xác định,
“cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động
lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân
tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”(15). Do đó, nhiều chủ trương, cơ
chế, chính sách được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan, nhiệm vụ phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số của nước ta chưa đạt được kết quả kỳ vọng, nhận thức về vị trí, vai trò
của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được nâng lên
nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu trở thành nền tảng, quốc sách, động lực cho
phát triển kinh tế - xã hội; tốc độ phát triển của nước ta còn chậm, còn khoảng
cách so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ,
đổi mới sáng tạo chưa có đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công
nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn
nhân lực chất lượng cao còn thiếu…
Năm 2024, ngành khoa học và công nghệ tiếp tục tập trung vào
công tác hoàn thiện môi trường thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo,
cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi
cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ tiếp
tục có đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống nhân dân; tiềm
lực khoa học và công nghệ quốc gia được tăng cường. Hệ sinh thái khởi
nghiệp sáng tạo Việt Nam tiếp tục phát triển năng động, tạo ra một thế hệ
doanh nghiệp mới kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ và đủ năng lực tiếp cận thị
trường toàn cầu.
Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học - công
nghệ trong sự phát triển của quốc gia, để có thể vươn mình, nước ta bắt buộc phải
tiến hành cuộc cách mạng, đổi mới tư duy, tháo gỡ điểm nghẽn, kiến tạo để thúc
đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên tinh thần đó,
ngày 22-12-2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết
số 57-NQ/TW, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia”.
Với 5 quan điểm, 5 nhóm mục tiêu cụ thể đến 2030 và 7 nhóm
giải pháp, Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện tầm nhìn, chiến lược phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thành động lực hiện
thực hoá khát vọng vươn mình của dân tộc: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động
lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản
xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn
chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ
nguyên mới”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện quyết tâm của Ban Chấp hành
Trung ương, của Bộ Chính trị và cả hệ thống chính trị. Việc thành lập Ban Chỉ đạo
Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số,
do đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Ban là sự cam
kết, sự quyết tâm lớn nhất, mạnh mẽ nhất. Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác
định “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và
nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với
những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”(18). Mặt khác, thống nhất tinh thần
chuyển đổi tư duy từ quản lý khoa học và công nghệ sang quản trị khoa học và
công nghệ. Quan điểm này đã giải quyết rất nhiều hạn chế lâu nay trong việc
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó,
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã góp phần giải quyết những vấn đề then chốt, yêu cầu cấp
bách của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ,
doanh nghiệp và nhân dân.
Trong bối cảnh mới, nước ta cần vận dụng sáng tạo, cho phép
thí điểm đối với vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Bởi, thực tiễn luôn biến đổi
không ngừng, luôn đặt ra vấn đề mới. Đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ góp
phần giải quyết vấn đề mới đó, và đôi khi, dẫn dắt vấn đề mới phát sinh.
ChatGPT, Gemini,... là các ví dụ điển hình của khoa học - công nghệ dẫn đắt vấn
đề mới phát sinh của thực tiễn.
Trên thực tế, quản lý nhà nước luôn mang tính kế thừa và chịu
sự tác động của các yếu tố xã hội, như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập
quán, thói quen…, theo đó, thường không theo kịp vấn đề thực tiễn mới đặt ra.
Do đó, cần vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm để giải quyết vấn đề mới phát
sinh sẽ giúp tăng cường quản trị đất nước, nhưng quan trọng hơn đó là sẽ tạo nền
tảng, hành lang pháp lý để khuyến khích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh
đó, nước ta cần có cơ chế đầu tư kinh phí phù hợp, chấp nhận “độ trễ” trong
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nhà nước giữ vai
trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất, nhân dân và doanh nghiệp
là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính. Thực tiễn trên thế giới
cho thấy, sáng tạo, đột phá thường đến từ xã hội và chỉ một phần đến từ đầu tư
của nhà nước. Nhà nước chỉ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, để nghiên cứu
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của kết
quả nghiên cứu đó. Việc khơi thông nguồn lực xã hội trong phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo thành phong trào
trong toàn xã hội sẽ là yếu tố quyết định thành công cho cuộc cách mạng này.
Với những kết quả đạt được sau gần 40 năm tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước, với khát vọng sánh vai với các cường quốc năm châu, Việt Nam
chúng ta đang trên đường băng của kỷ nguyên vươn mình. Để thực sự cất cánh, nước
ta phải thực hiện thành công cuộc cách mạng phát triển khoa học - công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động
quyết liệt của toàn Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo mạnh mẽ của đồng chí Tổng Bí thư
Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số - trong thời gian tới, khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sẽ có bước tiến mạnh mẽ, phát triển nhảy vọt,
trở thành động lực chính để đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
TĂNG CƯỜNG Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ SỰ THẬT TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGHỊ ĐỊNH 168
Nghị định 168 được ban hành với mục tiêu nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người dân, góp phần xây dựng một xã hội an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn cho người dân và xây dựng trật tự xã hội. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số tổ chức và cá nhân trên mạng xã hội đã cố tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch về Nghị định 168. Những hành động này không chỉ làm sai lệch bản chất của chính sách mà còn gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến sự đoàn kết và niềm tin của nhân dân vào chính quyền.
Chúng ta cần tiếp tục:
1. *Tăng cường tuyên truyền chính sách*: Các cơ quan chức
năng, báo chí và truyền thông cần phối hợp chặt chẽ để giải thích rõ ràng, chi
tiết những điểm quan trọng của Nghị định 168, giúp người dân hiểu đúng và thực
hiện nghiêm túc.
2. *Xử lý nghiêm các hành vi xuyên tạc*: Những đối tượng cố
tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch cần bị xử lý theo pháp luật
để răn đe và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.
3. *Nâng cao ý thức cộng đồng*: Mỗi người dân cần tỉnh táo
trước thông tin trên mạng xã hội, không chia sẻ hoặc lan truyền những nội dung
chưa được kiểm chứng, góp phần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh. Đảng
và Nhà nước luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Vì vậy, việc bảo vệ sự
thật, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc chính là trách nhiệm chung của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hãy cùng nhau hành động vì một Việt Nam phát
triển, an toàn và văn minh.
SỨC MẠNH TRƯỜNG TỒN CỦA ĐẢNG LÀ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN
Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là niềm tin khoa học, được thực tiễn thử thách, rèn đúc mà nên. Đảng ta xác định niềm tin của nhân dân đối với Đảng là tài sản vô giá, là nhân tố làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Điểm tựa của niềm tin
Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, khi nào
“vua sáng, tôi hiền”, trên dưới “hòa mục”; vua quan tâm đến dân, lấy dân làm gốc,
thực thi chính sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”… thì khi ấy
vương triều được dân tin, nước nhà vững mạnh. Khi lòng dân đã tin theo thì “xã
tắc yên như núi Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”. Trái lại, khi nào triều
chính nhiễu nhương, gian thần lộng hành, ăn chơi sa đọa, tham lam vơ vét, coi
thường dân chúng... Nghĩa là khi “chính sự phiền hà”, “để trong nước lòng dân
oán hận” thì khi đó vương triều đã không được lòng dân, đánh mất niềm tin nơi
dân và tất yếu vận nước lâm nguy.
Ví như, dù nhà Hồ có thành cao, hào sâu, quân đông đến trăm
vạn mà “lòng dân không theo”, nên không chỉ đại bại trước quân Minh xâm lược,
mà cơ nghiệp cũng mất, xã tắc cũng chẳng còn như lời của Tả tướng Hồ Nguyên Trừng
đã chỉ ra. Thấm thía bài học thất bại của nhà Hồ, Nguyễn Trãi không chỉ lấy đó
làm răn cho sự nghiệp gây dựng, mở mang nhà Hậu Lê, mà còn đúc kết thành bài học
sâu sắc: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”.
Khắc ghi những lời dặn của cha ông và thấm nhuần quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lấy mục tiêu vì dân, vì
nước mà chiến đấu hy sinh. Do vậy, Đảng đã khẳng định được uy tín, niềm tin
trong nhân dân, xứng đáng với truyền thống con cháu Rồng - Tiên; đã trở thành lực
lượng lãnh đạo cách mạng và được nhân dân thừa nhận.
95 năm sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân
lý, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền không phải tự nhiên mà có, không phải tự
nhận mà được, càng không phải được do tranh cử như các đảng cầm quyền ở nhiều
nước mà nên. Sự cầm quyền, lãnh đạo của Đảng ta là do có đường lối chính trị
đúng đắn, bản lĩnh chính trị kiên cường; là kết quả của cả quá trình Đảng và mỗi
cán bộ, đảng viên đã nêu gương chiến đấu hy sinh, nếm mật nằm gai để chứng tỏ
được uy tín, niềm tin của mình đối với nhân dân và được nhân dân thừa nhận.
Thực tiễn những thành quả mà Đảng đem lại, được người dân thấu
hiểu chỉ có Đảng lãnh đạo, đất nước ta mới giành được độc lập dân tộc, dân ta mới
thật sự được tự do, mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Gần 40 năm đổi mới, dưới
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đã tạo nên dấu ấn, một niềm tin mãnh liệt
trong nhân dân. Đó là niềm tin khoa học và cách mạng của nhân dân vào sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đạt được những thành tựu
rực rỡ, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của
dân tộc.
Không mơ hồ, khoan nhượng với “thứ giặc” làm suy giảm niềm
tin của nhân dân với Đảng
Một bài học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, đó là:
“Càng gần thắng lợi thì càng gặp nhiều khó khăn”. Soi chiếu bài học đó vào công
cuộc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới hiện nay cũng vậy. Khi đất nước càng đạt được
những kỳ tích trong sự nghiệp đổi mới, Việt Nam phát triển và lớn mạnh không ngừng,
được cả thế giới ngưỡng mộ… thì cả giặc “nội xâm” và “ngoại xâm” dưới những biểu
hiện mới lại xuất hiện với tính chất gay go, phức tạp và nguy hiểm hơn. Nếu bản
lĩnh không vững vàng, nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến mất niềm tin và bị kẻ
địch lợi dụng thì sự nghiệp cách mạng của Đảng, thành quả của nhân dân, cơ đồ của
đất nước và chế độ sẽ trở nên nguy cấp.
Đó là tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực lại nảy sinh từ một
bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống.
Họ không giữ mình được trong sạch trước những “viên đạn bọc đường”, nên đã sa
vào chủ nghĩa cá nhân. Hệ quả đề cao lợi ích cá nhân nên đã không chỉ gây nên
những thiệt hại kinh tế, xã hội, mà còn là nguyên nhân của sự giảm sút niềm tin
của nhân dân đối với Đảng.
Điều lo lắng hơn hết là những thông tin, vụ việc nổi cộm khó
tránh khỏi những bàn tán, dư luận nhiều chiều, gây tác động không nhỏ đến tư tưởng,
tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là
đối với công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Và nguy hại hơn là
những vụ việc này luôn bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị “chộp lấy”,
“té nước theo mưa” để thổi phồng, xuyên tạc, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, hòng
mục đích gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây thực
sự là những cơn “sóng dữ”, liên tiếp tác động vào niềm tin của nhân dân.
Nếu mỗi người dân thiếu tỉnh táo, không nhận rõ các “thứ giặc”
cố tình chia rẽ Đảng với nhân dân, không “vững tay chèo” vượt qua “thác ghềnh”
thì niềm tin sẽ bị giảm sút, nguy hiểm hơn là “mất niềm tin”. Nếu vậy, thì những
mục tiêu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là
cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng triệt để chống phá, mà bài học xương máu
về sự thiếu tỉnh táo, bình tĩnh trong xử lý của nhân dân đã gây nên sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị với mỗi
người dân và cả dân tộc ta hiện nay.
Quyết tâm giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn
biến phức tạp, khó dự báo; trong nước, bên cạnh những thành tựu đạt được của
công cuộc đổi mới, Đảng, nhân dân ta đang đứng trước nguy cơ lớn là tình trạng
quan liêu, xa rời nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, tham
nhũng, tiêu cực gây bất bình trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với
Đảng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này tìm đủ mọi chiêu trò phá hoại,
công kích hòng gây chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng.
Giải pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với
công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng là
phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch,
vững mạnh; Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, đại biểu trung thành cho lợi ích của
toàn thể dân tộc.
Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chỉnh huấn
Đảng là nhiệm vụ then chốt, trọng yếu thường xuyên qua từng thời kỳ cách mạng với
những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau. Đảng ta nhận thức rất
rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, thật sự tin tưởng, tôn trọng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp,
ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.
Sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với các cơ quan Trung
ương tinh, gọn, mạnh, hiệu quả với phương châm “Trung ương làm gương - Địa
phương hưởng ứng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu,
nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy vai
trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân,
hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên
là một tấm gương nói đi đôi với làm, thân dân và trọng dân. Người cán bộ, đảng
viên thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Gần dân là
để học dân, nghe dân nói, đó là phương châm của người cán bộ, đảng viên. Gần
dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh, lắng nghe tâm tư, ý
kiến của dân. Từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết, đồng thuận để mọi người dân
chung sức, đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
với kết quả cao nhất…
Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế đó phải quy định trách nhiệm cụ thể của
tổ chức Đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì,
chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ
chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng
và của địa phương, thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra và dân thụ hưởng”. Mỗi người dân là một chiến sĩ, xung kích, đấu tranh
với các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch là cách thể hiện niềm tin của
mình với Đảng, với tương lai của mình và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
Vấn đề quan trọng là, phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu
rõ tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh nguy hiểm, là “giặc nội xâm”, gây bất bình,
mất niềm tin trong nhân dân, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do
đó, cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết
tâm chính trị cao nhất, mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để và hiệu quả hơn nữa. Kết
hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh
các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ,
đảng viên phải nêu cao tinh thần cảnh giác hơn nữa, tích cực đấu tranh làm thất
bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực, bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng; chủ động đấu tranh phòng ngừa, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”...
Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những lúc vận mệnh dân tộc
“ngàn cân treo sợi tóc”, cảnh đất nước bị chia cắt, kẻ thù hung bạo bủa vây bốn
phía hay trong lúc sự nghiệp đổi mới vừa mới đơm hoa, kết trái thì chủ nghĩa xã
hội ở các nước trên thế giới và ở nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng… mà dân ta vẫn
một lòng sắt son với Đảng, đồng lòng hướng theo ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do” và chủ nghĩa xã hội. Vậy nên, khi cơ đồ, thế và lực của nước ta
ngày nay đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần thì tất yếu niềm tin vào Đảng không thể
bị chuyển lay.
“TẾT QUANG TRUNG" Ở TRƯỜNG SƠN
Gần như đã thành nếp, cánh lái xe Trường Sơn chúng tôi thường được đơn vị tổ chức cho ăn Tết sớm, nhanh gọn nhất có thể trước khi bước vào đợt tổng công kích mỗi mùa khô. Chính vì thế, chúng tôi vẫn tự hào nói với nhau rằng năm nào cũng được ăn "Tết Quang Trung" như thuở người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ tiến đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi
Tôi có hơn mười năm gắn bó trên tuyến chi viện chiến lược
Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với
bao kỷ niệm vui buồn, sinh tử. Nhớ nhất là lần được đón Tết sớm để chuẩn bị bước
vào mùa vận chuyển cao điểm phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu
Thân 1968 tại Tiểu đoàn 52, Binh trạm 32, Bộ tư lệnh 559.
Năm ấy, kết thúc tổng công kích đợt 1 vào ngày 28-12-1967,
Binh trạm 32 chúng tôi dẫn đầu toàn tuyến, vận chuyển được trên một vạn tấn
hàng vượt Đường 9 an toàn trong thời gian một tháng. Bộ tư lệnh đã tặng đơn vị
danh hiệu "Binh trạm vạn tấn". Những điển hình mà đại đội, tiểu đoàn
chọn xây dựng như: Kim Ngọc Quản, Nguyễn Xuân Lục, Hoàng Văn Bản của Tiểu đoàn
52 chúng tôi, Lê Quang Biện của Tiểu đoàn 102, Hà Văn Tơ của Tiểu đoàn 51, qua
tổng công kích đợt đầu đều được tặng danh hiệu "Dũng sĩ lái xe vạn tấn"
và Huân chương Chiến công. Riêng những tay lái của Tiểu đoàn 52 còn được Tư lệnh
Đồng Sỹ Nguyên gọi với cái tên trìu mến "Đại bàng Trường Sơn".
Tôi nhớ, đêm 29-1-1968, Binh trạm phát động tổng công kích đợt
2. Sau này, chúng tôi mới biết, trên tổ chức tổng công kích liên tục nhằm phục
vụ kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam
vào Tết Mậu Thân 1968. Nhưng khi đó, chúng tôi chỉ được quán triệt chủ trương của
Bộ tư lệnh 559 là vừa đón Tết vừa ra quân thần tốc, quyết thắng lập thành tích
mừng Xuân, mừng Đảng.
Lại thêm một cái Tết cổ truyền nữa chúng tôi ở lại với Trường
Sơn bên vô lăng tay lái. Nhưng cái Tết này quả là đặc biệt. Tất cả bị cuốn vào
không khí hối thúc khẩn trương và rạo rực vô cùng, như quên cả chuỗi dài ký ức
và nỗi nhớ dung quê nhà, gia đình ở hậu phương.
Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, có rất nhiều anh em vẫn rong ruổi
cùng chiếc xe yêu quý trên những cung đường ra phía trước. Chúng tôi đón Tết
đúng nghĩa "thần tốc" để kịp vận chuyển khối lượng lớn vật chất hậu cần
và cả lực lượng chi viện cho các hướng chiến trường miền Nam.
Tất nhiên trước đó, để chuẩn bị cho việc đón Tết, trong thời
gian củng cố sau tổng công kích đợt 1, Tiểu đoàn đã cho người về Quảng Bình, thậm
chí cho xe ra Hà Nội mua sắm hàng Tết, từ thịt lợn, gạo nếp, lá dong, su hào, bắp
cải, kẹo bánh, chè, thuốc lá... Sau đó, hậu cần tổ chức giết lợn, gói bánh, sắm
cỗ "tất niên" khá chu đáo, rôm rả. Gần như thành nếp, lái xe Trường
Sơn, thường được tổ chức ăn "Tết Quang Trung", tết "thần tốc".
Do điều kiện chiến tranh, bữa cỗ tất niên diễn ra rất nhanh, không có đủ những
món cổ truyền, nhưng vẫn có bánh chưng, giò, bắp cải, cà chua, kẹo, trà, thuốc
lá… Thế cũng là đậm đà hương vị Tết rồi!
Chính Tết, chúng tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ như bình thường,
các đơn vị phân công lực lượng hoạt động mạnh hơn ngày thường. Bởi lúc này, đối
phương cho rằng ta sẽ dành thời gian đón Tết cổ truyền theo phong tục nên lơi lỏng
việc theo dõi, tiến công. Vì tiền tuyến, vì ngày chiến thắng, chúng tôi không từ
nan. Được sự quan tâm của trên, anh em lái xe chạy đêm giao thừa còn được cấp
hai điểu thuốc lá, hai viên kẹo chống ngủ nên ai nấy rất phấn khởi.
Đêm giao thừa năm đó, trước hàng quân và 39 xe của đại đội
tôi, hàng hóa bốc xếp cẩn thận, đội hình nghiêm ngắn hùng dũng, khí thế bừng bừng.
Thay mặt Ban chỉ huy đại đội, Chính trị viên Trần Quốc Vịnh phát biểu động viên
anh em ra quân giành chiến thắng, thực hiện thắng lợi chỉ tiêu tổng công kích đợt
2 mà Bộ tư lệnh phát động. Tôi nhìn sang cánh rừng bên cạnh, đội hình xe Đại đội
5 cũng trong tư thể sẵn sàng chờ lệnh. Chứng kiến không khí ra quân của các đại
dội, Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Tiến Du và Trợ lý chính trị Nguyễn Văn Thủy-người
Sơn Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), bạn đồng ngũ với tôi không nén nổi xúc động.
Anh Du quả quyết, nếu cứ đà này, Binh trạm 32 chúng tôi không chỉ dừng ở vạn tấn
mà còn có thể hơn thế nữa. "Chúng em cũng tin như vậy", tôi và các
chiến sĩ cùng trả lời. Nói rồi mấy anh em ôm chặt nhau, bắt tay thật chặt thể
hiện quyết tâm.
Với tác phong gọn gàng, nhanh nhẹn, anh Phạm Thành Vinh, anh
Trần Quốc Vịnh nhảy lên xe trước. Cả đoàn xe nổ máy, rùng rùng chuyển động.
Chuyến này, tôi và anh Liệu - Chính trị viên phó đại đội được phân công ở nhà tổ
chức đón giao thừa cho số anh em trong đại đội còn lại và chuẩn bị sẵn sàng cứu
kéo phòng khi lực lượng vận chuyển gặp sự cố.
Xong xuôi mọi việc, tôi cho tập trung anh em ở nhà tại hầm
chỉ huy đại đội để đón giao thừa. Hầm có cấu trúc hình vuông ở giữa, hai đầu có
hai hầm chữ A khá kiên cố, có thể hạn chế được sát thương nếu trúng rốc-két của
địch.
Giao thừa đến, cả hầm lắng lại, nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết:
"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!"
Lời của Bác là lời đất nước, vượt muôn trùng đêm tối đến với
chúng tôi giữa đại ngàn Trường Sơn. Tiếng thơ cũng là nỗi lòng của Bác, tình
thương của Bác sưởi ấm trái tim chiến sĩ, động viên cổ vũ chúng tôi quyết giành
thắng lợi, để thỏa lòng mong mỏi của Người.
Cũng thời khắc này, qua làn sóng của Đài tiếng nói Việt Nam,
chúng tôi mới biết, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị chuyển cách mạng miền
Nam sang giai đoạn mới, giai đoạn giành thắng lợi quyết định. Quân và dân ta đã
tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam, đồng loạt tiến công vào
Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn Miền. Trong thời
khắc này, từ sâu thẳm lòng mình, tôi cảm thấy xúc động tự hào: Bằng tổng công
kích đợt 1 giành thắng lợi và bằng những "chiến mã Trường Sơn" mang nặng
hàng đang vượt suối, băng đèo, băng băng tiến ra phía trước, chúng tôi góp một
phần nhỏ bé của mình cho sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam. Giữa rừng Trường
Sơn hùng vĩ, trong những ngày Tết truyền thống, với niềm tin tưởng sâu sắc
chúng tôi tổ chức cho bộ đội liên hoan văn nghệ và chờ tin thắng lợi của đơn vị!
ĐẢNG ĐÃ CHO TA NHỮNG MÙA XUÂN ĐẦY ƯỚC VỌNG
Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất
nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu
nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi
nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng
Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp
lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài
năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt
Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập.
Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng
cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2-9-1945, khi Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ
là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.
Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt
qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là
một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường.
Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc
liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của
tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm
1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước
phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức
trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra
quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất
nước.
Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc
cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới,
Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền
kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ
nét cho sự thành công của đường lối này.
Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được
những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng
đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt
nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một
tương lai tốt đẹp hơn.
Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó
là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng
đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go
mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến
động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ
việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng,
Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt
được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng
đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.
Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là
mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh
vai với các cường quốc năm châu.
Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa
Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng
để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc
Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng
không ít thách thức.
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những
chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học -
công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không
để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững”... chính là lời cam kết mạnh
mẽ của Đảng đối với nhân dân.
Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai
trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho
chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy
thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời.
Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc
lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu
ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về
những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước
còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa
Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục
đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ
phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một
quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững./.


