Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Nhân tố chủ quan ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Những năm 40 của thế kỷ XIX, lịch sử đã tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho sự ra đời của một lý luận khoa học, đồng thời cũng sản sinh ra những con người vĩ đại có thể giải đáp được những vấn đề mà lịch sử đặt ra. Đó là thiên tài C.Mác và Ph.Ăngghen.

C.Mác sinh ngày 05/5/1818, ở thành phố Tơriơ, nước Phổ (Đức), trong gia đình luật sư Heinrich Mác. Năm 12 tuổi (năm 1830), C.Mác vào học trường trung học ở Tơriơ. C.Mác học giỏi, đặc biệt về toán học và ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. Mùa Thu năm 1835, C.Mác tốt nghiệp trường trung học, sau đó vào học luật ở trường đại học tổng hợp Bon. Hai tháng sau, C.Mác tiếp tục chuyển đến học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. Ở đây, C.Mác vừa học luật, lịch sử, ngoại ngữ và bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa Xuân năm 1837, C.Mác đi sâu nghiên cứu những tác phẩm của Hêghen. Từ năm 1839, ông tập trung nghiên cứu triết học, nhất là những vấn đề lịch sử triết học Cổ đại.

Ngày 15 tháng 4 năm 1841, khi mới 23 tuổi, C.Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrit và triết học tự nhiên của Epicure tại trường Iêna. Lúc này, C.Mác còn theo lập trường chủ nghĩa duy tâm của Hênghen. Ông coi sự phát triển của ý thức con người là động lực phát triển của lịch sử nhân loại. C.Mác viết: “Chủ nghĩa duy tâm không phải là sự sáng tạo đơn thuần của trí tưởng tượng mà là một chân lý”. Nhưng Mác quan tâm đối với các nhà duy vật cổ đại, mối quan hệ giữa con người với môi trường khách quan; thấy khả năng chủ quan của con người đối với tự nhiên; mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu, giữa con người và thế giới tự nhiên, giữa con người và đời sống xã hội. C.Mác cố gắng vượt ra khỏi quan niệm duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ về vấn đề quan hệ của tư duy với hiện thực xung quanh và đã sớm ý thức được rằng, triết học phải đấu tranh chống lại tất cả những vị thần ở trên trời và ở trần thế, phải phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn nhằm giải phóng nhân loại bị áp bức.

Năm 1842, ông làm biên tập viên ở tòa soạn Báo sông Ranh, dưới những đóng góp của ông, tờ báo đã trở thành cơ quan của phái dân chủ cách mạng. Tháng 5 năm 1843, C.Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein và ông đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen.

Lần đầu tiên, C.Mác gặp Ph.Ăngghen vào cuối tháng 11 năm 1842, khi Ph.Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm Ban biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh. Mùa Hè năm 1844, Ph.Ăngghen đến thăm C.Mác ở Pari. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong các vấn đề lý luận và thực tiễn. Đầu năm 1845, theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp đã trục xuất C.Mác. Ngày 03 tháng 02 năm 1845, C.Mác rời Pari đến Brussel, ít lâu sau Ph.Ăngghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng 1848 ở Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ trục xuất C.Mác, Ông lại đến Pari. Tháng 4 năm 1848, C.Mác cùng với Ph.Ăngghen đến Kioln, tại đây C.Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ. Năm 1849, Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C.Mác. Ông quay trở lại đến Pari, nhưng lần này C.Mác chỉ lưu lại ba tháng. Tháng 8 năm 1849, từ Pari C.Mác đi Luân Đôn và sống đến cuối đời (1883). C.Mác qua đời ngày 14 tháng 3 năm 1883 ở Luân Đôn, yên nghỉ tại nghĩa trang Hai ghết, ngoại ô Luân Đôn.

Ph.Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ, Ph.Ăngghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Cho đến năm 14 tuổi, Ph.Ăngghen học ở trường tại thành phố Barmen, sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười năm1834, Ph.Ăngghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ.

Năm 1837, dù chưa tốt nghiệp trung học, nhưng theo yêu cầu của bố, Ph.Ăngghen buộc phải bỏ học tại trường để bắt đầu công việc buôn bán. Tuy vậy, trong thời gian này ông vẫn tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph.Ăngghen đến làm việc tại văn phòng thương mại ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Hêghen.

Tháng 9 năm 1841, Ph.Ăngghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh được huấn luyện quân sự và vẫn nghe các bài giảng triết học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo ở trường Đại học Tổng hợp Berlin, làm quen với những người thuộc phái Hêghen trẻ và đứng vào hàng ngũ của họ.

Cuối năm 1842, sau khi hết nghĩa vụ quân sự, Ph.Ăngghen sang Anh ở Manchextơ, làm công trong một xưởng. Ở đây, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu kinh tế - chính trị học cổ điển Anh, trực tiếp nghiên cứu phong trào công nhân.

Năm 1848, Đại hội II của Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ nhiệm cho C.Mác và Ph.Ăngghen cùng viết Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Tháng 3 năm 1848, cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã soạn thảo ra Những yêu sách của Đảng Cộng sản Đức được Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn những người cộng sản thông qua như là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức. Tháng 4 năm 1848, ông cùng với C.Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức.

Tháng 10 năm1848, ông đi sang Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng ông không được phép cư trú chính trị. Ph.Ăngghen lại đến Pari sau đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này.

Từ tháng 1 năm 1849, ông trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng, vạch ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hành cuộc khởi nghĩa. Tháng 11 năm 1849, Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn những người cộng sản. Tháng 11 năm 1850, Ph.Ăngghen buộc phải chuyển đến Manchester và làm việc ở Văn phòng thương mại để có điều kiện giúp đỡ tài chính cho C.Mác hoạt động cách mạng. Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen tham gia lãnh đạo Quốc tế I. Tháng 9 năm 1870, Ph.Ăngghen đến Luân Đôn và được tham gia Tổng Hội đồng của Quốc tế I. Ph.Ăngghen kiên trì đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Pruđông, Lassan. Năm 1871, Ph.Ăngghen tổ chức tham gia chiến dịch bảo vệ Công xã Pari. Sau khi C.Mác qua đời (năm 1883), Ph.Ăngghen lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư bản mà C.Mác chưa kịp hoàn thành. Ph.Ăngghen viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những năm cuối đời: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (năm 1884), Lútvích Phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (năm 1888), Biện chứng của tự nhiên (1873- 1883), Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (năm 1894). Đến năm 1895 Ph.Ăngghen qua đời.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét