Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Ý nghĩa về lý luận sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ thống lý luận mới, cách mạng, một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng và đỉnh cao của trí tuệ, văn minh nhân loại. Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời đã làm cho chủ nghĩa Mác trở nên cân đối, hoàn bị và triệt để hơn. Từ đây, con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới. Chính C.Mác đã khẳng định rằng: Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới. V.I.Lênin sau này cũng nhấn mạnh, toàn bộ thiên tài của C.Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra.

Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học đã đập tan mọi luận điểm không tưởng, hoang đường, duy tâm, tôn giáo, chỉ ra con đường, cách thức, biện pháp đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đồng thời cũng chỉ ra lực lượng có vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới, có thể đảm đương được nhiệm vụ vẻ vang đó chính là giai cấp công nhân. Sự khác biệt lớn nhất so với các học thuyết trước đó ở chỗ, chủ nghĩa xã hội khoa học đề cập mục tiêu, con đường, lực lượng, cách thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công một cách đúng đắn nhất; thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Trước đó, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không thể vạch ra được một lối thóat thực sự; không giải thích được bản chất của chế độ nô lệ làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo xã hội mới. V.I.Lênin khẳng định: Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa[1].

Trong giai đoạn hiện nay, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học có ý nghĩa sống còn đối với phong trào cộng sản và cộng nhân quốc tế. Đúng như V.I.Lênin đã căn dặn: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 23, “Vận mệnh lịch sử của học thuyết của Các Mác” (1913), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.1.

Đại tướng Phan Văn Giang làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa.

 Sáng 3-3, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đoàn công tác Bộ Quốc phòng đã có cuộc làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Tham dự buổi làm việc có các đồng chí: Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa; Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; đại biểu lãnh đạo các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 4

Báo cáo của Tỉnh ủy Thanh Hóa tại buổi làm việc khẳng định, thời gian qua, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã lãnh đạo, chỉ đạo ưu tiên các nguồn lực tập trung xây dựng tỉnh trở thành cực tăng trưởng mới phía Bắc, phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế riêng có và nắm bắt thời cơ, thuận lợi, trong những năm gần đây, Thanh Hóa đã đạt được nhiều thành tích, kết quả quan trọng trên các lĩnh vực. Đặc biệt, năm 2024, trong bối cảnh có nhiều khó khăn thách thức, song kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị của tỉnh vẫn giữ được ổn định và đạt được nhiều kết quả toàn diện, nổi bật; có 24/26 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch, trong đó có 13 chỉ tiêu vượt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Đồng thời, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược trọng yếu đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh; thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, nền biên phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh và khu vực phòng thủ vững chắc, nhất là trên tuyến biên giới, các địa bàn trọng điểm…

Thực hiện Nghị quyết số 18 và Kết luận số 121 của Ban Chấp hành Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đến nay Thanh Hóa đã hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức Đảng và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo đúng chỉ đạo, định hướng của Trung ương.

Tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Doãn Anh và các đại biểu đã trao đổi, thảo luận làm rõ hơn về kết quả, hạn chế, khó khăn của địa phương và đưa ra những kiến nghị, đề xuất của tỉnh Thanh Hóa với Đại tướng Phan Văn Giang.

Phát biểu tại buổi làm việc, Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá cao Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Để hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trong thời gian tới, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị Tỉnh ủy Thanh Hóa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm.

Trước hết, trong thời điểm các cấp, các ngành đang tổ chức đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Thanh Hóa phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giữ vững nguyên tắc lãnh đạo, xây dựng đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ, giữ vững lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền; phát huy những kết quả đạt được; chú trọng địa bàn vùng sâu, vùng xa, trọng yếu về quốc phòng, nơi mới được sắp xếp, điều chỉnh trong tỉnh.

Thanh Hóa là vùng đất “địa linh nhân kiệt", có vị trí địa chính trị, kinh tế, quốc phòng quan trọng, kết nối Bắc Trung bộ với Đồng bằng sông Hồng; đồng thời nằm trên hành lang kinh tế Bắc - Nam và tứ giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Thanh Hóa. Là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn thứ 5 cả nước, với đầy đủ ba vùng địa lý (miền núi, đồng bằng và ven biển), do đó trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội phải gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh, tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận về chiến lược quân sự, quốc phòng; nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về quốc phòng ở các cấp; coi trọng tăng cường tiềm lực quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu cao, đủ sức ứng phó kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, tạo môi trường ổn định, thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời, hiệu quả mọi hoạt động của các thế lực thù địch…

Bộ trưởng Phan Văn Giang đề nghị Bộ tư lệnh Quân khu 4, tỉnh Thanh Hóa tham mưu, đề xuất cho Bộ Quốc phòng việc tổ chức, biên chế sắp xếp cơ quan quân sự địa phương cơ sở khi không còn cơ quan quân sự cấp huyện. “Nền quốc phòng của chúng ta là quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân. Trong xây dựng khu vực phòng thủ của chúng ta là xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh. Nay không còn cơ quan quân sự cấp huyện, việc xây dựng tổ chức và hoạt động cơ quan quân sự địa phương như thế nào… chúng tôi rất mong nhận được những đề xuất, tham mưu của địa phương cơ sở đối với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong vấn đề này…”, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Phan Văn Giang đã giao cho Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) hỗ trợ tỉnh Thanh Hóa 500 căn nhà trong Chương trình phát động xóa nhà tạm, nhà dột nát của tỉnh Thanh Hóa (trị giá mỗi căn 60 triệu đồng).

Tại buổi làm việc, Đại tướng Phan Văn Giang đã giải đáp các đề xuất, kiến nghị của Tỉnh ủy Thanh Hóa liên quan đến công tác quân sự, quốc phòng.

Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Đại hội II “Liên đoàn những người cộng sản” được tiến hành ở Luân đôn từ ngày 29 tháng 11 đến ngày 8 tháng 12 năm 1847 có C.Mác, Ph.Ăngghen và các đại biểu từ Bỉ, Đức, Anh, Pháp, Ba Lan, Thuỵ Sĩ... về dự. Đại hội II đã thông qua điều lệ, xác định mục đích của Liên đoàn là “Lật đổ giai cấp tư sản, lập lên nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội cũ tư sản, dựa trên sự đối kháng giai cấp và xây dựng một xã hội mới không có giai cấp và không có chế độ tư hữu”[1].

Bản Điều lệ còn quy định rõ ràng những điều kiện về tiêu chuẩn đảng viên, nguyên tắc tổ chức sinh hoạt và quan hệ giữa các thành viên, giữa các tổ chức trong Liên đoàn. “Liên đoàn những người cộng sản” được coi là chính đảng mácxit đầu tiên của giai cấp vô sản quốc tế. Từ đây, đánh dấu một bước ngoặt mới của phong trào công nhân từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, nhưng mới là tự giác của một số ít.

Ngay sau khi Đại hội kết thúc, theo yêu cầu của Đại hội, và cũng đã đến lúc xét thấy cần phải công bố công khai học thuyết của mình một cách hệ thống toàn vẹn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã soạn thảo “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, gửi bản thảo về Ban lãnh đạo ở Luân đôn vào ngày 01 tháng 02 năm 1848.

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được xuất bản đầu tiên vào ngày 23 và 24 tháng 02 năm 1848, nhanh chóng được phát hành, trở thành “cẩm nang” chỉ đạo cuộc đấu tranh của một tổ chức cộng sản ban đầu mới chỉ bao gồm vài trăm đảng viên. Sau đó, tác phẩm đã trở thành cương lĩnh lý luận và hành động của hàng trăm triệu đảng viên và của tất cả các đảng cộng sản và công nhân quốc tế trên toàn thế giới.

 “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã trình bày toàn vẹn những cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Trong đó, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã làm rõ về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sự ra đời, phát triển của giai cấp vô sản gắn với Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản; địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản. Khẳng định theo qui luật phảt triển của lịch sử, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và ra đời, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau. Giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, giành lấy dân chủ và bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, phải do chính giai cấp công nhân đảm nhiệm. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cũng làm rõ lý luận về đảng cộng sản; về cách mạng vô sản; về dân tộc, gia đình, tổ quốc; về chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản; về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; về đấu tranh tư tưởng lý luận. Với việc trình bày một cách cơ bản, hệ thống các nguyên lý chủ nghĩa xã hội khoa học như vậy, nên Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Kể từ khi xuất bản, Tuyên ngôn đã được tái bản nhiều lần, trở thành cẩm nang của những người cộng sản. Hiện nay, Tuyên ngôn đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng và đã được xuất bản tới hơn 1.000 lần, tác phẩm đã được truyền bá khắp thế giới và thúc đẩy phong trào cách mạng của nhiều dân tộc. Đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”1.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 21, “Về lịch sử liên đoàn những người cộng sản” (1885), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.326.

1 V.I.Lênin toàn tập, Tập 2, “Phri‐đrích Ăng‐ghen” (1895), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.10.

Học thuyết giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản của C.Mác


Học thuyết giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản đã giải thích một cách triệt để quan hệ giữa tư bản và lao động. C.Mác đã chứng minh giai cấp vô sản, với tư cách là giai cấp phải làm thuê, bán hàng hóa sức lao động của mình. Người công nhân khi làm việc cho tư sản thì họ không chỉ tái sản xuất ra giá trị sức lao động của bản thân họ do nhà tư sản trả tiền mà họ còn sản xuất ra một giá trị thặng dư bị nhà tư sản chiếm đoạt. Và giá trị thặng dư này, xét đến cùng là nguồn tích lũy tư bản chủ yếu, để giai cấp tư sản tiếp tục mở rộng sản xuất, tăng cường bóc lột lao động làm thuê của giai cấp vô sản. Chiếm đoạt sức lao động không được trả công là hình thái cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là thực chất của quá trình bóc lột giai cấp công nhân.

Bằng học thuyết giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế - chính trị học, chỉ ra quy luật vận động kinh tế của chủ nghĩa tư bản, vạch trần “bí mật” của chế độ tư bản là bóc lột giá trị thặng dư do sức lao động của những người lao động làm thuê tạo ra. Bóc lột giá trị thặng dư là bản chất, mục tiêu cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Đó là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn đối kháng và giai cấp tư sản không thể điều hòa giữa giai cấp vô sản, không thể giải quyết được trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Bằng lập luận khoa học về lao động sống, C.Mác đã kiên quyết bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của giai cấp tư sản về quá trình sản xuất giá trị thặng dư, nguồn gốc bóc lột của chủ nghĩa tư bản, cho rằng, máy móc tạo ra giá trị thặng dư, hay tuyệt đối hóa giá trị lao động trí óc.

Lý luận về giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của C.Mác. Học thuyết này không chỉ đúng với xã hội tư bản thời C.Mác mà còn đúng với chủ nghĩa tư bản hiện đại. Quy luật giá trị thặng dư vẫn là quy luật kinh tế cơ bản luôn luôn tác động vào xã hội tư bản chủ nghĩa khi còn tồn tại hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.

Từ hai phát kiến vĩ đại đó, C.Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Từ đó, C.Mác đã tìm ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản để tự giải phóng mình, giải phóng toàn nhân loại và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

Trong chủ nghĩa tư bản, các giai cấp khác đều suy tàn, tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, trái lại giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất phát triển cả về số lượng và chất lượng cùng với đại công nghiệp; là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Quá trình chuyển biến lập trường của C.Mác và Ph.Ăngghen.

 


Trước khi trở thành người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen là những nhà dân chủ cách mạng và nhân đạo chủ nghĩa.

 C.Mác, Ph.Ăngghen là những thiên tài, song giai đoạn đầu, hai ông chưa phải là những người cộng sản mà còn đứng trên lập trường dân chủ cách mạng và nhân đạo chủ nghĩa. Trước năm 1842, hai ông đều tham gia nhóm Hêghen trẻ và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm khách quan: Coi sự phát triển của ý thức là động lực phát triển xã hội; nhà nước là tổ chức đứng trên xã hội không mang tính giai cấp; bênh vực người lao động trên cơ sở cảm tính và đạo đức. Trong lời đề tựa tặng luận án tiến sĩ cho bố vợ, ông viết: Chủ nghĩa duy tâm không phải là sự sáng tạo đơn thuần của trí tưởng tượng mà là một chân lý.Về lập trường giai cấp, các ông chủ trương xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến và đặc quyền, đặc lợi bằng đấu tranh dân chủ, nghị trường; tách nhà nước ra khỏi nhà thờ và quyền tự do dân chủ cho nhân dân nói chung; đòi quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân bằng cách mạng xã hội.

 Vào cuối năm 1842, C.Mác, Ph.Ăngghen đều nhận thấy những hạn chế của phái Hê ghen trẻ và cố gắng vượt qua quan niệm duy tâm của Hêghen: vấn đề tư duy và tồn tại, nhiệm vụ của triết học phải đấu tranh chống lại tất cả các vị thần ở trên trời và trần thế, phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại. C.Mác tự hiểu rằng ý chí cách mạng của ông không tương hợp với công việc giảng dạy ở một trường đại học, ông đã từ chối học hàm giáo sư ở trường Đại học Bon để tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh chính trị.

Có thể thấy, ngay từ đầu C.Mác và Ph.Ăngghen đều chưa phải là những người cộng sản, mà vẫn còn đứng trên lập trường chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng. Quá trình chuyển biến từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật diễn ra cùng với quá trình chuyển biến từ lập trường dân chủ - cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa, từng bước hình thành những cơ sở triết học cho những tư tưởng và quan điểm của hai ông về chủ nghĩa cộng sản gắn liền với những hoạt động lý luận và thực tiễn của hai ông giai đoạn từ năm 1842 đến năm 1843.

Bước chuyển của C.Mác từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản được bắt đầu từ thời kỳ làm biên tập viên Báo sông Ranh từ cuối năm 1842 đến đầu năm 1843. Chủ đề cơ bản trong những bài báo của C.Mác là bảo vệ lợi ích người lao động, phê phán chế độ đẳng cấp, ức hiếp nông dân nghèo và tình trạng bần cùng của họ, cũng như tệ quan liêu của các quan chức... đã bị chính phủ phản động Phổ theo dõi và ra lệnh đóng cửa tờ báo vào mùa xuân năm 1843 và bị kết tội tuyên truyền cách mạng. Thông qua các bài báo, C.Mác khẳng định: không thể có đời sống chính trị tự do, nếu không có quyền đại diện của nhân dân, quyền đại diện đó cần cho xã hội, giống như không khí cần cho con người vậy. Về mặt tư tưởng, C.Mác không dừng ở chỗ, đòi quyền tự do báo chí, mà cho rằng việc bóp nghẹt quyền tự do báo chí ấy là do nhà nước Phổ quyết định. Như vậy là, từ việc đòi huỷ bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, C.Mác đã đụng đầu trực tiếp với vấn đề nhà nước.

 Còn Ph.Ăngghen, đầu năm 1843 sau khi hết nghĩa vụ quân sự, ông sang Manchextơ làm thư ký trong một công xưởng và bắt đầu nghiên cứu chính trị, kinh tế, tiếp xúc với phong trào công nhân và bắt đầu thay đổi lập trường từ dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản.

Nếu như trước kia do ảnh hưởng của phái “Hêghen trẻ”, C.Mác quan niệm nhà nước là hiện thân của lý tính, của trật tự, của công lý vĩnh cửu, thì đến lúc này C.Mác đã đặt ra phải khảo sát lại những quan điểm của mình về nhà nước. Hiện thực, C.Mác thấy nhà nước không phải là cơ quan đại biểu quyền lợi cho nhân dân nói chung mà chỉ cho một bộ phận trong nhân dân, tức là cho một số ít những người có của. Do đó, quyền tự do là của họ chứ không phải là của nhân dân nói chung.

Hiện thực xã hội với những cảnh tương phản giữa kẻ giàu và người nghèo, đã cho phép C.Mác vạch ra tính chất bất công của nhà nước Phổ và tính chất giai cấp của nó. C.Mác phê phán nhà nước Phổ là công cụ của quyền tư hữu và khẳng định chính nhà nước đại biểu cho quyền tư hữu là nguyên nhân của tình trạng nghèo khổ của quần chúng. Mặc dù quan điểm về nhà nước của C.Mác lúc đó chưa đầy đủ cơ sở duy vật về lịch sử, song C.Mác đã không thừa nhận nhà nước Phổ là một nhà nước của nhân dân lao động. Cũng thời gian này, trên một số bài báo C.Mác đã thể hiện sự thông cảm sâu sắc với quần chúng nông dân nghèo, tỏ thái độ dứt khóat đứng về phía họ, bênh vực họ, lên án chính sách vô nhân đạo của nhà nước đối với họ. C.Mác đòi cho người nông dân có quyền công dân và phê phán những đạo luật kết án nông dân đi nhặt những cành củi khô trong rừng là những người ăn cắp. Đồng thời trong các bài báo đó, C.Mác đã nêu lên những quan điểm về mối liên hệ giữa triết học, tôn giáo và chính trị, mà biểu hiện của chính trị trước hết là nhà nước. C.Mác cho rằng triết học không thể đứng biệt lập ngoài xã hội. Triết học cần can thiệp vào hiện thực xã hội, vào nhà nước hơn là chỉ gắn bó với tôn giáo và chỉ bàn đến thế giới “tinh thần”. Từ đó, C.Mác đã nêu lên một quan điểm chính trị quan trọng là tách nhà nước ra khỏi nhà thờ và 28 năm sau tư tưởng này đã được công xã Pari ghi vào cương lĩnh của mình với tư cách nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới.

Bước quan trọng trong quá trình chuyển biến lập trường của C.Mác được thể hiện qua tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen” viết năm 1843 mà lời tựa đã được đăng trong tạp chí “Niên giám Pháp - Đức”. Ngay trong tác phẩm đầu tiên này, C.Mác đã đoạn tuyệt dứt khóat với chủ nghĩa duy tâm và chống lại Brunô Baue - lãnh tụ của phái Hêghen trẻ. Trong tác phẩm, C.Mác khẳng định vai trò quyết định của hoạt động vật chất đối với yếu tố tinh thần trong lịch sử và đã thanh toán bước đầu bởi những quan niệm của Hêghen về vấn đề nhà nước. Trên cơ sở đó, C.Mác tiến tới phát hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản bằng cách phát triển tư tưởng về sự “giải phóng nhân loại”. Tuy nhiên, khái niệm giải phóng nhân loại còn mang dấu vết chủ nghĩa nhân bản của Phơ Bách. Nhưng C.Mác đã chỉ ra: xóa bỏ chế độ tư hữu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa, triết học phải tìm lực lượng ngay trong bản thân hiện thực, đó là giai cấp vô sản; triết học phải phản ánh những xung đột hiện thực, những điều kiện vật chất để giải quyết những xung đột đó. Đây là luận điểm then chốt của C.Mác trong việc hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, đặt cơ sở cho việc giải quyết khoa học mối quan hệ tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Luận điểm đó cũng đặt cơ sở cho C.Mác chuyển sang lập trường cộng sản chủ nghĩa.

Cùng thời gian ấy, thông qua việc tham gia phong trào Hiến chương Anh, nghiên cứu tình hình giai cấp công nhân ở Anh, phê phán học thuyết xã hội chủ nghĩa của Ôoen, những nhà kinh điển trong kinh tế - chính trị tư sản và chế độ quân chủ chuyên chế.

 Trong các bài viết của mình, Ph.Ăngghen đã nhận thấy sự cần thiết phải thống nhất giữa khoa học và đời sống, giữa triết học và chính trị, giữa tư duy và hành động. Trong những bức thư từ Vúp péc tan, Ph.Ăngghen nói lên sự căm ghét của mình đối với chế độ quân chủ, mối thông cảm sâu sắc của ông với nhân dân lao động bị áp bức. Ông hy vọng lòng căm phẫn của những người nông dân không có đất đai, nhất định một ngày kia sẽ bùng nổ để chống lại các đẳng cấp quý tộc và nền quân chủ. Ph.Ăngghen nêu ra khẩu hiệu chống chế độ phong kiến và những đặc quyền đặc lợi của bọn quý tộc: “Thủ tiêu các đẳng cấp, đấu tranh cho một dân tộc thống nhất gồm những công dân bình đẳng về quyền lợi”.

Trong tác phẩm “Bản thảo góp phần phê phán kinh tế chính trị học”, Ph.Ăngghen đã đứng trên quan điểm của chủ nghĩa xã hội phủ nhận chế độ tư hữu và đi đến kết luận về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mặc dù chưa liên hệ với C.Mác. Sau này V.I.Lênin nhận xét: Chính Ph.Ăngghen đã tạo ra sự kích thích cho C.Mác quyết định bắt tay vào nghiên cứu kinh tế chính trị học - khoa học mà trong đó tác phẩm của C.Mác đã tạo nên cả một cuộc cách mạng và góp phần sáng tạo ra thế giới quan mới.

Phê phán các nhà kinh tế học tư sản, Ph.Ăngghen chú ý nhiều đến việc vạch trần bản chất xấu xa, thù ghét nhân loại trong học thuyết nhân khẩu của Man tuýt. Ông chứng minh tính chất hoàn toàn vô căn cứ của học thuyết phản khoa học, phản động đó và đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của tiến bộ khoa học trong sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Trong bài bình luận viết về cuốn sách của T.Cáclây “Quá khứ và hiện tại” (1843), Ph.Ăngghen đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật để phê phán các quan điểm tôn giáo của T.Các lây và những mưu toan của ông này định tạo nên “sự sùng bái các anh hùng”. Ph.Ăngghen nhấn mạnh vai trò của quần chúng với tư cách là lực lượng duy nhất có thể thực hiện được những tư tưởng tiên tiến.

 Như vậy, từ hai cách tiếp cận khác nhau: C.Mác thì cần phải có triết học để tìm hiểu đời sống, còn Ph.Ăngghen lại từ đời sống thực tế mà cần phải có triết học, song hai ông đều gặp nhau ở một điểm đó là phải kết hợp triết học với đấu tranh chính trị thực tiễn và hành động độc lập, tự do vì hạnh phúc thực sự của con người.

Điểm tựa của nhân dân biên giới.

 Cùng với quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bát Mọt, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Thanh Hóa còn tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Những người lính mang quân hàm xanh giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững, ứng phó khắc phục hậu quả thiên tai. Các anh xứng đáng là điểm tựa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn.

Do có địa hình cao, những ngày đầu tháng 3-2025, khu vực xã biên giới Bát Mọt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa vẫn mây mù bao phủ, thời tiết khá lạnh. Bên ấm trà sáng, Trung tá Lê Anh Sơn, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bát Mọt chia sẻ: “Khu vực biên giới, địa bàn do đơn vị quản lý gần như có mây mù bao phủ quanh năm, quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ gặp phải không ít thách thức. Chúng tôi đã xây dựng sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, gắn bó với chính quyền, nhân dân địa phương luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Đồn Biên phòng Bát Mọt được giao quản lý, bảo vệ đoạn biên giới kéo dài trên 17,492km, gồm 7 mốc quốc giới và phối hợp đảm bảo an ninh trật tự địa bàn xã Bát Mọt với 893 hộ / 4.018 nhân khẩu với nhiều dân tộc cùng sinh sống.

Trên tuyến biên giới do Đồn Biên phòng Bát Mọt quản lý, tiềm ẩn bị các loại tội phạm như ma túy, xuất nhập cảnh trái phép lợi dụng hoạt động phức tạp. Cùng với đó thời tiết rất khắc nghiệt, nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét khi mùa mưa đến, đe dọa đến tính mạng, tài sản của nhân dân. Trước tình hình thực tế, đơn vị Biên phòng đã triển khai nhiều biện pháp, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh trật tự tại địa bàn. Trong đó chú trọng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Đảng ủy Đồn Biên phòng Bát Mọt đang bố trí 1 đồng chí cán bộ tăng cường giữ chức danh Phó bí thư Đảng ủy xã Bát Mọt; 35 đảng viên phụ trách 163 hộ gia đình trên địa bàn. Trên các cương vị, những đảng viên Bộ đội Biên phòng luôn tiên phong giúp dân xóa đói giảm nghèo với nhiều mô hình cách làm thiết thực hiệu quả... Bên cạnh đó, Đồn Biên phòng Bát Mọt đã đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả các chương trình “Xuân Biên phòng, ấm lòng dân bản”, “Tháng Ba biên giới”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Nâng bước em đến trường”. Tính đến tháng 3-2025, đơn vị đang nhận đỡ đầu 8 cháu theo chương trình "Nâng bước em đến trường - Con nuôi đồn Biên phòng" và 18 cháu theo Dự án “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em đến trường”.

Chăm lo cuộc sống, khẳng định lòng tin với đồng bào các dân tộc địa bàn, Đồn Biên phòng Bát Mọt đã huy động sức dân bảo vệ biên giới. Cùng với những hoạt động thường xuyên, hằng năm, trong dịp kỷ niệm Ngày Biên phòng toàn dân và Ngày truyền thống BĐBP (3-3) đơn vị phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức trang trọng, ấm áp với nhiều hoạt động để tri ân nhân dân. Trong ngày hội lớn, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân địa bàn được ôn lại truyền thống chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của lực lượng BĐBP. Cùng với đó, BĐBP và chính quyền địa phương đã biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện “Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”.

Bên cạnh đó, nhiều hoạt động vui chơi, giao lưu văn hóa, thể thao cũng được tổ chức rất sôi nổi, lôi cuốn quân và dân cùng tham gia. Trong những dịp này, BĐBP và chính quyền địa phương thường huy động nguồn lực trao tặng nhiều phần quà thiết thực, ý nghĩa cho các hộ gia đình nghèo, đặc biệt khó khăn, xây dựng các công trình phục vụ dân sinh. Thông qua đó kịp thời động viên, khích lệ gắn kết tình cảm quân dân nơi biên giới. Ông Hà Văn Sáng, bản Đục, xã Bát Mọt chia sẻ: “Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bát Mọt luôn phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương có nhiều cách làm rất thiết thực chăm lo cuộc sống của bà con. Các anh xứng đáng là điểm tựa tin cậy của nhân dân biên giới”.

Nhân tố chủ quan ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Những năm 40 của thế kỷ XIX, lịch sử đã tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho sự ra đời của một lý luận khoa học, đồng thời cũng sản sinh ra những con người vĩ đại có thể giải đáp được những vấn đề mà lịch sử đặt ra. Đó là thiên tài C.Mác và Ph.Ăngghen.

C.Mác sinh ngày 05/5/1818, ở thành phố Tơriơ, nước Phổ (Đức), trong gia đình luật sư Heinrich Mác. Năm 12 tuổi (năm 1830), C.Mác vào học trường trung học ở Tơriơ. C.Mác học giỏi, đặc biệt về toán học và ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. Mùa Thu năm 1835, C.Mác tốt nghiệp trường trung học, sau đó vào học luật ở trường đại học tổng hợp Bon. Hai tháng sau, C.Mác tiếp tục chuyển đến học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. Ở đây, C.Mác vừa học luật, lịch sử, ngoại ngữ và bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa Xuân năm 1837, C.Mác đi sâu nghiên cứu những tác phẩm của Hêghen. Từ năm 1839, ông tập trung nghiên cứu triết học, nhất là những vấn đề lịch sử triết học Cổ đại.

Ngày 15 tháng 4 năm 1841, khi mới 23 tuổi, C.Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrit và triết học tự nhiên của Epicure tại trường Iêna. Lúc này, C.Mác còn theo lập trường chủ nghĩa duy tâm của Hênghen. Ông coi sự phát triển của ý thức con người là động lực phát triển của lịch sử nhân loại. C.Mác viết: “Chủ nghĩa duy tâm không phải là sự sáng tạo đơn thuần của trí tưởng tượng mà là một chân lý”. Nhưng Mác quan tâm đối với các nhà duy vật cổ đại, mối quan hệ giữa con người với môi trường khách quan; thấy khả năng chủ quan của con người đối với tự nhiên; mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu, giữa con người và thế giới tự nhiên, giữa con người và đời sống xã hội. C.Mác cố gắng vượt ra khỏi quan niệm duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ về vấn đề quan hệ của tư duy với hiện thực xung quanh và đã sớm ý thức được rằng, triết học phải đấu tranh chống lại tất cả những vị thần ở trên trời và ở trần thế, phải phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn nhằm giải phóng nhân loại bị áp bức.

Năm 1842, ông làm biên tập viên ở tòa soạn Báo sông Ranh, dưới những đóng góp của ông, tờ báo đã trở thành cơ quan của phái dân chủ cách mạng. Tháng 5 năm 1843, C.Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein và ông đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen.

Lần đầu tiên, C.Mác gặp Ph.Ăngghen vào cuối tháng 11 năm 1842, khi Ph.Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm Ban biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh. Mùa Hè năm 1844, Ph.Ăngghen đến thăm C.Mác ở Pari. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong các vấn đề lý luận và thực tiễn. Đầu năm 1845, theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp đã trục xuất C.Mác. Ngày 03 tháng 02 năm 1845, C.Mác rời Pari đến Brussel, ít lâu sau Ph.Ăngghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng 1848 ở Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ trục xuất C.Mác, Ông lại đến Pari. Tháng 4 năm 1848, C.Mác cùng với Ph.Ăngghen đến Kioln, tại đây C.Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ. Năm 1849, Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C.Mác. Ông quay trở lại đến Pari, nhưng lần này C.Mác chỉ lưu lại ba tháng. Tháng 8 năm 1849, từ Pari C.Mác đi Luân Đôn và sống đến cuối đời (1883). C.Mác qua đời ngày 14 tháng 3 năm 1883 ở Luân Đôn, yên nghỉ tại nghĩa trang Hai ghết, ngoại ô Luân Đôn.

Ph.Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ, Ph.Ăngghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Cho đến năm 14 tuổi, Ph.Ăngghen học ở trường tại thành phố Barmen, sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười năm1834, Ph.Ăngghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ.

Năm 1837, dù chưa tốt nghiệp trung học, nhưng theo yêu cầu của bố, Ph.Ăngghen buộc phải bỏ học tại trường để bắt đầu công việc buôn bán. Tuy vậy, trong thời gian này ông vẫn tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph.Ăngghen đến làm việc tại văn phòng thương mại ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Hêghen.

Tháng 9 năm 1841, Ph.Ăngghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh được huấn luyện quân sự và vẫn nghe các bài giảng triết học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo ở trường Đại học Tổng hợp Berlin, làm quen với những người thuộc phái Hêghen trẻ và đứng vào hàng ngũ của họ.

Cuối năm 1842, sau khi hết nghĩa vụ quân sự, Ph.Ăngghen sang Anh ở Manchextơ, làm công trong một xưởng. Ở đây, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu kinh tế - chính trị học cổ điển Anh, trực tiếp nghiên cứu phong trào công nhân.

Năm 1848, Đại hội II của Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ nhiệm cho C.Mác và Ph.Ăngghen cùng viết Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Tháng 3 năm 1848, cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã soạn thảo ra Những yêu sách của Đảng Cộng sản Đức được Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn những người cộng sản thông qua như là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức. Tháng 4 năm 1848, ông cùng với C.Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức.

Tháng 10 năm1848, ông đi sang Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng ông không được phép cư trú chính trị. Ph.Ăngghen lại đến Pari sau đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này.

Từ tháng 1 năm 1849, ông trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng, vạch ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hành cuộc khởi nghĩa. Tháng 11 năm 1849, Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn những người cộng sản. Tháng 11 năm 1850, Ph.Ăngghen buộc phải chuyển đến Manchester và làm việc ở Văn phòng thương mại để có điều kiện giúp đỡ tài chính cho C.Mác hoạt động cách mạng. Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen tham gia lãnh đạo Quốc tế I. Tháng 9 năm 1870, Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và được tham gia Tổng Hội đồng của Quốc tế I. Ph.Ăngghen kiên trì đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Pruđông, Lassan. Năm 1871, Ph.Ăngghen tổ chức tham gia chiến dịch bảo vệ Công xã Pari. Sau khi C.Mác qua đời (năm 1883), Ph.Ăngghen lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư bản mà C.Mác chưa kịp hoàn thành. Ph.Ăngghen viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những năm cuối đời: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (năm 1884), Lútvích Phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (năm 1888), Biện chứng của tự nhiên (1873- 1883), Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (năm 1894). Đến năm 1895 Ph.Ăngghen qua đời.