Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM

 PHÁT TRIỂN KỶ NGUYÊN MỚI, VÌ SỨC MẠNH VÀ DANH DỰ VIỆT NAM

Tròn 95 năm trước, ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là cuộc hội ngộ của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, của lịch sử giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước sục sôi truyền thống mấy nghìn năm. Đó là khát vọng của Nhân dân, là lời đáp câu hỏi phát triển của lịch sử dân tộc, là sự vận động của đất nước phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại.
Dưới ngọn cờ của Đảng, 95 năm qua, trên nền móng giang san xã tắc mấy nghìn năm, dân tộc ta tự tin vững bước trên con đường XHCN. Đặc biệt, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm Đổi mới, đất nước ta giữ vị thế mới, sức mạnh mới và uy tín mới. “Thành công của Việt Nam cũng là thành công của toàn thế giới. Mô hình của Việt Nam đã đạt đến những thành tựu của chủ nghĩa xã hội”.
Nhưng, trong thời đại, trước yêu cầu phát triển mới, đất nước không thể không bứt phá và phát triển mạnh mẽ, nếu không muốn tụt hậu. Đó là danh dự Việt Nam.
Sau gần 40 năm Đổi mới, lúc này, nếu tụt hậu xa hơn là sự hổ thẹn Quốc thể. Năm 2025, thế giới bước vào thời kỳ phát triển mới - toàn cầu hóa với xung lực của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư, với tốc độ mới, đang làm đảo lộn trật tự phát triển và sắp xếp lại thế giới.
Từ vị thế năm 2025, với thành quả của 40 năm Đổi mới, Việt Nam trở thành nước đang phát triển với vị thế mới: Quy mô GDP tăng khoảng 50 lần, trong top 5 nước có quy mô kinh tế tăng cao nhất thế giới ([2]). Năm 2024, CEBR dự báo, Việt Nam có thể sẽ vươn lên vị trí thứ 24 vào năm 2033, với quy mô kinh tế đạt 1.050 tỷ USD. Với ưu thế dân số đông và trẻ, Việt Nam có cơ hội vượt qua hầu hết các nước trong ASEAN về kinh tế và trở thành quốc gia có thu nhập cao năm 2045.
Nhưng, như thế là chưa xứng đáng với vị thế, tiềm năng và sức mạnh của 100 triệu đồng bào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế vẫn đang hiện hữu trong khi kỷ nguyên thông tin, kỷ nguyên số, kỷ nguyên xanh toàn cầu là sức ép mới đang thách thức Việt Nam phát triển cả về quy mô và chất lượng trong 20 năm tới.
Thách thức bao trùm tới năm 2030, phải giữ vững tốc độ tăng trưởng bền vững từ 7 - 7,5%/năm, vươn tới 2 con số. Đồng thời, hóa giải nguy cơ giữa tụt hậu, phát triển chậm chạp, rơi vào bẫy thu nhập trung bình với thể chế lạc hậu, kìm trói năng lực và tiềm năng quốc gia; giữa yêu cầu trong sạch hóa bộ máy và cán bộ với yêu cầu cao của sự phát triển…; giữa yêu cầu phát triển bền vững với cạm bẫy thu nhập trung bình; giữa phát triển kinh tế - xã hội bền vững với vấn nạn ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề; giữa thách thức, đe dọa chủ quyền, quyền chủ quyền với khả năng giữ vững và phát triển các cục diện thế giới có lợi cho đất nước…
Trong bối cảnh mới của thời đại, trước sứ mệnh mới, càng đòi hỏi Đảng ta không ngừng mở tầm nhìn chiến lược mới, với mục tiêu mới, bằng sự chuẩn bị toàn vẹn thực lực mới và hành động với phương lược mới, với gia tốc phát triển mới 20 năm, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao trong tầm nhìn năm 2045.
Dân tộc hành động bằng danh dự thiêng liêng
và trách nhiệm vĩ đại kỷ nguyên mới
Lịch sử đang thách thức và hối thúc Việt Nam trỗi dậy. Hoặc thúc thủ và tụt hậu hoặc hành động để tiến lên. Chúng ta không thể không chuẩn bị tầm nhìn và thực lực, tư tưởng và tâm lý, năm 2026 tiến vào kỷ nguyên mới.
Thay mặt Trung ương Đảng và đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Tìm con đường ngắn nhất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.
Không có lựa chọn nào khác!
Trên nền tảng căn bản năm 2024, với tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 7%, năm Ất Tỵ 2025 - trước thềm Đại hội XIV của Đảng - mức tăng trưởng GDP phải đạt mức tối thiểu 7 - 7,5%. Đây là năm của số thành - ngưỡng cửa để dân tộc vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.
Đây là thời kỳ mới của công cuộc Đổi mới toàn diện, đồng bộ thách thức mọi giới hạn phát triển bằng tầm viễn kiến chiến lược mới, với nghệ thuật xử lý thời cơ; bằng cải cách hệ thống bộ máy và vận hành bằng cơ chế phù hợp, trung tâm là kiểm soát và cân bằng quyền lực thông qua hệ thể chế đồng bộ, phù hợp và hiệu quả ở tất cả các phương diện (chính trị, kinh tế, xã hội…), đối với mọi tổ chức của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể), ở mọi quy mô, cấp độ và mỗi con người; bằng phương thức mới tập hợp lực lượng đông đảo; bằng động lực phát triển mới với hệ chính sách thực thi tổng thể, phù hợp, thống nhất, đồng bộ và đủ mạnh… nhằm tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc và toàn diện với quy mô và chất lượng mới, trong sự phát triển của thế giới, tầm nhìn năm 2045.
Diễn đạt một cách hình ảnh, kỷ nguyên mới là kỷ nguyên thách thức và hóa giải mọi giới hạn phát triển, bằng nắm lấy thời cơ, xuất phát từ chính mình, với bản lĩnh tự tôn, tự trọng, tự cường và hành động quyết liệt, không thể rụt rè, do dự hay chờ đợi, cầu toàn, vì sự hùng cường và danh dự đất nước. Nó đòi hỏi về nghệ thuật xử lý thời và thế, mở tầm viễn kiến chiến lược, hoạch định quyết sách chính trị đúng đắn, tập hợp lực lượng đông đảo, tìm tòi hệ giải pháp thực thi phù hợp, đồng bộ và đủ mạnh, tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc của đất nước trong sự phát triển của thế giới.
Lịch sử và thời gian không chờ đợi. Hoặc là bây giờ hoặc khó có thể bao giờ.
Kiên định và hiện thực hóa độc lập, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới tên gọi tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn gốc và bài học lịch sử vô giá của Đảng ta. Đó cũng là lẽ sống còn, là khởi nguồn quyết tâm chính trị không gì lay chuyển của Đảng ta; là nhân tố căn bản của bản lĩnh Việt Nam, của triết lý phát triển bền vững và nhân văn của dân tộc ta, trong thời đại ngày nay. Trung thành, phát triển độc lập, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải bằng sức mạnh hiện thực hóa đường lối chính trị, bằng pháp chế, hệ thể chế khơi dậy và giải phóng mọi tiềm năng, tiềm lực. Đó là thước đo sức sống và sự thuyết phục của chủ nghĩa Mác - Lênin, ở Việt Nam, dưới tên gọi Hồ Chí Minh nhằm hóa giải những thách thức phát triển. Đó là con đường phát triển và tự bảo vệ nền tảng tư tưởng và lý luận đổi mới; là con đường tất yếu của công cuộc đổi mới và danh dự dân tộc. Đó chính là linh hồn triết lý phát triển Việt Nam thời đại mới.
Vì thế, hơn bao giờ hết, cần hai chữ: Bất biến! Hơn bao giờ hết, lúc này, thời cơ chính là lực lượng. Và, thời gian phát triển rút ngắn là lực lượng.
Đất nước không trỗi dậy không thể trở thành một cường quốc kinh tế. Phải lấy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy tốt nội lực, thâu thái mọi nguồn ngoại lực phát triển lực lượng sản xuất với công nghệ hiện đại: kinh tế số chiếm 30% GDP cùng kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn… không chỉ về quy mô, tốc độ mà cả về chiều sâu với quan hệ sản xuất mở đường phù hợp, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản trị và vận hành nền kinh tế - xã hội với hệ thể chế giải phóng có thể và hiệu quả làm “cửa mở” tăng tốc. Đồng thời, đổi mới, phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm công bằng, công minh, với trung tâm là phát triển con người.
Phải xây dựng triết lý của sự phát triển bền vững, nhân văn bằng hệ thống thể chế hiện thực với cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất, phù hợp trên tất cả các phương diện và thật sự phải là cương lĩnh hành động. Phải chọn phát triển ngắn hạn và rút ngắn đúng đắn, phù hợp, bằng cách đi thẳng vào khoa học công nghệ hiện đại để đột phá phát triển lực lượng sản xuất và lường trước nguy cơ trở thành nạn nhân của chính nó.
Mọi sự phát triển quốc gia phải xoay chung quanh con người, chứ không phải ngược lại; đề phòng và hóa giải những nguy cơ phản phát triển. Cấp bách cải cách, sửa sang toàn diện nền giáo dục và đổi mới triết lý giáo dục và đào tạo mang tầm chiến lược. Chủ động, tích cực hội nhập và cân bằng các mối bang giao quốc tế là động lực quan trọng, tăng cường sức mạnh phát triển quốc gia.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần vun đắp một chữ: Tầm!
Thời gian là lực lượng. Và, thời cơ là siêu lực lượng. Dân tộc không thể vươn mình khi thiếu hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại mang tầm chỉnh thể… phát huy lợi thế vị thế địa - tự nhiên và địa - kinh tế, với hệ huyết mạch căn bản phát triển quốc gia. Không vượt khỏi những “đầm lầy thể chế”, không có “đường băng” hạ tầng chiến lược không thể có bất cứ cuộc vươn mình nào như mong đợi.
Tổ quốc không thể trỗi dậy nếu không đột phá đổi mới ngang tầm về thể chế giải phóng tối đa mọi năng lực, nguồn lực phát triển cân bằng với tốc độ cao, bảo đảm phát triển kinh tế song hành với đổi mới chính trị hài hòa với phát triển nền văn hóa với hệ giá trị con người. Và, càng không thể nắm lấy pháp quyền khi hệ thống thể chế giải phóng với rường cột là luật pháp khập khiễng đặt trong tay những hệ thống bộ máy khấp khểnh, nặng nề, lại bị khuynh loát bởi các tệ nạn tham nhũng, lợi ích nhóm, cục bộ... trước các “cạm bẫy thu nhập trung bình”, “bẫy nghèo mới”…
Đất nước không thể cất cánh khi phải gồng gánh một hệ thống bộ máy vừa song trùng nặng nề, vừa nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối “đuôi nặng hơn đầu”, tiêu tốn hơn 70% GDP, lại ủ chứa nhiều chứng bệnh “chết người”.
Vì thế, không thể không tinh giản theo 2 cấp độ: cơ cấu lại hệ thống tổng thể nhằm giảm đầu mối và quy mô song hành cơ cấu lại bên trong mỗi nhân tố của hệ thống để giảm sự “vừa thừa vừa tác họa”; đồng thời, dọn sạch những “lô cốt” quan liêu, tham nhũng, lãng phí đủ loại. Nếu không soát xét tổng thể và cấu trúc lại các bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng không song trùng, không trung gian, không cơ học thuần túy; đồng thời, cấu trúc lại từ bên trong mỗi bộ máy với chức năng, nhiệm vụ mới theo hướng hội tụ đa ngành, đa chức năng, cá thể hóa trách nhiệm; tinh gọn, tinh nhuệ, liên thông và hiện đại trong mỗi bộ máy, thì nhất định không có sự tinh giản nào và càng không có bộ máy nào phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.
Trong tổng thể, đến lượt mình, mỗi thành viên, theo chức năng, nhiệm vụ, tái cấu trúc đội ngũ theo hướng tinh gọn hóa, trí thức hóa, trách nhiệm hóa và đo lường hiệu quả quản trị của từng bộ máy. Đột phá mạnh mẽ chiến lược phát triển nhân tài: chính trị gia, chiến lược gia, kỹ trị gia và doanh gia xứng đáng; trong sạch hóa, văn hóa hóa đội ngũ bằng hoàn thiện nền pháp chế, cá thể hóa trách nhiệm và thể chế kiểm soát quyền lực; bằng bảo đảm quản trị quốc gia với phát triển đạo đức và văn hóa; bằng đo lường hiệu quả công vụ, thông qua khảo khóa định kỳ và bất thường; bằng tuyển trạch qua mọi con đường, trước hết bằng thi tuyển, tiến tuyển, cổ vũ vượt cấp; bằng cải cách chế độ đối đãi xứng đáng và kỷ luật nghiêm khắc… Luật hóa và thực thi cơ chế tuyển chọn và sử dụng nhân tài.
Do đó, Nhà nước nắm lấy quản trị bởi pháp luật và đạo đức mang tầm kiến tạo và phát triển thay vì chỉ bằng mệnh lệnh và can thiệp chủ quan (lại chưa hoàn thiện); chuyển từ quản lý hành chính, khuôn theo lãnh thổ sang phân cấp, phân quyền, trách nhiệm và phụng sự với đột phá cải cách toàn diện thể chế nền hành chính quốc gia. Quốc hội không thể mạnh mẽ nếu không chuyển từ kiêm nhiệm sang chuyên nghiệp hóa; chuyển từ báo cáo sang giải trình minh bạch; chuyển từ diễn giải sang chất vấn, đối thoại, tranh luận, phản biện; chuyển từ trách nhiệm tập thể chung chung, khó định lượng sang cá thể hóa trách nhiệm cơ quan trình và “tuổi thọ” của luật… ngăn chặn sự cát cứ hoặc khoanh vùng pháp luật, phá vỡ tính chỉnh thể, quyền uy của luật pháp. Chính phủ chuyển từ tư duy quản trị sang tư duy phục vụ Nhân dân với hiện thực hóa pháp luật, ban hành chính sách phải nhằm phát triển thể chế, ngăn chặn nạn lạm dụng quyền lực công, phá vỡ tính thống nhất của pháp luật.
Không vì sự phát triển đất nước, không vì Nhân dân, mọi bộ máy sẽ trở nên cục bộ, bản vị, thoái bộ, tự hủ bại và nguy cơ cản trở, thậm chí làm suy tàn đất nước. Không cuộc cách mạng hay cải cách nào không khó khăn, thậm chí cả hy sinh.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần quyền biến một chữ: Dũng!
Trong thế giới biến động khôn lường, trước trọng sự và thách thức mới mẻ, nếu không ổn định không thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế; không yên dân không thể phát triển xã hội vững bền; không đột phá phát triển khoa học công nghệ càng không thể đổi mới lực lượng sản xuất để tăng tốc phát triển.
Song hành với phát triển kinh tế, phải phát triển đồng bộ và hiệu quả văn hóa - xã hội. Văn hóa - xã hội phải phục vụ phát triển kinh tế và ổn định xã hội; đến lượt nó, kinh tế phải trực tiếp bảo đảm giữ vững chính trị, quốc phòng, an ninh, xã hội ổn định tổng thể và hài hòa với tinh thần chủ đạo tự tôn, tự trọng, tự lực và tự cường. Không có nền giáo dục ngang tầm không có liêm sỉ mỗi người, không có Quốc sỉ, càng không có Quốc thể xứng đáng.
Muốn đi xa và vững chắc, phải đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao dân trí; cổ vũ và đồng hành cùng các doanh nghiệp tiên phong hội nhập; sức mạnh, danh dự và uy tín quốc gia phải là điểm tương đồng căn bản để phát triển đồng thuận xã hội hướng tới hạnh phúc của Nhân dân… Cùng với tăng cường quốc phòng chủ động, vững mạnh, phải giữ gìn an ninh quốc gia trên nền móng thế trận lòng dân.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần giữ vững một chữ: Đồng!
Theo quy mô và tốc độ đổi mới, Đảng phải là tổ chức tinh hoa trí tuệ của người lãnh đạo, cầm quyền. Ngay từ hôm nay, đẩy nhanh tốc độ soát xét mô hình “lưỡng đầu chế” với “song trùng trực thuộc”, nhiều tầng nấc trung gian và hệ thống “nhìn lên trên và chờ đợi” không minh định trách nhiệm để kiến lập mô hình “nhất nguyên chế” với ba cấp (sách lược trước mắt) và tất cả “nhìn xuống dưới để hành động” một cách trực tiếp, phù hợp và cụ thể nhằm xóa sự yếm thế, bất lực “không quản được thì cấm”.
Đồng thời, thanh lọc, cấu trúc lại và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, cán bộ theo hướng trí thức hóa “thà ít mà tốt”; nâng cao quyền, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực của bộ máy và người đứng đầu nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền một cách đạo đức, văn minh. Không giữ gìn và đề cao liêm chính, không kiên quyết phá bỏ những “ổ mối”, cắt bỏ “cục bướu”, “khối u ác tính” trong các bộ máy không có bất cứ sự phát triển mong muốn nào. Vì, cái làm chìm con thuyền không phải nước ở đại dương mà là nước ở ngay trong chính con thuyền.
Phát triển các quy luật lãnh đạo, cầm quyền song hành kiến tạo đội ngũ chính trị gia - chiến lược gia - kỹ trị gia - doanh gia thật sự ngang tầm kỷ nguyên mới. Cần nắm chắc pháp luật để lãnh đạo, cầm quyền, bảo đảm song hành giữa đức trị và pháp trị, phát triển văn minh và đạo đức của Đảng. Tiên phong đổi mới thể chế bầu cử, bảo vệ liêm chính, trung tâm là thể chế kiểm soát quyền lực. Tôn trọng và giải quyết mọi nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của Nhân dân; ngăn chặn và trừng trị những gì làm tổn hại Nhân dân và chế độ. Nhân dân thật sự là chủ thể quản trị quốc gia bằng pháp luật, bằng cơ chế phù hợp trên nền đạo lý. Không có Nhân dân không thể thành công trong kỷ nguyên mới.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần tỏa rộng một chữ: Nhân!
Bản chất của các mối quan hệ quốc tế là trao đổi giá trị. Chúng ta phải tự mình hùng mạnh và lợi ích của đất nước là tối thượng. Để tích lũy nội lực phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách tự chủ và sáng tạo với bản lĩnh độc lập mà thật uyển chuyển, linh hoạt, nhân văn, thủy chung trên nền lòng tin chiến lược và bảo đảm bằng thực lực đất nước; đồng thời, tôn trọng lợi ích của tất cả các quốc gia, dân tộc khác. Cầu thị, học tập, chủ động tiếp thu, thâu hóa những tinh hoa văn minh phải là trách nhiệm quốc gia vì và cho sự phát triển của thế giới cũng như nền văn minh nhân loại.
Vì thế, hơn lúc nào hết, cần giữ vững hai chữ: Hòa mục!
Bước vào kỷ nguyên mới, mỗi người nếu chưa thể làm những điều vĩ đại thì, dù là những việc nhỏ phải được làm bằng danh dự và trách nhiệm vĩ đại.
Trước thềm Xuân Ất Tỵ 2025, trên nền móng truyền thống dân tộc, sức mạnh đất nước 95 năm dưới ngọn cờ của Đảng, với tầm nhìn mới, nắm lấy thời cơ, hóa giải mọi nguy cơ, thách thức; hòa mục và hợp tác; tự tôn, tự trọng, tự giác, tự cường, đoàn kết và hành động, dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, nhìn tới 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước năm 2045.
Tất cả vì đất nước độc lập, Tổ quốc thống nhất, hùng cường và Nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc, vì phẩm giá, danh dự Việt Nam, nhịp bước cùng thời đại./.
Có thể là hình ảnh về đền thờ, cái bục và văn bản
Tất cả cảm xúc:
3

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Qua các kỳ đại hội, Ðảng ta luôn nghiêm túc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề ra những quan điểm chỉ đạo đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn nhằm xây dựng, hoàn thiện mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam mang bản chất dân chủ, ưu việt, tốt đẹp.
Trong bối cảnh đất nước sẵn sàng tiến bước vào kỷ nguyên mới và trong không khí hào hứng hướng tới kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần ý thức sâu sắc về mục tiêu kiên định xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại.
Với mục tiêu xây dựng, hoàn thiện một nhà nước dân chủ để thực hiện và bảo vệ ngày càng tốt các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khóa VII năm 1994 của Ðảng chính thức đề cập đến nội dung xây dựng “Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân”.
Ðây là lần đầu tiên trong văn kiện của Ðảng, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” được sử dụng. Ðến Ðại hội IX, Ðảng ta xác định rõ: Phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên tinh thần chỉ đạo ấy, những năm qua, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã từng bước được xây dựng, hoàn thiện.
Nhờ đó, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu quan trọng, to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam cũng vì thế mà ngày càng được khẳng định, củng cố và nâng cao.
Tuy nhiên, với nhãn quan phiến diện, thù địch, các thế lực phản động, cực đoan, suốt nhiều năm qua, nhất là giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh đại hội đảng các cấp chuẩn bị diễn ra, càng tăng cường chống phá, đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Các đối tượng rêu rao rằng Việt Nam hiện nay không coi trọng dân chủ, không quan tâm đến quyền và lợi ích của nhân dân. Nhà nước Việt Nam không thực hiện tam quyền phân lập, không đề cao pháp trị. Do đó, không thể được gọi là nhà nước pháp quyền. Các thế lực thù địch ra sức phủ nhận năng lực và bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Chúng vin vào hoặc cố tình thổi phồng một số vụ việc, hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong công tác quản lý, điều hành của hệ thống chính trị để phủ nhận bản chất dân chủ ưu việt tốt đẹp của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Chúng đổ lỗi, xuyên tạc rằng, sở dĩ Việt Nam mãi không thể phát triển dù có rất nhiều tiềm năng, lợi thế (về tài nguyên, con người, vị thế địa chính trị...) là do sự yếu kém, mất dân chủ, tham ô, tham nhũng trong bộ máy nhà nước.
Ði đôi với đó, các đối tượng ra sức lăng xê, ca ngợi chỉ có nhà nước pháp quyền tư sản mới thực sự dân chủ, tiến bộ, văn minh, mới có thể đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân; từ đó, tuyên truyền rằng, Việt Nam muốn “bứt phá”, “cất cánh”, “vươn mình” như mục tiêu đặt ra hiện nay thì phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản.
Không khó để nhận ra rằng, mục đích của tất cả những luận điệu xuyên tạc này nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối hòng thay đổi thể chế chính trị, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Trước hết, cần hiểu rõ, Việt Nam lựa chọn xây dựng nhà nước pháp quyền là lựa chọn đúng đắn giúp bảo đảm và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước, cũng như thực hiện tốt các quyền, lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng, dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên, nhà nước pháp quyền mà Việt Nam lựa chọn xây dựng không phải là nhà nước pháp quyền tư sản mà là nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là nhà nước khác biệt hoàn toàn về bản chất so với nhà nước pháp quyền tư sản ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa hiện nay vì đó là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, “phục vụ lợi ích của nhân dân”. Nhà nước “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân là trung tâm”, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Nhà nước “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, tạo điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, quyết định những vấn đề lớn của đất nước trên tinh thần “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”. Nhà nước luôn cố gắng nỗ lực “không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, để mọi người dân đều có cơ hội được cống hiến và thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội.
Nhà nước chú trọng “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”, “trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế” để không ai bị bỏ lại sau trong tiến trình phát triển đất nước...
Bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật; thông qua những nỗ lực không ngừng của Nhà nước khi điều hành, quản lý đất nước, mà còn được minh chứng bằng những thành quả phát triển tốt đẹp mà đất nước đã đạt được.
Cụ thể, nền kinh tế Việt Nam đã đạt những thành tựu bứt phá ngoạn mục, rất đáng tự hào. Từ một nước kém phát triển, nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân thiếu thốn mọi mặt, đến nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2023 đạt 430 tỷ USD (tăng gấp 96 lần so với năm 1986).
Việt Nam đã được xếp hạng thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới với mức tăng trưởng kinh tế đều trong nhiều năm và đạt mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ðời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt với GDP bình quân đầu người lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023 (tăng 58 lần so với những năm đầu đổi mới).
Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh… của đất nước không ngừng được nâng cao. Việt Nam đã tích lũy được “thế và lực” và sẵn sàng cho sự phát triển “bứt phá và cất cánh” của đất nước trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc để hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Với bản chất dân chủ ưu việt, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam luôn chú trọng chăm lo, bảo đảm đời sống mọi mặt của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nỗ lực không ngừng để đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Nhờ đó, Việt Nam đã trở thành một trong số ít các quốc gia được đánh giá là điểm sáng của thế giới vì đã hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ như: Giảm nghèo, thực hiện tốt chăm sóc y tế, giáo dục, bình đẳng giới,... Ngay cả trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh kéo dài, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vẫn luôn đồng hành, kề vai sát cánh cùng nhân dân.
Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao vì những nỗ lực huy động mọi nguồn lực để chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân, kịp thời cung ứng lương thực, thực phẩm, khám, chữa bệnh miễn phí cho nhân dân,...
Trong khi đó, nhà nước pháp quyền tư sản dù luôn được quảng bá, tuyên truyền là nhà nước dân chủ, tiến bộ nhất, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhận định, nhà nước tư sản chỉ tạo cơ hội cho 1% những ông chủ tư bản làm giàu, thu lợi trên mồ hôi và những tấm lưng còng của những người lao động.
Nhà nước đó, suy cho cùng, vẫn chỉ là công cụ quyền lực của giai cấp tư sản, bảo vệ và phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản. Ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa, tình trạng mất công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng thành quả phát triển xã hội cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế; sự phân biệt đối xử thiếu công bằng với phụ nữ, người nghèo, người da màu,... không phải là hiếm thấy.
Ðể thực hiện bản chất dân chủ ưu việt của mình, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhiều năm qua đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật là công cụ chủ yếu, hiệu quả để Nhà nước quản lý, điều hành xã hội, đồng thời là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước; bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nước kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, coi thường pháp luật, hoặc sử dụng pháp luật để xâm phạm các quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân. Song song đó, Ðảng ta cũng chú trọng tăng cường sự lãnh đạo đối với Nhà nước để bảo đảm bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Bởi lẽ, Ðảng ta là Ðảng của nhân dân, ra đời từ nhân dân, gắn bó mật thiết với quyền và lợi ích của nhân dân. Mọi sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước đều vì yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực tế cho thấy, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Ðảng ta, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và hoạt động ngày càng hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt quyền dân chủ của nhân dân. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thực hiện tam quyền phân lập là do mọi quyền lực của Nhà nước đều là của nhân dân, tập trung ở nhân dân nên không thể phân chia, tách rời.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện tốt nhất các quyền dân chủ của nhân dân, giữa 3 quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn có sự phân công, phối hợp, và tăng cường kiểm soát một cách hiệu quả. Như vậy, nhà nước mà Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, hơn thế còn mang những đặc trưng ưu việt khác biệt để bảo đảm đó là nhà nước pháp quyền XHCN dân chủ, tiến bộ, văn minh, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./.
Có thể là đồ họa về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1

GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
🇻🇳 1. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín lãnh tụ của đảng. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp.
👉 Niềm tin chính trị của nhân dân gồm những yếu tố cơ bản sau đây.
Trước hết, đó là sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi cho mình.
Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm xương máu được quần chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào đảng càng thêm sâu nặng.
Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng. Điều này rất quan trọng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng ta trong nhân dân.
Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình.
🇻🇳 2. Thực tiễn cho thấy, niềm tin của nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc hơn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Đảng suốt chặng đường 95 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Ngay sau khi ra đời ngày 3-2-1930, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh; tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tạo điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp gần 40 năm đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được là hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Với vai trò to lớn của mình, Đảng ta đã tạo được niềm tin yêu sâu sắc trong lòng nhân dân. Tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã một lòng đi theo Đảng; biến những nhận thức, niềm tin thành hành động cách mạng, thành ý chí quyết tâm; phát huy cao độ tinh thần và lực lượng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hiện nay đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thật sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân và dân tộc.
Thực tiễn 95 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng, quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Tập trung thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn liền và nằm trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhưng nay được định danh, được đặt ngang hàng với các mặt công tác xây dựng Đảng khác, đã thể hiện ý chí của Đảng là đề cao, coi trọng yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng. Đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng.
🇻🇳 3. Chúng ta thừa nhận thực tế về hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, thoái hóa, chưa được ngăn chặn triệt để. Một số cán bộ lãnh đạo chẳng những không gương mẫu mà còn nêu gương xấu trước quần chúng. Một số người vô tổ chức, vô kỷ luật, kéo bè kéo cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới, cơ hội, thực dụng, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền để tham ô, trục lợi, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với kẻ xấu để làm giàu bất chính. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, bị những ham muốn vật chất cám dỗ cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa, không còn tư cách đảng viên.
Nhìn thẳng vào sự thật đó, Đảng ta đã tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục những hiện tượng hư hỏng trong bộ máy nhà nước, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Đảng yêu cầu phải làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm chất cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, coi đây là một nội dung trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Việc xử lý cán bộ sai phạm đang diễn ra quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả trong quan điểm chỉ đạo và thực tiễn triển khai.
Về quan điểm chỉ đạo, có thể thấy rõ từ khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng cũng có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Về thực tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta hiện được thực hiện theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Bằng chứng là, thời gian qua, nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử kịp thời, đúng người, đúng tội. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chỉ tính năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 2 nguyên lãnh đạo chủ chốt.
Có thể khẳng định rằng, việc xử lý quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đây chính là thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, qua đó làm nhân dân thêm tin tưởng, đi theo Đảng.
Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta./.
(Nguồn: Báo QĐND)
Có thể là hình ảnh về cái bục và văn bản
Tất cả cảm xúc:
4

ĐỂ VIỆT NAM VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành các yếu tố quan trọng mang tính quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đóng góp thiết thực, toàn diện trên mọi lĩnh vực, như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, quốc phòng - an ninh... Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng, thời cơ tốt nhất để xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn xác định, “cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”(15). Do đó, nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiệm vụ phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của nước ta chưa đạt được kết quả kỳ vọng, nhận thức về vị trí, vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu trở thành nền tảng, quốc sách, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội; tốc độ phát triển của nước ta còn chậm, còn khoảng cách so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu…

Năm 2024, ngành khoa học và công nghệ tiếp tục tập trung vào công tác hoàn thiện môi trường thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ tiếp tục có đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống nhân dân; tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia được tăng cường. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam tiếp tục phát triển năng động, tạo ra một thế hệ doanh nghiệp mới kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ và đủ năng lực tiếp cận thị trường toàn cầu.

Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học - công nghệ trong sự phát triển của quốc gia, để có thể vươn mình, nước ta bắt buộc phải tiến hành cuộc cách mạng, đổi mới tư duy, tháo gỡ điểm nghẽn, kiến tạo để thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên tinh thần đó, ngày 22-12-2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Với 5 quan điểm, 5 nhóm mục tiêu cụ thể đến 2030 và 7 nhóm giải pháp, Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện tầm nhìn, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thành động lực hiện thực hoá khát vọng vươn mình của dân tộc: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện quyết tâm của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và cả hệ thống chính trị. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Ban là sự cam kết, sự quyết tâm lớn nhất, mạnh mẽ nhất. Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”(18). Mặt khác, thống nhất tinh thần chuyển đổi tư duy từ quản lý khoa học và công nghệ sang quản trị khoa học và công nghệ. Quan điểm này đã giải quyết rất nhiều hạn chế lâu nay trong việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã góp phần giải quyết những vấn đề then chốt, yêu cầu cấp bách của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, doanh nghiệp và nhân dân.

Trong bối cảnh mới, nước ta cần vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Bởi, thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, luôn đặt ra vấn đề mới. Đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ góp phần giải quyết vấn đề mới đó, và đôi khi, dẫn dắt vấn đề mới phát sinh. ChatGPT, Gemini,... là các ví dụ điển hình của khoa học - công nghệ dẫn đắt vấn đề mới phát sinh của thực tiễn.

Trên thực tế, quản lý nhà nước luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội, như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen…, theo đó, thường không theo kịp vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Do đó, cần vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm để giải quyết vấn đề mới phát sinh sẽ giúp tăng cường quản trị đất nước, nhưng quan trọng hơn đó là sẽ tạo nền tảng, hành lang pháp lý để khuyến khích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, nước ta cần có cơ chế đầu tư kinh phí phù hợp, chấp nhận “độ trễ” trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất, nhân dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, sáng tạo, đột phá thường đến từ xã hội và chỉ một phần đến từ đầu tư của nhà nước. Nhà nước chỉ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, để nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của kết quả nghiên cứu đó. Việc khơi thông nguồn lực xã hội trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo thành phong trào trong toàn xã hội sẽ là yếu tố quyết định thành công cho cuộc cách mạng này.

Với những kết quả đạt được sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, với khát vọng sánh vai với các cường quốc năm châu, Việt Nam chúng ta đang trên đường băng của kỷ nguyên vươn mình. Để thực sự cất cánh, nước ta phải thực hiện thành công cuộc cách mạng phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt của toàn Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo mạnh mẽ của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - trong thời gian tới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sẽ có bước tiến mạnh mẽ, phát triển nhảy vọt, trở thành động lực chính để đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

 

TĂNG CƯỜNG Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ SỰ THẬT TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGHỊ ĐỊNH 168

 Nghị định 168 được ban hành với mục tiêu nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người dân, góp phần xây dựng một xã hội an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn cho người dân và xây dựng trật tự xã hội. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số tổ chức và cá nhân trên mạng xã hội đã cố tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch về Nghị định 168. Những hành động này không chỉ làm sai lệch bản chất của chính sách mà còn gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến sự đoàn kết và niềm tin của nhân dân vào chính quyền.

Chúng ta cần tiếp tục:

1. *Tăng cường tuyên truyền chính sách*: Các cơ quan chức năng, báo chí và truyền thông cần phối hợp chặt chẽ để giải thích rõ ràng, chi tiết những điểm quan trọng của Nghị định 168, giúp người dân hiểu đúng và thực hiện nghiêm túc.

2. *Xử lý nghiêm các hành vi xuyên tạc*: Những đối tượng cố tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch cần bị xử lý theo pháp luật để răn đe và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.

3. *Nâng cao ý thức cộng đồng*: Mỗi người dân cần tỉnh táo trước thông tin trên mạng xã hội, không chia sẻ hoặc lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng, góp phần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh. Đảng và Nhà nước luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Vì vậy, việc bảo vệ sự thật, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc chính là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hãy cùng nhau hành động vì một Việt Nam phát triển, an toàn và văn minh.

 

SỨC MẠNH TRƯỜNG TỒN CỦA ĐẢNG LÀ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN

 Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là niềm tin khoa học, được thực tiễn thử thách, rèn đúc mà nên. Đảng ta xác định niềm tin của nhân dân đối với Đảng là tài sản vô giá, là nhân tố làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Điểm tựa của niềm tin

Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, khi nào “vua sáng, tôi hiền”, trên dưới “hòa mục”; vua quan tâm đến dân, lấy dân làm gốc, thực thi chính sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”… thì khi ấy vương triều được dân tin, nước nhà vững mạnh. Khi lòng dân đã tin theo thì “xã tắc yên như núi Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”. Trái lại, khi nào triều chính nhiễu nhương, gian thần lộng hành, ăn chơi sa đọa, tham lam vơ vét, coi thường dân chúng... Nghĩa là khi “chính sự phiền hà”, “để trong nước lòng dân oán hận” thì khi đó vương triều đã không được lòng dân, đánh mất niềm tin nơi dân và tất yếu vận nước lâm nguy.

Ví như, dù nhà Hồ có thành cao, hào sâu, quân đông đến trăm vạn mà “lòng dân không theo”, nên không chỉ đại bại trước quân Minh xâm lược, mà cơ nghiệp cũng mất, xã tắc cũng chẳng còn như lời của Tả tướng Hồ Nguyên Trừng đã chỉ ra. Thấm thía bài học thất bại của nhà Hồ, Nguyễn Trãi không chỉ lấy đó làm răn cho sự nghiệp gây dựng, mở mang nhà Hậu Lê, mà còn đúc kết thành bài học sâu sắc: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”.

Khắc ghi những lời dặn của cha ông và thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lấy mục tiêu vì dân, vì nước mà chiến đấu hy sinh. Do vậy, Đảng đã khẳng định được uy tín, niềm tin trong nhân dân, xứng đáng với truyền thống con cháu Rồng - Tiên; đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng và được nhân dân thừa nhận.

95 năm sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền không phải tự nhiên mà có, không phải tự nhận mà được, càng không phải được do tranh cử như các đảng cầm quyền ở nhiều nước mà nên. Sự cầm quyền, lãnh đạo của Đảng ta là do có đường lối chính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị kiên cường; là kết quả của cả quá trình Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên đã nêu gương chiến đấu hy sinh, nếm mật nằm gai để chứng tỏ được uy tín, niềm tin của mình đối với nhân dân và được nhân dân thừa nhận.

Thực tiễn những thành quả mà Đảng đem lại, được người dân thấu hiểu chỉ có Đảng lãnh đạo, đất nước ta mới giành được độc lập dân tộc, dân ta mới thật sự được tự do, mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đã tạo nên dấu ấn, một niềm tin mãnh liệt trong nhân dân. Đó là niềm tin khoa học và cách mạng của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đạt được những thành tựu rực rỡ, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Không mơ hồ, khoan nhượng với “thứ giặc” làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng

Một bài học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, đó là: “Càng gần thắng lợi thì càng gặp nhiều khó khăn”. Soi chiếu bài học đó vào công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới hiện nay cũng vậy. Khi đất nước càng đạt được những kỳ tích trong sự nghiệp đổi mới, Việt Nam phát triển và lớn mạnh không ngừng, được cả thế giới ngưỡng mộ… thì cả giặc “nội xâm” và “ngoại xâm” dưới những biểu hiện mới lại xuất hiện với tính chất gay go, phức tạp và nguy hiểm hơn. Nếu bản lĩnh không vững vàng, nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến mất niềm tin và bị kẻ địch lợi dụng thì sự nghiệp cách mạng của Đảng, thành quả của nhân dân, cơ đồ của đất nước và chế độ sẽ trở nên nguy cấp.

Đó là tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực lại nảy sinh từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Họ không giữ mình được trong sạch trước những “viên đạn bọc đường”, nên đã sa vào chủ nghĩa cá nhân. Hệ quả đề cao lợi ích cá nhân nên đã không chỉ gây nên những thiệt hại kinh tế, xã hội, mà còn là nguyên nhân của sự giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Điều lo lắng hơn hết là những thông tin, vụ việc nổi cộm khó tránh khỏi những bàn tán, dư luận nhiều chiều, gây tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là đối với công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Và nguy hại hơn là những vụ việc này luôn bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị “chộp lấy”, “té nước theo mưa” để thổi phồng, xuyên tạc, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, hòng mục đích gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây thực sự là những cơn “sóng dữ”, liên tiếp tác động vào niềm tin của nhân dân.

Nếu mỗi người dân thiếu tỉnh táo, không nhận rõ các “thứ giặc” cố tình chia rẽ Đảng với nhân dân, không “vững tay chèo” vượt qua “thác ghềnh” thì niềm tin sẽ bị giảm sút, nguy hiểm hơn là “mất niềm tin”. Nếu vậy, thì những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng triệt để chống phá, mà bài học xương máu về sự thiếu tỉnh táo, bình tĩnh trong xử lý của nhân dân đã gây nên sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị với mỗi người dân và cả dân tộc ta hiện nay.

Quyết tâm giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; trong nước, bên cạnh những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới, Đảng, nhân dân ta đang đứng trước nguy cơ lớn là tình trạng quan liêu, xa rời nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, tham nhũng, tiêu cực gây bất bình trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này tìm đủ mọi chiêu trò phá hoại, công kích hòng gây chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng.

Giải pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng là phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.

Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chỉnh huấn Đảng là nhiệm vụ then chốt, trọng yếu thường xuyên qua từng thời kỳ cách mạng với những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau. Đảng ta nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp, ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.

Sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với các cơ quan Trung ương tinh, gọn, mạnh, hiệu quả với phương châm “Trung ương làm gương - Địa phương hưởng ứng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương nói đi đôi với làm, thân dân và trọng dân. Người cán bộ, đảng viên thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Gần dân là để học dân, nghe dân nói, đó là phương châm của người cán bộ, đảng viên. Gần dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh, lắng nghe tâm tư, ý kiến của dân. Từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết, đồng thuận để mọi người dân chung sức, đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với kết quả cao nhất…

Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế đó phải quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức Đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì, chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng và của địa phương, thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”. Mỗi người dân là một chiến sĩ, xung kích, đấu tranh với các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch là cách thể hiện niềm tin của mình với Đảng, với tương lai của mình và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.

Vấn đề quan trọng là, phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh nguy hiểm, là “giặc nội xâm”, gây bất bình, mất niềm tin trong nhân dân, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao nhất, mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để và hiệu quả hơn nữa. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cảnh giác hơn nữa, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động đấu tranh phòng ngừa, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những lúc vận mệnh dân tộc “ngàn cân treo sợi tóc”, cảnh đất nước bị chia cắt, kẻ thù hung bạo bủa vây bốn phía hay trong lúc sự nghiệp đổi mới vừa mới đơm hoa, kết trái thì chủ nghĩa xã hội ở các nước trên thế giới và ở nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng… mà dân ta vẫn một lòng sắt son với Đảng, đồng lòng hướng theo ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa xã hội. Vậy nên, khi cơ đồ, thế và lực của nước ta ngày nay đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần thì tất yếu niềm tin vào Đảng không thể bị chuyển lay.

 

“TẾT QUANG TRUNG" Ở TRƯỜNG SƠN

 Gần như đã thành nếp, cánh lái xe Trường Sơn chúng tôi thường được đơn vị tổ chức cho ăn Tết sớm, nhanh gọn nhất có thể trước khi bước vào đợt tổng công kích mỗi mùa khô. Chính vì thế, chúng tôi vẫn tự hào nói với nhau rằng năm nào cũng được ăn "Tết Quang Trung" như thuở người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ tiến đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi

Tôi có hơn mười năm gắn bó trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với bao kỷ niệm vui buồn, sinh tử. Nhớ nhất là lần được đón Tết sớm để chuẩn bị bước vào mùa vận chuyển cao điểm phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Tiểu đoàn 52, Binh trạm 32, Bộ tư lệnh 559.

Năm ấy, kết thúc tổng công kích đợt 1 vào ngày 28-12-1967, Binh trạm 32 chúng tôi dẫn đầu toàn tuyến, vận chuyển được trên một vạn tấn hàng vượt Đường 9 an toàn trong thời gian một tháng. Bộ tư lệnh đã tặng đơn vị danh hiệu "Binh trạm vạn tấn". Những điển hình mà đại đội, tiểu đoàn chọn xây dựng như: Kim Ngọc Quản, Nguyễn Xuân Lục, Hoàng Văn Bản của Tiểu đoàn 52 chúng tôi, Lê Quang Biện của Tiểu đoàn 102, Hà Văn Tơ của Tiểu đoàn 51, qua tổng công kích đợt đầu đều được tặng danh hiệu "Dũng sĩ lái xe vạn tấn" và Huân chương Chiến công. Riêng những tay lái của Tiểu đoàn 52 còn được Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên gọi với cái tên trìu mến "Đại bàng Trường Sơn".

Tôi nhớ, đêm 29-1-1968, Binh trạm phát động tổng công kích đợt 2. Sau này, chúng tôi mới biết, trên tổ chức tổng công kích liên tục nhằm phục vụ kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968. Nhưng khi đó, chúng tôi chỉ được quán triệt chủ trương của Bộ tư lệnh 559 là vừa đón Tết vừa ra quân thần tốc, quyết thắng lập thành tích mừng Xuân, mừng Đảng.

Lại thêm một cái Tết cổ truyền nữa chúng tôi ở lại với Trường Sơn bên vô lăng tay lái. Nhưng cái Tết này quả là đặc biệt. Tất cả bị cuốn vào không khí hối thúc khẩn trương và rạo rực vô cùng, như quên cả chuỗi dài ký ức và nỗi nhớ dung quê nhà, gia đình ở hậu phương.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, có rất nhiều anh em vẫn rong ruổi cùng chiếc xe yêu quý trên những cung đường ra phía trước. Chúng tôi đón Tết đúng nghĩa "thần tốc" để kịp vận chuyển khối lượng lớn vật chất hậu cần và cả lực lượng chi viện cho các hướng chiến trường miền Nam.

Tất nhiên trước đó, để chuẩn bị cho việc đón Tết, trong thời gian củng cố sau tổng công kích đợt 1, Tiểu đoàn đã cho người về Quảng Bình, thậm chí cho xe ra Hà Nội mua sắm hàng Tết, từ thịt lợn, gạo nếp, lá dong, su hào, bắp cải, kẹo bánh, chè, thuốc lá... Sau đó, hậu cần tổ chức giết lợn, gói bánh, sắm cỗ "tất niên" khá chu đáo, rôm rả. Gần như thành nếp, lái xe Trường Sơn, thường được tổ chức ăn "Tết Quang Trung", tết "thần tốc". Do điều kiện chiến tranh, bữa cỗ tất niên diễn ra rất nhanh, không có đủ những món cổ truyền, nhưng vẫn có bánh chưng, giò, bắp cải, cà chua, kẹo, trà, thuốc lá… Thế cũng là đậm đà hương vị Tết rồi!

Chính Tết, chúng tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ như bình thường, các đơn vị phân công lực lượng hoạt động mạnh hơn ngày thường. Bởi lúc này, đối phương cho rằng ta sẽ dành thời gian đón Tết cổ truyền theo phong tục nên lơi lỏng việc theo dõi, tiến công. Vì tiền tuyến, vì ngày chiến thắng, chúng tôi không từ nan. Được sự quan tâm của trên, anh em lái xe chạy đêm giao thừa còn được cấp hai điểu thuốc lá, hai viên kẹo chống ngủ nên ai nấy rất phấn khởi.

Đêm giao thừa năm đó, trước hàng quân và 39 xe của đại đội tôi, hàng hóa bốc xếp cẩn thận, đội hình nghiêm ngắn hùng dũng, khí thế bừng bừng. Thay mặt Ban chỉ huy đại đội, Chính trị viên Trần Quốc Vịnh phát biểu động viên anh em ra quân giành chiến thắng, thực hiện thắng lợi chỉ tiêu tổng công kích đợt 2 mà Bộ tư lệnh phát động. Tôi nhìn sang cánh rừng bên cạnh, đội hình xe Đại đội 5 cũng trong tư thể sẵn sàng chờ lệnh. Chứng kiến không khí ra quân của các đại dội, Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Tiến Du và Trợ lý chính trị Nguyễn Văn Thủy-người Sơn Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), bạn đồng ngũ với tôi không nén nổi xúc động. Anh Du quả quyết, nếu cứ đà này, Binh trạm 32 chúng tôi không chỉ dừng ở vạn tấn mà còn có thể hơn thế nữa. "Chúng em cũng tin như vậy", tôi và các chiến sĩ cùng trả lời. Nói rồi mấy anh em ôm chặt nhau, bắt tay thật chặt thể hiện quyết tâm.

Với tác phong gọn gàng, nhanh nhẹn, anh Phạm Thành Vinh, anh Trần Quốc Vịnh nhảy lên xe trước. Cả đoàn xe nổ máy, rùng rùng chuyển động. Chuyến này, tôi và anh Liệu - Chính trị viên phó đại đội được phân công ở nhà tổ chức đón giao thừa cho số anh em trong đại đội còn lại và chuẩn bị sẵn sàng cứu kéo phòng khi lực lượng vận chuyển gặp sự cố.

Xong xuôi mọi việc, tôi cho tập trung anh em ở nhà tại hầm chỉ huy đại đội để đón giao thừa. Hầm có cấu trúc hình vuông ở giữa, hai đầu có hai hầm chữ A khá kiên cố, có thể hạn chế được sát thương nếu trúng rốc-két của địch.

Giao thừa đến, cả hầm lắng lại, nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết:

"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!"

Lời của Bác là lời đất nước, vượt muôn trùng đêm tối đến với chúng tôi giữa đại ngàn Trường Sơn. Tiếng thơ cũng là nỗi lòng của Bác, tình thương của Bác sưởi ấm trái tim chiến sĩ, động viên cổ vũ chúng tôi quyết giành thắng lợi, để thỏa lòng mong mỏi của Người.

Cũng thời khắc này, qua làn sóng của Đài tiếng nói Việt Nam, chúng tôi mới biết, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị chuyển cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới, giai đoạn giành thắng lợi quyết định. Quân và dân ta đã tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam, đồng loạt tiến công vào Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn Miền. Trong thời khắc này, từ sâu thẳm lòng mình, tôi cảm thấy xúc động tự hào: Bằng tổng công kích đợt 1 giành thắng lợi và bằng những "chiến mã Trường Sơn" mang nặng hàng đang vượt suối, băng đèo, băng băng tiến ra phía trước, chúng tôi góp một phần nhỏ bé của mình cho sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam. Giữa rừng Trường Sơn hùng vĩ, trong những ngày Tết truyền thống, với niềm tin tưởng sâu sắc chúng tôi tổ chức cho bộ đội liên hoan văn nghệ và chờ tin thắng lợi của đơn vị!

 

ĐẢNG ĐÃ CHO TA NHỮNG MÙA XUÂN ĐẦY ƯỚC VỌNG

 Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập. Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.

Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường. Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất nước.

Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối này.

Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức.

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững”... chính là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng đối với nhân dân.

Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời.

Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững./.