Những
năm 40 của thế kỷ XIX, lịch sử đã tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho sự ra đời của một lý luận
khoa học, đồng thời cũng sản sinh ra những con người vĩ đại có thể giải đáp được những vấn đề mà lịch sử đặt ra. Đó là thiên tài C.Mác và Ph.Ăngghen.
C.Mác sinh ngày 05/5/1818, ở thành phố
Tơriơ, nước Phổ (Đức), trong gia đình luật sư Heinrich Mác. Năm 12 tuổi (năm 1830), C.Mác vào học trường trung học ở
Tơriơ. C.Mác học giỏi, đặc biệt về toán học và ở những lĩnh vực đòi hỏi tính
độc lập sáng tạo. Mùa Thu năm 1835, C.Mác tốt nghiệp trường trung học, sau đó
vào học luật ở trường đại học tổng hợp Bon. Hai tháng sau, C.Mác tiếp tục
chuyển đến học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. Ở đây, C.Mác vừa học luật,
lịch sử, ngoại ngữ và bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa Xuân năm 1837,
C.Mác đi sâu nghiên cứu những tác phẩm của Hêghen. Từ năm 1839, ông tập trung nghiên cứu triết học, nhất là những
vấn đề lịch sử triết học Cổ đại.
Ngày 15 tháng 4 năm 1841, khi mới 23 tuổi, C.Mác
nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrit và triết học tự
nhiên của Epicure tại trường Iêna. Lúc này, C.Mác còn theo lập trường chủ nghĩa duy tâm của Hênghen.
Ông coi sự phát triển của ý thức con người là động lực phát triển của lịch sử
nhân loại. C.Mác viết: “Chủ nghĩa duy tâm không phải là sự sáng tạo đơn thuần
của trí tưởng tượng mà là một chân lý”. Nhưng Mác quan tâm đối với các nhà duy
vật cổ đại, mối quan hệ giữa con người với môi trường khách quan; thấy khả năng
chủ quan của con người đối với tự nhiên; mối quan hệ biện chứng giữa tự do và
tất yếu, giữa con người và thế giới tự nhiên, giữa con người và đời sống xã
hội. C.Mác cố gắng vượt ra khỏi quan
niệm duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ về vấn đề quan hệ của tư duy với
hiện thực xung quanh và đã sớm ý thức được rằng, triết học phải đấu tranh chống
lại tất cả những vị thần ở trên trời và ở trần thế, phải phục vụ cho cuộc đấu
tranh chính trị thực tiễn nhằm giải phóng nhân loại bị áp bức.
Năm 1842, ông làm biên tập viên ở tòa soạn Báo sông Ranh, dưới những đóng góp của ông, tờ báo đã trở thành cơ quan
của phái dân chủ cách mạng. Tháng 5 năm 1843, C.Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein và ông
đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen.
Lần đầu tiên, C.Mác gặp Ph.Ăngghen vào cuối tháng 11 năm
1842, khi Ph.Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm Ban biên tập tờ Nhật báo
tỉnh Ranh. Mùa Hè năm 1844, Ph.Ăngghen đến thăm C.Mác ở Pari. Hai ông đã trở
thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong các vấn đề lý luận
và thực tiễn. Đầu năm 1845, theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính
phủ Pháp đã trục xuất C.Mác. Ngày 03 tháng 02 năm 1845, C.Mác rời Pari đến Brussel, ít lâu sau
Ph.Ăngghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau
khi cách mạng 1848 ở Pháp nổ ra,
Chính phủ Bỉ trục xuất C.Mác, Ông lại đến Pari. Tháng 4
năm 1848, C.Mác cùng với Ph.Ăngghen đến Kioln, tại đây C.Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ
quan của phái dân chủ. Năm 1849, Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất
C.Mác. Ông quay trở lại đến Pari,
nhưng lần này C.Mác chỉ lưu lại ba
tháng. Tháng 8 năm 1849, từ Pari C.Mác đi Luân Đôn và sống đến cuối đời (1883).
C.Mác qua đời ngày 14 tháng 3
năm 1883 ở Luân Đôn, yên nghỉ tại nghĩa trang Hai ghết, ngoại ô Luân Đôn.
Ph.Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại
Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ,
Ph.Ăngghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Cho đến năm 14 tuổi, Ph.Ăngghen học ở
trường tại thành phố Barmen, sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười
năm1834, Ph.Ăngghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường
tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ.
Năm 1837, dù chưa tốt nghiệp trung học, nhưng theo
yêu cầu của bố, Ph.Ăngghen buộc phải bỏ học tại trường để bắt đầu công việc
buôn bán. Tuy vậy, trong thời gian này ông vẫn tự học các ngành sử học, triết
học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph.Ăngghen đến làm việc tại
văn phòng thương mại ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu
nghiên cứu các tác phẩm của Hêghen.
Tháng 9 năm 1841, Ph.Ăngghen đến Berlin và gia nhập
binh đoàn pháo binh được huấn luyện quân sự và vẫn nghe các bài giảng triết
học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo ở trường Đại học Tổng hợp Berlin,
làm quen với những người thuộc phái Hêghen trẻ và đứng vào hàng ngũ của họ.
Cuối năm 1842, sau khi hết nghĩa vụ quân sự, Ph.Ăngghen sang Anh ở
Manchextơ, làm công trong một xưởng. Ở đây, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu kinh
tế - chính trị học cổ điển Anh, trực tiếp nghiên cứu phong trào công nhân.
Năm 1848, Đại hội II của Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ
nhiệm cho C.Mác và Ph.Ăngghen cùng viết “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Tháng 3 năm 1848, cùng với C.Mác,
Ph.Ăngghen đã soạn thảo ra “Những yêu sách của Đảng Cộng sản Đức” và được Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn
những người cộng sản thông qua như là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành
động của giai cấp vô sản Đức. Tháng 4 năm 1848, ông cùng với C.Mác trở về Đức
tham gia cuộc cách mạng Đức.
Tháng 10 năm1848, ông đi sang Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng ông không được phép cư
trú chính trị. Ph.Ăngghen lại đến Pari sau đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các
liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này.
Từ tháng 1 năm 1849, ông
trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng, vạch ra một kế hoạch hoạt động quân
sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hành cuộc khởi nghĩa. Tháng 11 năm 1849,
Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn
những người cộng sản. Tháng 11 năm 1850, Ph.Ăngghen buộc phải chuyển đến
Manchester và làm việc ở Văn phòng thương mại để có điều kiện giúp đỡ tài chính
cho C.Mác hoạt động cách mạng. Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen tham gia lãnh đạo
Quốc tế I. Tháng 9 năm 1870, Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và
được tham gia Tổng Hội đồng của Quốc tế I. Ph.Ăngghen kiên trì đấu tranh chống
lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Pruđông, Lassan. Năm 1871,
Ph.Ăngghen tổ chức tham gia chiến dịch bảo vệ Công xã Pari. Sau khi C.Mác qua
đời (năm 1883), Ph.Ăngghen lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở
châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư
bản mà C.Mác chưa kịp hoàn thành. Ph.Ăngghen viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào
những năm cuối đời: Nguồn
gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (năm 1884), Lútvích Phơbách và sự cáo chung của triết học
cổ điển Đức (năm 1888), Biện chứng của tự nhiên (1873- 1883), Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (năm 1894). Đến năm 1895 Ph.Ăngghen qua đời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét