Thứ Năm, 8 tháng 5, 2025

Minh chứng phản bác luận điệu xuyên tạc về kiều bào ta ở nước ngoài trong dịp đại lễ 30/4

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là nguồn lực quan trọng đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài; kích động chống phá, gây chia rẽ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.

Không khó nhận diện những luận điệu mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong đưa ra nhằm mục đích xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách về người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực trong việc phát huy vai trò, củng cố sức mạnh, tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ở trong nước và ngoài nước. Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước thường sử dụng nhiều thủ đoạn thông qua các trang web, tài khoản Facebook, YouTube, Twitter, TikTok, Zalo… tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham vọng định hướng chính trị”; “cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại hải ngoại”… Bên cạnh đó, chúng tiếp tục tuyên truyền, xuyên tạc ý nghĩa, bản chất cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam, đưa ra những luận điệu kích động đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như cổ súy ngày 30/4/1975 là “ngày quốc hận”; rêu rao việc Việt Nam tổ chức đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là “tốn kém, lãng phí, phản cảm”; đưa ra các bài viết, phỏng vấn để “khuyên” Việt Nam coi ngày đại thắng của dân tộc “không nên nói về người thắng, kẻ thua”. Lợi dụng việc Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, các thế lực phản động và cơ hội chính trị lu loa rằng, việc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ là “không cần thiết” hoặc “hoàn toàn vô nghĩa”!

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối ở trong nước tuy không mới nhưng việc lặp đi lặp lại sẽ tạo ra những hệ lụy xấu, không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của đất nước trên trường quốc tế mà còn có thể xâm hại đến an ninh quốc gia. Đồng thời, các thế lực xấu không ngừng bôi nhọ, mỉa mai nhằm làm giảm niềm tin từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài đối với Đảng, Nhà nước, từ đó hòng gây cản trở, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các đối tượng tung ra những luận điệu nhằm kích động tư tưởng chống phá, hoài nghi với chế độ như miệt thị rằng, đất nước tự hào với giải phóng, thống nhất đất nước sao hàng triệu người “bỏ ra nước ngoài”, xuyên tạc chính sách xuất khẩu lao động, vu cáo việc người Việt Nam ra nước ngoài lao động, học tập là “không chịu nổi hoàn cảnh ở trong nước”, “giải phóng cũng như không”… Xuyên tạc Đảng, Nhà nước “bỏ rơi”, “khinh rẻ” người Việt ở nước ngoài, chỉ “muốn lấy tiền của kiều bào chứ không coi trọng gì”…

Đảng và Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời, một nguồn lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Công tác vận động đối với người Việt Nam ở nước ngoài luôn được xác định là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống công tác dân vận của Đảng và Nhà nước phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Những đóng góp to lớn, không tiếc máu xương, sẵn sàng từ bỏ cuộc sống đủ đầy ở nước ngoài để về đồng cam cộng khổ với đồng bào ở trong nước trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây là minh chứng rõ nét cho lòng yêu nước nồng nàn của kiều bào. 

Dù sống ở nước ngoài nhưng trái tim, khối óc và dòng máu Lạc Hồng của người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng gắn bó và hướng về quê hương, thật sự trở thành một bộ phận không tách rời và một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội nhập của đất nước. 

Sưu tầm

Hiểu đúng một giai đoạn lịch sử

Người Việt Nam di cư sang Hoa Kỳ có thể chia thành ba đợt, bắt đầu lần đầu tiên vào năm 1975, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ dẫn đến việc sơ tán do Hoa Kỳ bảo trợ của khoảng 125.000 người Việt Nam, chủ yếu là số người làm việc cho chế độ cũ và thân nhân của họ. Trong cuối những năm 1970, làn sóng thứ hai của người Việt di cư vào Hoa Kỳđược gọi là nhóm di cư “thuyền nhân”. Đợt thứ ba di cư vào Hoa Kỳ trong suốt những năm 1980 đến 1990. 

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ là một trong những cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài, vớihơn 2 triệu người Việtsinh sống và làm việc trên khắp nước Mỹ. Việc người Việt di cư sang Mỹ giai đoạn trước, sau 30/4/1975 do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân đầu tiên phải kể đến chính là hệ quả của chính sách tuyên truyền của chính quyền Sài Gòn cũ khi liên tiếp dội vào những người lính và người dân về nạn “tắm máu” khi chính quyền Sài Gòn sụp đổí.

Lo lắng điều này, nhiều người vội vàng di tản khỏi Sài Gòn trước 30/4/1975 cùng thân nhân của họ. Một bộ phận khác sau thời điểm trên cũng tìm cách bán, sang tên nhà cửa, tài sản để di tản. Cùng với đó, nhiều người dân thành thị có điều kiện kinh tế khá giả, họ cũng tìm cách sang Mỹ với hy vọng có điều kiện làm ăn hơn. Nhiều người khác đời sống khó khăn, do có người thân, bạn bè vận động, rủ rê cũng ra đi… Điều kiện đó diễn ra khi viễn cảnh nhiều người Việt sang Mỹ định cư sau 30/4/1075 đời sống khá giả đã tác động đến tâm lý, tư tưởng người ở lại, họ cũng muốn di cư tìm kiếm đời sống kinh tế tốt hơn. Một mặt, khi đó mặc dù chúng ta đã đề cập đến vấn đề hòa hợp dân tộc nhưng với tâm lý vẻ vang sau chiến thắng, chúng ta chưa thực sự làm tốt các giải pháp này một cách thực chất. Với số người làm việc cho chế độ cũ và người thân của họ, tâm lý “bên thua cuộc” khi đó còn nặng nề, lại bị tác động luận điệu tuyên truyền “tắm máu” trước đó và sự rủ rê ở bên ngoài nên nhiều người di tản cũng là dễ hiểu… 

Những diễn biến đó là một thực tế của lịch sử và hoàn toàn lý giải được trong bối cảnh lúc bấy giờ – đất nước vừa ra khỏi chiến tranh với bộn bề công việc tái thiết, ngổn ngang gian khó, lại bị bao vây cấm vận. Vì vậy, cần hiểu hoàn cảnh đó để chia sẻ với Đảng, Nhà nước trong giai đoạn lịch sử chứ không thể lấy thực trạng di cư như vậy để phán xét, quy chụp bôi nhọ. Trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, nhóm chống đối ở hải ngoại tiếp tục phê phán việc Nhà nước Việt Nam tổ chức diễu binh, diễu hành, cho rằng cần lựa chọn “cách im lặng” mới là giải pháp để hòa giải, hòa hợp. Một số người Việt tại Mỹ vẫn tái diễn điệp khúc “50 năm, triệu mảnh đời biệt xứ; 50 năm là 50 mùa quốc hận, đất nước còn quằn quại dưới cùm gông”… Họ lu loa rằng, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, thống nhất đất nước nhưng không thống nhất được lòng dân vì lãnh đạo không làm chuyện nhân nghĩa mà ngược lại chỉ làm chuyện bất nghĩa”; mỉa mai “diễu binh xong rồi, ăn mừng xong rồi, giờ đối diện với thực tế kinh tế chông chênh, biển đảo bị mất, luật pháp tệ hại…”.

Một số nhóm nhỏ người Việt tại California (Mỹ) tụ tập dưới biểu ngữ “tưởng niệm ngày quốc hận”, nghe “diễn văn tưởng niệm” với lời lẽ nặng sự hận thù. Đây là hành động có tính thường niên của bộ phận người Việt rời đất nước sau 30/4/1975, tới nay vẫn ôm chặt tư tưởng thù hận, chống đối đất nước. Họ được cổ súy bởi những mắt xích vốn là người Việt cực đoan, số này lĩnh ấn tiên phong trong việc hô hào, kêu gọi tụ tập, tuần hành và các hành động thành lập, tham gia các tổ chức phản động tại hải ngoại. 

Chúng tôi nghĩ rằng, nếu những luận điệu trên diễn ra cách đây mấy chục năm, dẫu biết như thế là sai lạc thì phần nào đó có thể hiểu được với tâm lý của những người rời đất nước ra hải ngoại, khi mà trạng thái hận thù sau chiến tranh vẫn còn nặng nề. Nhưng bây giờ, 50 năm với một đời người là quãng thời gian dài, rất dài, đủ làm thay đổi những nhận thức, tư duy.

Với bối cảnh mới, tại sao hiềm khích, hận thù vẫn còn, thậm chí vẫn dai dẳng trong một bộ phận người Việt ở hải ngoại? Tại sao chúng ta cùng đất mẹ, bầu bí một giàn lại chưa thể hòa hợp, lại mãi điệp khúc nguyền rủa quê hương? Nguyên nhân do đâu và làm thế nào để hòa hợp dân tộc là vấn đề không mới, đã được bàn luận nhiều. Điều quan trọng là phải gỡ bỏ định kiến, đưa đến cách nhìn khách quan cả trong quá khứ và hiện tại để thiện chí hướng đến ngày mai vì một quê hương thanh bình, ổn định và phát triển. 

Sưu tầm

Không thể đánh lận bản chất, xuyên tạc ý nghĩa Chiến thắng 30/4/1975

Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là sự kiện lịch sử trọng đại mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Đây là kết quả tất yếu của một hành trình dài đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và các thế lực tay sai, vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. sau 50 năm giải phóng, vẫn tồn tại những luận điệu xuyên tạc, cố tình gọi cuộc chiến vệ quốc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, đưa ra những quy kết sai trái về Ngày Giải phóng 30/4 nhằm bôi nhọ lịch sử, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vẫn luôn tái diễn.

 Chính những người bên kia chiến tuyến, trong đó ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng, Cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã nói thật về thân phận nô lệ của chính quyền Sài Gòn: “Việt cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Trả lời trong cuộc phỏng vấn Báo Thanh Niên, số Xuân Ất Dậu (năm 2005), ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cho biết: “Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”.

Về bản chất của chính quyền Sài Gòn cần phải được nhìn nhận một cách khách quan. Đây không phải là một chính quyền dân tộc chân chính mà thực chất chỉ là bộ máy cai trị do Mỹ dựng lên, tồn tại hoàn toàn nhờ vào súng đạn và USD của Mỹ. Từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu, tất cả các đời tổng thống Sài Gòn đều do Washington chỉ định và bảo trợ. Trong khi đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính cho nhân dân miền Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, thể hiện qua các phong trào như Đồng khởi Bến Tre (1960), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam cũng như sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh vệ quốc chống các thế lực xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chỉ hơn 1 tháng sau thất bại ở Việt Nam, trên tờ “Sao và vạch” (Stars and Stripes), ngày 14/5/1975, Maxwell D. Taylor, Đại tướng quân đội, từng là Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đã thừa nhận rằng: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này…”. Còn ông Henry Kissinger, người được đánh giá là một trong những “bộ óc” thông thái nhất trong lịch sử nước Mỹ, từng là Ngoại trưởng, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ từng thốt lên rằng “không thể giải thích nổi cái gì đó đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy”!

Việc cố tình gọi Chiến thắng 30/4 là kết quả của “nội chiến” thực chất là một thủ đoạn chính trị tinh vi nhằm phủ nhận thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam, xóa nhòa công lao lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là thủ đoạn để các thế lực thù địch gieo rắc sự hoài nghi, làm suy yếu sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Nhắc lại những điều trên không phải là để xới lại quá khứ đau thương mà để chúng ta thấy rõ tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào ta phải hi sinh biết bao máu xương mới giành được. Đó là sự thật khách quan, không thể vì bất cứ lý do gì đánh lận bản chất, xuyên tạc lịch sử. Chúng ta cũng hiểu rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, thông điệp hôm nay là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình, ổn định và phát triển. 

Sưu tầm

50 năm - vẫn những luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Tháng Tư lịch sử, cả dân tộc Việt Nam đang cùng sống lại những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng triệu trái tim rung động khoảnh khắc thống nhất non sông của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi mang tầm vóc quân sự vĩ đại, là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất và khát vọng cháy bỏng về tự do, hòa bình của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, đi ngược lại với sự thật và chính nghĩa, các luận điệu trên nhiều phương tiện truyền thông vẫn không ngừng rêu rao, “bẻ lái” bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến thắng 30/4. Gần đây, họ tiếp tục tung ra những luận điệu xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền; rằngcuộc chiến tranh này “hoàn toàn vô nghĩa”,“đáng lý đã không xảy ra, nó có thể tránh được”. Tráo trở hơn, họ đổ lỗi trách nhiệm thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam đã “đẩy người dân vô tội vào cuộc chiến đẫm máu, đau thương”; quy kết vì miền Bắc cộng sản “xâm lược miền Nam” nên Mỹ phải “có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình”; xuyên tạc “Tháng Tư đen”, ngày 30/4 là ngày “quốc hận”.

Những luận điệu công kích đó không mới, được lặp lại hằng năm, nhưng được làm nóng ở phương thức thể hiện, thông qua những chiêu trò như hội nghị, hội luận trực tuyến, thảo luận bàn tròn, phỏng vấn, ghi hình… một cách thô thiển, sau đó gán ghép, đưa ra những phát biểu, những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử. Không chỉ đơn thuần để xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của chiến thắng, các đối tượng còn hướng lái, quy kết “trách nhiệm” chống phá sự lãnh đạo của Đảng, gieo rắc hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ người Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài, hạ uy tín, phá hoại các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam nói chung, mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nói riêng. Những luận điệu đó đã xuyên tạc, bôi đen sự thật lịch sử.

Các đối tượng còn xuyên tạc Chiến thắng 30/4 là “Ngày quốc hận”, “Tháng Tư đen”, vu cáo Việt Nam cộng sản đã “xử thẳng tay với người Việt”, buộc hàng triệu người phải vượt biển ra đi, hàng nghìn người bỏ mạng… Thế nhưng, sự thật là: Trong những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến, phía Quân Giải phóng đã để cho các máy bay địch, binh tướng Việt Nam Cộng hòa, người dân di tản khỏi miền Nam Việt Nam.

Những ngày qua, một nhóm đối tượng đăng tin phê phán Đảng, Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm trang trọng, tốn kém trong khi người dân, doanh dân “sắp sạt nghiệp hàng loạt vì Mỹ áp thuế cao”. Các đối tượng kêu gọi “dừng các hoạt động chào mừng, kỷ niệm”, cho rằng những hoạt động như mít tinh, gặp mặt, treo cờ, băng rôn, ca múa nhạc, các lực lượng vũ trang kéo về miền Nam duyệt binh là “rầm rộ không cần thiết”. Đó là suy nghĩ sai trái của những quan điểm cố tình đánh tráo bản chất cuộc kháng chiến, hạ thấp giá trị, ý nghĩa lịch sử  để xuyên tạc Chiến thắng 30/4 cũng như các hoạt động chào mừng, kỷ niệm. 

“Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”, lịch sử đã trôi qua nhưng ý nghĩa vẫn vẹn nguyên, sâu sắc với hiện tại và tương lai. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của ngày lễ lớn, đặc biệt dịp kỷ niệm chẵn 50 năm, đặt trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hơn bao giờ hết cần sức mạnh đồng lòng của toàn dân, do đó Đảng, Nhà nước đã chủ trương tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025), là dịp làm sâu sắc hơn các giá trị lịch sử và truyền thống, giáo dục lý tưởng cách mạng, hun đúc ý chí tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần đoàn kết. Vì vậy, cán bộ, đảng viên, nhân dân hoàn toàn tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng, đồng tình, đồng sức, đồng lòng hợp thành nguồn sức mạnh to lớn xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, không ngừng nâng cao tinh thần cảnh giác, phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không để chúng có cơ hội chia rẽ khối đại đoàn kết vốn mạnh mẽ như khí thế của toàn Đảng, toàn quân trong đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Sưu tầm

50 năm, nghĩ về “ngón vắn, ngón dài” trong một bàn tay

Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Bắc Nam thống nhất, non sông liền một dải, người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước vẫn luôn đoàn kết chung lòng dựng xây quê hương, đất nước. Dẫu vậy, một số người trước đây từng “bên kia chiến tuyến”, rời đất nước sau giải phóng, đến nay họ vẫn định kiến, giữ cách nhìn tiêu cực, thù hận về quê hương, cho rằng “bị phân biệt đối xử” nên không có khái niệm hòa hợp…

50 năm trong dòng chảy lịch sử chưa phải là quãng thời gian quá dài nhưng với một dân tộc, chừng đó đủ để đánh giá, nhìn nhận về các chặng đường, các mốc hoạch định chiến lược, đủ để thực hiện những lộ trình phát triển. 50 với một đời người lại là quãng thời gian dài, rất dài. Nhưng sau 50 năm, nếu một tư duy, một định kiến cho đến bây giờ vẫn không thay đổi, vẫn mang sự thù hận, nguyền rủa mảnh đất đã sinh ra mình chỉ vì ngày trước khác biệt tư duy vì “bên này, bên kia” chiến tuyến, thì đó là tư duy bảo thủ, cố chấp, là cách họ tự tách mình ra khỏi dòng chảy thời cuộc.

Thật đáng tiếc khi cho đến lúc này, đất nước đã giải phóng được nửa thế kỷ, đồng bào chung sức, chung lòng xây dựng từ đống đổ nát sau chiến tranh, từ đói kém và lạc hậu, tới nay đã tạo một Việt Nam với vị thế, hình ảnh mới trên bản đồ khu vực và thế giới thì một số người vẫn mang nặng tư duy thù hận năm xưa, vẫn có cái nhìn ác cảm, tiêu cực về quê hương, đất nước. 

Những ngày qua, trong khi đồng bào dù ở trong hay ngoài nước đều một lòng hướng về Tổ quốc, bằng những hoạt động khác nhau kỷ niệm ngày Bắc Nam thống nhất, núi sông liền một dải thì một bộ phận người Việt định cư tại Mỹ và một số nơi khác lại tiếp tục điệp khúc chống đối cực đoan, xới lại sự hận thù. Trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, nhóm chống đối ở hải ngoại tiếp tục phê phán việc Nhà nước Việt Nam tổ chức diễu binh, diễu hành, cho rằng cần lựa chọn “cách im lặng” mới là giải pháp để hòa giải, hòa hợp. Một số người Việt tại Mỹ vẫn tái diễn điệp khúc “50 năm, triệu mảnh đời biệt xứ; 50 năm là 50 mùa quốc hận, đất nước còn quằn quại dưới cùm gông”… Họ lu loa rằng, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, thống nhất đất nước nhưng không thống nhất được lòng dân vì lãnh đạo không làm chuyện nhân nghĩa mà ngược lại chỉ làm chuyện bất nghĩa”; mỉa mai “diễu binh xong rồi, ăn mừng xong rồi, giờ đối diện với thực tế kinh tế chông chênh, biển đảo bị mất, luật pháp tệ hại…”. Một số đối tượng lợi dụng vụ nổ súng liên quan người cha của cháu bé bị tai nạn giao thông ở Vĩnh Long (hiện cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra lại; Bộ Công an chỉ đạo Công an Vĩnh Long khẩn trương rà soát, xử lý nghiêm sai phạm nếu có) để bôi lem, quy chụp lên niềm tự hào trong lễ diễu binh, diễu hành, miệt thị “sự thối nát của hệ thống pháp luật”! 

Trang Việt Tân lại giở trò “hội luận về biến cố 30/4 trong ký ức ba thế hệ”, trực tuyến trên mạng xã hội vào sáng 3/5/2025. Với “khách mời” là những người có lịch sử chống phá Việt Nam, số này đã mượn diễn đàn hội luận để mỉa mai về lễ diễu binh, diễu hành, miệt thị các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tái diễn luận điệu coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là “nội chiến, huynh đệ tương tàn”… 

Một số nhóm nhỏ người Việt tại California (Mỹ) tụ tập dưới biểu ngữ “tưởng niệm ngày quốc hận”, nghe “diễn văn tưởng niệm” với lời lẽ nặng sự hận thù. Đây là hành động có tính thường niên của bộ phận người Việt rời đất nước sau 30/4/1975, tới nay vẫn ôm chặt tư tưởng thù hận, chống đối đất nước. Họ được cổ súy bởi những mắt xích vốn là người Việt cực đoan, số này lĩnh ấn tiên phong trong việc hô hào, kêu gọi tụ tập, tuần hành và các hành động thành lập, tham gia các tổ chức phản động tại hải ngoại. Cũng vì sự vận động của số chống đối này mà tháng 8/2009, tại thành phố Westminster, họ thông qua cái gọi là “nghị quyết 4257” về việc coi ngày thứ bảy cuối cùng mỗi tháng tư là “Ngày Thuyền nhân Việt Nam”. Ở cấp tiểu bang California thì đưa ra cái gọi là “Nghị quyết ACR-40”, công bố tháng tư là tháng của người Mỹ gốc Việt với 6 điểm, trong đó tung hô những khẩu hiệu như “nỗ lực tranh đấu vì lý tưởng tự do”, coi lá cờ vàng ba sọc đỏ là “biểu tượng của người Mỹ gốc Việt”; lấy tuần lễ từ 24 đến 30/4 hằng năm là “tuần tưởng niệm tháng tư đen, ngày quốc hận”… 

Với luận điệu kích động đó, các đối tượng xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “không mang lại sự hòa hợp dân tộc mà phát động các cuộc trả thù tàn bạo”, “không mang lại dân chủ mà áp đặt xã hội dưới chế độ độc tài”, “không giải phóng con người mà xiềng xích cả nước bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch và sự sợ hãi”… Đáng nói, dù được hô hào trước đó nhiều ngày thì thực tế số lượng người tụ tập với lời lẽ kích động trên chỉ lèo tèo, họ cố kéo theo cả phụ nữ, trẻ em để “tạo khí thế”. Điều đó cho thấy, số người bị dụ dỗ, kích động chống phá tại hải ngoại đang ngày càng thưa vắng, dù những thành phần cốt cán bằng nhiều cách kêu gọi tụ tập trên mạng xã hội. 

30/4 đã là ngày đại lễ của cộng đồng người Việt Nam ở bất cứ nơi đâu, ngày đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc, cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, đưa giang sơn thu về một mối.  Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Sau 50 năm, Việt-Mỹ từ hai bên chiến tuyến, từ đối đầu, đối súng đã trở thành đối tác, bình thường hóa quan hệ từ 1995 và tới nay đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.

Nửa thế kỷ đi qua, những người lính từng theo Mỹ, đứng “bên kia” chiến tuyến, giờ cũng đã ở sườn núi của cuộc đời hoặc khuất núi theo quy luật tự nhiên. Chừng đó thời gian là thêm một, hai thế hệ nữa sinh ra, trưởng thành, đủ để nhận thức về cuộc sống, chứng kiến những đổi thay của quê hương, của quan hệ Việt – Mỹ trong giai đoạn mới, đủ trải nghiệm, hiểu biết về quá khứ và hiện tại, về những điều nên làm và không nên làm.

Sưu tầm

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

Tính tất yếu khách quan giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Xuất phát từ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, một số đảng cộng sản không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức không đúng về vấn đề dân tộc, có biểu hiện chủ quan, nóng vội, áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cho các dân tộc mà không tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và những đặc thù về tâm lý, văn hóa dân tộc. Mặt khác, một số nhà nước đề cao chủ nghĩa dân tộc trong cuộc đối đầu ý thức hệ với chủ nghĩa tư bản, có tư tưởng dân tộc nước lớn làm cho quan hệ dân tộc diễn ra theo chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng đến đoàn kết giữa các dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ những tác động tiêu cực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thế giới đến các dân tộc: Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển tác động mạnh mẽ đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa đến một hệ quả chinh trị - xã hội với cả những thuận lợi, cơ hội, phát triển và khó khăn, suy thoái, thách thức. Trong xu thế toàn cầu hoá, tác động mạnh mẽ đến quan hệ dân tộc, làm cho các dân tộc tộc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Toàn cầu hóa xóa nhòa ranh giới giữa các dân tộc, xuất hiện tư tưởng coi “cái toàn cầu” cao hơn chủ quyền quốc gia dân tộc, làm cho các dân tộc nhỏ có nguy cơ bị tụt hậu, không có cơ hội tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, mất chủ quyền, lợi ích bị xâm hại, ảnh hưởng đến sự ổn định của dân tộc và nền hòa bình của đất nước, đe dọa đến lợi ích của các dân tộc, thổi bùng ngọn lửa xung đột, tranh chấp tài nguyên, lãnh thổ và bảo vệ các giá trị văn hóa.

Xuất phát từ những mâu thuẫn, vướng mắc giữa các dân tộc do lịch sử để lại: Mâu thuẫn lợi ích tộc người, dân tộc về lãnh thổ, tài nguyên, chính trị, kinh tế và giải quyết không đúng đắn quá trình tộc người, duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa các dân tộc, tộc người; không có chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc ít người, đồng hóa cưỡng bức, dung túng cho chủ nghĩa dân tộc, dùng bạo lực đàn áp các tộc người để áp đặt quan điểm, chính sách của nhà cầm quyền làm cho xung đột giữa các dân tộc ngày càng tăng lên. Các mâu thuẫn đó lại bị các thế lực chính trị lợi dụng khoét sâu, kích động làm cho mối quan hệ dân tộc càng phức tạp thêm.

Xuất phát từ sự thức tỉnh ý thức tự giác tộc người, dân tộc trong quá trình phát triển: Ý thức tộc người, dân tộc được thức tỉnh và đi đến đấu tranh đòi các quyền dân tộc, đề cao độc lập tự chủ, tự quyết, tự cường, chống lại sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài. Đây là một xu thế trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia dân tộc hiện nay. Như Đảng ta nhận định: “Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình”[1].

Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong giải quyết vấn đề dân tộc: Chủ nghĩa đế quốc với nhiều âm mưu thủ đoạn để áp bức, bóc lột và nô dịch các dân tộc, chia rẽ, lợi dụng, kích động mâu thuẫn dân tộc để chống phá cách mạng, hoặc lấy đó làm mục tiêu, vũ khí gây mất ổn định, kiềm chế sự phát triển, đồng thời bằng các phương thức khác nhau lôi kéo và ép buộc các dân tộc chậm phát triển chịu sự chi phối và lệ thuộc vào chúng. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, lợi dụng những sai lầm của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, chúng đã kích động và hỗ trợ cho các thế lực dân tộc cực đoan gây nên sự chia rẽ, kỳ thị dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 65.

Xu hướng phát triển của dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Dân tộc (tộc người): Là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, có chung một nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Dân tộc - tộc người thường được nhận biết qua những đặc trưng chủ yếu như: Các thành viên trong cùng một dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ); có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa; có chung một ý thức tự giác dân tộc được biểu hiện cao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Trên thực tế, có tộc người có đủ các đặc trưng trên, nhưng có tộc người không còn đủ các đặc trưng, trong trường hợp đó, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí nhận biết còn lại cuối cùng của dân tộc.

Dân tộc (quốc gia dân tộc): Là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, chung một ngôn ngữ và một nền văn hóa. Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng sau: Có một lãnh thổ chung, được phân định bằng đường biên giới giữa các quốc gia, mà trên lãnh thổ đó có một hay nhiều tộc người cùng sinh sống; có đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung thống nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết bền chặt của quốc gia dân tộc; có một ngôn ngữ giao tiếp chung, trong quốc gia dân tộc - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số được chọn làm ngôn ngữ chung trong giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là yếu tố cơ bản đối với các quốc gia dân tộc; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác, đây là đặc trưng quan trọng quy định bản chất chính trị và sự phát triển của quốc gia dân tộc.

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:

Xu hướng thứ nhất, các dân tộc tách ra để trở thành các dân tộc độc lập, các cộng đồng dân cư tách ra để xác lập cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành các quốc gia độc lập mà ở đó, mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản như: Phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.

Xu hướng thứ hai, liên hiệp lại với nhau giữa các dân tộc, đó là xu hướng các tộc người trong cùng một quốc gia hoặc nhiều dân tộc ở các quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này do nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, giao lưu kinh tế, văn hoá và xu thế toàn cầu hoá. Xu hướng này tác động mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Trong thời đại hiện nay, hai xu hướng của sự phát triển dân tộc được biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên phạm vi toàn thế giới:  

Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc (tộc người), hai xu hướng này phát huy tác dụng cùng chiều, bổ sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng tộc người và trong cả cộng đồng dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái và những đặc thù của dân tộc. Ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tinh hoa, bản sắc dân tộc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi…

Xét trên phạm vi thế giới, hai xu hướng này biểu hiện nổi bật ở phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nô dịch đòi giành lấy quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Thời đại ngày nay, còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để hợp thành một quốc gia thống nhất. Các dân tộc có lợi ích chung mang tính khu vực dựa trên những yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về mặt văn hoá…đều có nhu cầu nguyện vọng liên kết với nhau để phát triển.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa là loại hình dân tộc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc xã hội chủ nghĩa mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của dân tộc nói chung. Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa còn có những đặc điểm riêng: Có nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu; giai cấp công nhân là người đại diện, nhân dân lao động làm chủ. Cơ cấu xã hội - giai cấp dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ bình đẳng, không có bóc lột, lợi ích dân tộc gắn liền lợi ích giai cấp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất đa dạng, kết hợp truyền thống với hiện đại.

Thực chất của vấn đề dân tộc là sự mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong nội bộ tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc, giữa các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc: Quyền được tồn tại với tính cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hoá....Giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và nô dịch, góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

Vai trò, trách nhiệm người cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam trong liên minh giai cấp.

 

Thường xuyên quán triệt, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, xây dựng mối đoàn kết nhất trí cao để tạo ra sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tốt chính sách đối với  mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhất là những cán bộ, chiến sĩ là con em đồng bào các dân tộc thiểu số và đội ngũ công nhân quốc phòng; thực hiện tốt các liên kết, hợp đồng giữa các doanh nghiệp quân đội với các doanh nghiệp bên ngoài với nông dân và trí thức.

Phát huy tinh thần, trách nhiệm, gương mẫu trong học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ hiểu biết lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, nhất là nguyên lý lý luận về liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Qua đó quán triệt sâu sắc và vận dụng vào lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức cho đơn vị thực hiện thắng lợi mọi đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của quân đội của đơn vị nhất là tham gia xây dựng khối liên minh giai cấp hiện nay.

Thường xuyên rèn luyện kỹ, phương pháp tư duy, nghiên cứu khoa học, phương pháp quán triệt, vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ ở đơn vị. Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tiến hành tốt công tác tuyên truyền giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc phối kết hợp với cấu ủy, chính quyền các ban, ngành, đoàn thể địa phương để làm tốt công tác dân vận, xây dựng mối đoàn kết gắn bó chặt chẽ quân dân.

 


Tính chất của thời đại hiện nay

 

 


Tính chất cơ bản của thời đại hiện nay là tính chất quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Đó là sự tồn tại đồng thời, đan xen và không ngừng phủ định lẫn nhau giữa hai kiểu chế độ xã hội hoàn toàn đối lập nhau về bản chất, đấu tranh gay gắt với nhau. Trong thời đại hiện nay, xu thế phát triển khách quan là quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng không phải là sự quá độ “tự nhiên”, thẳng tắp, trơn tru mà là sự quá độ bằng những con đường và phương thức khác nhau thông qua sự tác động biện chứng phức tạp của các nhân tố khách quan, chủ quan trong giải quyết các mâu thuẫn của thời đại.

Sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng đấu tranh giai cấp, chứ không thể bằng cải lương, hòa bình chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản, dù đã bộc lộ rõ bản chất phản động nhưng không dễ bị đánh bại và xóa bỏ. Chúng tìm cách mở rộng dư địa tồn tại bằng sự điều chỉnh và thích nghi nhằm xoa dịu các mâu thuẫn nội tại. Trong khi đó, quá trình xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa - là một con đường mới mẻ, vừa đi vừa tìm tòi, thử nghiệm nên không tránh khỏi những sai lầm, thất bại. Điều đó làm cho tính chất quá độ của thời đại ngày càng được bộc lộ rõ. Tuy nhiên, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thời đại hiện nay đang diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, phức tạp giải quyết vấn đề ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Mặc dù cuối thế kỷ XX đã xảy ra cuộc khủng hoảng và thoái trào của chủ nghĩa xã hội, nhưng tính chất căn bản của thời đại hiện nay vẫn là quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một số nước xã hội chủ nghĩa lâm vào trì trệ, khủng hoảng do những yếu kém, khuyết điểm kéo dài. Nhưng, đó không phải là bản chất của chủ nghĩa xã hội. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế khách quan tất yếu của lịch sử xã hội loài người.

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong quản lý xã hội

 


Sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đòi hỏi phải không ngừng tăng cường quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội. Đây chính là một động lực mạnh mẽ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diên, “mẫu mực, tiêu biểu”, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của Quân đội thời kỳ mới. Hiện nay, để phát huy vai trò, trách nhiệm người cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội cần chú trọng tập trung thực hiện có hiệu quả một số nội dung, biện pháp trọng tâm sau đây:

Thường xuyên tích cực, tự giác học tập, nghiên cứu, nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý xã hội. Không ngừng nâng cao nhận thức về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của quản lý xã hội nói chung, quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng. Nắm vững bản chất, nguyên tắc quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào Quân đội, nhất là về nội dung quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Ra sức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động cán bộ, chiến sĩ, đồng chí, đồng đội và nhân dân chấp hành nghiêm mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ, đồng chí, đồng đội chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị. Thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân. Đồng thời, kiên quyết chống các biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tích cực tham mưu, giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây các tổ chức đoàn thể vững mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tích cực tham gia xây dựng, củng cố các mối quan hệ xã hội, các phong trào thi đua ở địa phương, nhất là trong tham gia thực hiện công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, phối hợp giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ; chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ, phát huy vai trò của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn,... làm nòng cốt xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương.

Tích cực tham gia xây dựng các tổ chức trong đơn vị vững mạnh, thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và mọi quân nhân có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phát huy hiệu lực chỉ huy, quản lý của người chỉ huy; phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính trị các cấp; vai trò của các tổ chức quần chúng trong quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội. Thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm các quyền dân chủ về chính trị, kinh tế, quân sự của cán bộ, chiến sĩ, các quyền lợi, nghĩa vụ của quân nhân. Thực hiện tốt chế độ tập trung thống nhất và kỷ luật trong Quân đội. Hoàn thiện hệ thống các chế độ, quy định về tăng cường kỷ luật Quân đội; bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ tuân thủ pháp luật, điều lệnh, chế độ quy định và thực hành đúng quyền dân chủ. Đề cao trách nhiệm của mọi quân nhân trong thực hiện dân chủ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần trong đơn vị.

Kiên quyết đấu tranh phòng, chống những nhận thức, hành vi vi phạm quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội. Tập trung đấu tranh phê phán các tư tưởng tự do, tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật, dân chủ quá trớn, vi phạm pháp luật, điều lệnh và chế độ quy định của Quân đội và đơn vị. Kiên quyết khắc phục và xóa bỏ tận gốc những biểu hiện quân phiệt, gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, đấu tranh với mọi hiện tượng tham nhũng, lãng phí, xâm phạm đến lợi ích của đơn vị và quân nhân. Tích cực tham gia đấu tranh phê phán các quan điểm phản động, sai trái, đòi “phi chính trị hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Tập trung xây dựng đời sống và môi trường dân chủ, nâng cao trình độ văn hóa dân chủ, ý thức, thói quen, nếp sống phát huy dân chủ và chấp hành kỷ luật của mọi quân nhân.

Nội dung thời đại hiện nay


Đề cập đến nội dung thời đại, V.I.Lênin chỉ rõ, khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc thì thời đại lúc đó là thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản. Sau thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin đã chỉ rõ về nội dung của thời đại hiện nay. Những đảo lộn to lớn xảy ra trên thế giới những năm qua không thể phủ nhận được sự thật lịch sử mà V.I. Lênin vạch ra ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 - mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung của thời đại mới là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập những cơ sở của xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Quan điểm về thời đại hiện nay của V.I.Lênin được nhấn mạnh lại trong “Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa tháng 11-1957”, được bổ sung, làm rõ thêm tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân thế giới, tháng 1-1960. Theo đó: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ và hệ thống thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có thêm nhiều dân tộc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới”.

Trên cơ sở phân tích khoa học, kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt, tại “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)” đã xác định rõ nội dung của thời đại hiện nay: “là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội  trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu bằng cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, là thời đại đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liền với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại”.

Từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời đến nay, tình hình thế giới có nhiều biến đổi. Chủ nghĩa xã hội hiện thực phát triển mạnh mẽ, có giai đoạn quyết định xu hướng phát triển của xã hội loài người, song do có những sai lầm trong quá trình xây dựng nên đã rơi vào khủng hoảng, sụp đổ. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của thời đại vẫn không thay đổi. Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới không diễn ra trong một thời gian ngắn và theo một con đường thẳng tắp, mà phải trải qua nhiều khúc quanh co, nhưng nhất định loài người sẽ đi đến một xã hội tốt đẹp hơn chế độ tư bản chủ nghĩa - đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. 

Các giai đoạn phát triển của thời đại hiện nay

 


Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, được mở đầu bằng thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và kết thúc khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Sự ra đời của thời đại hiện nay được đánh dấu bằng một sự kiện có ý nghĩa trọng đại trong dòng chảy lịch sử nhân loại, đó là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười là mốc son đánh dấu sự ra đời của một hình thái kinh tế - xã hội mới, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nó khẳng định sự ra đời của một phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, tạo ra bước ngoặt trong phương hướng phát triển của nhân loại. Nó cũng khẳng định vị thế trung tâm thời đại của một giai cấp mới, đó là giai cấp công nhân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Từ khi ra đời đến nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới đã và đang trải qua bốn giai đoạn, với những đặc điểm khác nhau, cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 (từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đến năm 1945). Đây là giai đoạn thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga và sau đó là Liên Xô, Mông Cổ. Đó là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ, tình trạng người bóc lột người từng bước bị xóa bỏ; tạo khả năng xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa trong một nước, đủ sức đánh bại mọi sự chống phá, can thiệp, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, cứu loài người thoát khỏi thảm họa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và mở đường cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ.

Giai đoạn 2 (từ 1945 đến những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX). Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội mở rộng và phát triển từ một nước trở thành hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đạt nhiều thành tựu rực rỡ, chứng tỏ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh và giành được nhiều thắng lợi, phá vỡ hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh chung của loài người vì một thế giới văn minh tiến bộ. Nhưng giai đoạn này xuất hiện những bất đồng lớn giữa các nước xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Giai đoạn 3 (Từ những năm giữa thập niên 70 của thế kỷ XX đến 1991). Đây là giai đoạn nhiều nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng, cần thiết phải đổi mới, cải tổ, cải cách. Nhưng do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, công cuộc cải tổ ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã mắc sai lầm. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động lợi dụng, ra sức chống phá dẫn đến rối loạn chính trị, hậu quả là chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Đây là bài học kinh nghiệm về đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

Giai đoạn 4 (từ 1991 đến nay). Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Lợi dụng tình hình đó, chủ nghĩa tư bản ra sức tấn công bằng nhiều thủ đoạn hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Nhưng một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đã đứng vững, tiến hành cải cách, đổi mới, đạt nhiều thành tựu to lớn. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang dần phục hồi, tăng cường ảnh hưởng. Chủ nghĩa xã hội thế giới sau khó khăn, thử thách, đang phục hồi và có khả năng phát triển. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang có ưu thế nhất định nhưng vẫn bộc lộ những mâu thuẫn không thể khắc phục. Vì thế, chủ nghĩa tư bản không đại diện cho tương lai của loài người và con đường diệt vong của nó là không thể tránh khỏi.

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa về quốc phòng, an ninh

 


Đây là nội dung quan trọng góp phần to lớn thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nội dung liên minh về quân sự, quốc phòng, an ninh được thể hiện ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt; cung cấp nguồn lực con người, cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật; hoạch định các chiến lược quân sự, phát triển nghệ thuật quân sự; sự quan tâm về sự phong phú trong đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân.

Nội dung liên minh về quân sự, quốc phòng, an ninh ở nước ta hiện nay, thể hiện ở việc củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cồng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”1.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 155-156.

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa về văn hóa - xã hội

 


Đây là nội dung quan trọng, là kết quả của quá trình thực hiện các nội dung về chính trị, kinh tế và quân sự, thể hiện bộ mặt, bản chất, tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nội dung liên minh về văn hóa - xã hội thực chất là sự đoàn kết, hợp lực của công nhân, nông dân, trí thức nhằm xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Nội dung văn hóa của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được thể hiện ở chỗ họ cùng nhau xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, không ngừng nâng cao dân trí, xây dựng và phát triển mối quan hệ bình đẳng trên mọi lĩnh vực cho nhân dân lao động và cho các dân tộc, nhằm tạo dựng một xã hội dân chủ, văn minh và tiến bộ; họ vừa là chủ thể trực tiếp sáng tạo, bảo vệ vừa là chủ thể hưởng thụ các giá trị văn hóa và thành quả của sự nghiệp cách mạng mà họ sáng tạo ra.

Nội dung cấp thiết trên lĩnh vực xã hội hiện nay là tạo nhiều việc làm cho công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động khác; xóa đói giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; chính sách ưu đãi với người có công với cách mạng và chính sách trợ giúp đối với những người cơ nhỡ, không nơi nương tựa. Thực hiện tốt những vấn đề này cũng chính là góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi và miền xuôi ngày càng thu hẹp.

Nội dung văn hóa - xã hội của liên minh công - nông - trí thức ở nước ta hiện nay, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ; chống các biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội. Xây dựng quy hoạch tổng thể và phát triển khu công nghiệp, khu đô thị phải gắn và đảm bảo phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò của văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển”1. Chống lại những quan điểm sai trái, phản động, lạc hậu, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 99.

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính trị

 


Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các nội dung của liên minh. Bởi vì, liên minh về chính trị không chỉ định hướng mục đích, nội dung liên minh về kinh tế, văn hóa - xã hội và quân sự, quốc phòng an ninh, mà còn hướng tới xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn giành chính quyền, liên minh về chính trị thể hiện ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau đấu tranh lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã, liên minh về chính trị được thể hiện ở việc họ cùng nhau tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng hệ thống chính trị và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; cùng nhau hợp lực tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh đập tan mọi âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch; tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Nội dung chính trị của liên minh liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay, thể hiện ở việc giữ vững lập trường chính trị - tư tưởng của giai cấp công nhân, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với khối liên minh và đối với toàn xã hội; xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý xã hội

 


Đây là nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong quản lý xã hội, xuất phát từ chính bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Tập trung dân chủ là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa một cách khoa học, hiệu quả: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân…; có cơ chế giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo, động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế và quản lý phát triển xã hội[1]. Tập trung trong nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu là sự lãnh đạo tập trung nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực vào chủ thể quản lý nhằm điều hành, chỉ đạo các quá trình xã hội một cách thống nhất. Dân chủ là hướng tới việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy mọi nguồn lực của đối tượng quản lý trong xã hội. Tập trung không những không loại trừ mà còn tạo điều kiện để phát huy tính độc lập, tự chủ. Nếu quá đề cao yếu tố tập trung, xa rời dân chủ sẽ dẫn đến độc đoán chuyên quyền, ngược lại, nếu đề cao yếu tố dân chủ, mở rộng dân chủ không trên cơ sở tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn, tự do, vô chính phủ: “Chúng ta chủ trương theo chế độ tập trung dân chủ. Nhưng cần phải hiểu rõ rằng chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”[2]. Mục đích thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa nhằm đảm bảo cho quần chúng lao động thực hiện quyền làm chủ của mình. Dưới chủ nghĩa xã hội, tập trung dân chủ là kết hợp lãnh đạo, quản lý tập trung với tinh thần tích cực, sáng tạo rộng lớn của quần chúng. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo sự mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.

Nguyên tắc tập trung dân chủ cho phép kết hợp sự tập trung có kế hoạch trong quản lý xã hội với chế độ dân chủ rộng rãi và việc sử dụng sáng kiến của quần chúng, của những tập thể tiên tiến. Hình thức biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, thường xuyên thay đổi cùng với sự thay đổi cụ thể của điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng lĩnh vực trong những giai đoạn khác nhau, phù hợp sự biến đổi cơ sở khách quan của xã hội xã hội chủ nghĩa: “Nguyên tắc dân chủ… thực hiện những đề nghị và yêu cầu để cho quần chúng tích cực tham gia không những vào việc thảo luận những quy tắc, những quyết định và các đạo luật chung, không những tham gia vào việc kiểm tra việc chấp hành các quy tắc, quyết định và đạo luật đó, mà còn trực tiếp tham gia vào thi hành chúng nữa”2. Trên thực tế, chỉ có chế độ kinh tế của chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm thu hút được đông đảo quần chúng lao động tham gia quản lý các xí nghiệp, quản lý toàn bộ nền kinh tế; chỉ có trong nhà nước xã hội chủ nghĩa thì quyền dân chủ, sự lãnh đạo tập trung mới được đảm bảo thực hiện và tạo sự thống nhất. Đặc biệt, chỉ có dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì nguyên tắc tập trung dân chủ mới được tôn trọng và thực hành triệt để, thống nhất.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 51.

[2],2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 185, 192.

Cơ sở khoa học xác định và phân chia thời đại

 


Tuỳ thuộc vào thế giới quan, lợi ích giai cấp hoặc góc độ nhìn nhận, đã từng xuất hiện cách phân chia thời đại khác nhau, hàm chứa những quan niệm phong phú về phạm trù thời đại, như của nhà xã hội học Italia Vicô (1668-1744), nhà triết học Đức Ph.Hêghen (1770-1831), nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp Phurie (1772-1837), nhà nhân chủng học Mỹ Hăngri Moócgăng (1818-1881), nhà tương lai học Mỹ Anvin Tôphlơ. Những cách phân chia này, tuy phản ánh khá rõ một mặt nào đấy của lịch sử, nhưng không vạch ra được tính chất xã hội của từng giai đoạn lịch sử, cũng như động lực thúc đẩy sự thay thế lẫn nhau giữa các thời đại trong tiến trình vận động của xã hội loài người.

C.Mác và P.Ăngghen xem xét khoa học vấn đề thời đại trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vạch rõ tiêu chí cơ bản để nhận biết một thời đại là xác định giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử. Mâu thuẫn giữa giai cấp trung tâm với giai cấp đối kháng với nó tạo thành động lực thúc đẩy sự vận động của thời đại. Trên cơ sở nhìn nhận tiến trình xã hội loài người như một dòng chảy lịch sử - tự nhiên, phủ định biện chứng giữa các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định mỗi hình thái này, với quá trình phát sinh, phát triển và bị thay thế, đánh dấu một thời đại lịch sử. Nhân loại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại: nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và thời đại của chủ nghĩa cộng sản.

Một thời đại lịch sử được xác định bởi hai tiêu chí cơ bản. Thứ nhất, sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế xã hội mới. Tuy nhiên, trong một thời đại cũng có thể chứa cả hai hình thái kinh tế - xã hội, một hình thái đang trong quá trình mất đi và một hình thái đang trong quá trình hình thành, phát triển, do đó, cần nhận thức rằng, khái niệm thời đại không đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội. Thứ hai, sự thay đổi vị trí trung tâm của các giai cấp trong xã hội. Sự thay đổi vị trí trung tâm của giai cấp thống trị gắn liền với quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác tiến bộ hơn sẽ quyết định sự vận động, phát triển của nhân loại và cũng đánh dấu sự mở đầu của một thời đại mới.

Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quản lý xã hội

 


Sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với hoạt động quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là nhà nước là sự lãnh đạo chính trị. Đảng cộng sản đề ra đường lối chính trị (cương lĩnh chiến lược), những chủ trương, phương hướng lớn, những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước, thông qua nhà nước để thể chế hóa thành pháp luật. Đảng cộng sản lãnh đạo quản lý nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị bằng nghị quyết của các cơ quan của đảng ở các cấp; trong đó, vạch ra đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cho quản lý nhà nước, cho các bộ phận khác nhau của bộ máy quản lý. Đảng cộng sản còn lãnh đạo thông qua công tác cán bộ, công tác kiểm tra. Đảng kiểm tra thực hiện đường lối đào tạo cán bộ, giới thiệu những đảng viên và người ngoài đảng có đủ năng lực, phẩm chất vào làm việc trong các cơ quan nhà nước trên cơ sở tôn trọng các thể chế của nhà nước về tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ. Đảng lãnh đạo bằng công tác thuyết phục, giáo dục và bằng sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và theo đúng pháp luật.

Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa cần vận dụng khoa học và sáng tạo cơ chế đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của đảng, hoặc khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng trong quản lý xã hội. Vì vậy, đường lối, chính sách của đảng không được sử dụng thay cho luật pháp, các nghị quyết của đảng không mang tính quyền lực - pháp lý, đảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả quản lý xã hội cũng không thể tách rời sự lãnh đạo của đảng.

Những vấn đề cơ bản về thời đại ngày nay


Thời đại là một thời kỳ lịch sử lâu dài, được đánh dấu bằng sự thay đổi về chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó trọng tâm là sự thay thế của hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế- xã hội khác tiến bộ hơn. Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội loài người. Việc phân chia lịch sử thành những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bởi chỉ dựa trên những dấu hiệu, những đặc trưng gắn với từng thời kỳ, từng giai đoạn, mới có thể đánh giá được một cách chính xác tính chất, trình độ phát triển, rút ra được những quy luật chi phối sự phát triển, dự báo được chiều hướng vận động, phát triển tiếp theo của đối tượng nghiên cứu. Nhu cầu đó dẫn tới sự ra đời của khái niệm thời đại.

Thời đại phản ánh sự phát triển của xã hội loài người trên tất cả mọi lĩnh vực, trọng tâm là sự thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằng một hình thái kinh tế xã hội khác tiến bộ hơn. Sự thay thế này là kết quả vận động, phát triển liên tục của xã hội theo những quy luật khách quan, kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn trong từng thời kỳ lịch sử lớn đó, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân, giai cấp nào. Sự ra đời của một thời đại mới gắn với cách mạng xã hội, khi một hình thái kinh tế - xã hội mới được xác lập và kết thúc khi những yếu tố của hình thái kinh tế - xã hội đó mất đi, xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới khác tiến bộ hơn.

Lý luận về thời đại là một bộ phận quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một mặt, đó chính là nền tảng để khảo cứu toàn bộ quá trình vận động, phát triển, chuyển biến của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử, từ đó đi đến những dự báo khoa học về tính tất yếu ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa cũng như sự diệt vong tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Mặt khác, nhận thức đúng vấn đề thời đại là điều kiện tiên quyết để các đảng cộng sản và công nhân đề ra được chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng phù hợp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể. 

Vai trò, trách nhiệm người cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Quán triệt, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức đặc điểm, tình hình mới, gay go, quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và mọi âm mưu, hành động khác của các thế lực thù địch chống phá quân đội, chống phá cách mạng nước ta.

Phát huy tinh thần, trách nhiệm trong học tập, nghiên cứu nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng và quân đội, nhất là những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó, vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ huy đơn vị.

Thường xuyên chăm lo xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần cho cán bộ chiến sĩ, xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh “mẫu mực, tiêu biểu”. Chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững mạnh về mọi mặt, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nâng cao bản lĩnh chính trị, sức mạnh tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và những âm mưu thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.