Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 2: VẤN ĐỀ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ!

     Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này./.
Ảnh minh họa: Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 1: BẢN CHẤT, ÂM MƯU VÀ NHỮNG NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM!

     LTS: Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó Quân đội luôn là mục tiêu trọng điểm. Một trong những mũi tiến công nguy hiểm nhất là luận điệu đòi “dân sự hóa” quân đội với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đáng lo ngại là nhận thức về vấn đề này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Vì vậy, việc kịp thời nhận diện, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này là nhiệm vụ cấp thiết trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng hiện nay.

Bản chất “dân sự hóa” quân đội

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Dân sự hóa” quân đội là thuật ngữ dùng để chỉ xu hướng chuyển hóa quân đội từ lực lượng vũ trang mang chức năng chính trị - quân sự đặc thù sang mô hình tương tự tổ chức dân sự, thông qua việc làm giảm vai trò, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; coi quân đội như một thiết chế trung lập trong đời sống xã hội; chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo sự lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, nội dung cốt lõi của “dân sự hóa” quân đội bao gồm các quá trình: Thay đổi chức năng quân sự sang chức năng và mục tiêu dân sự hoặc phi quân sự, phi vũ trang, chịu sự kiểm soát, quản lý của tổ chức dân sự. Giảm hoặc loại bỏ tính chính trị và sự lãnh đạo của chủ thể cầm quyền là Đảng Cộng sản, người chỉ huy cao nhất trong quân đội là dân sự, không phải là tướng lĩnh. Phi trung tâm hóa cơ chế chỉ huy, kỷ luật và quản lý quân đội, chẳng hạn biến bộ tổng tham mưu như một tổ chức xã hội, phủ nhận vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Đồng nhất quân đội với tổ chức dân sự về vị trí, vai trò và tính chất hoạt động; đòi công khai các hoạt động quân sự như dân sự. Biến đổi mục tiêu sử dụng lực lượng từ bảo vệ quốc gia sang phục vụ lợi ích phi quốc phòng.

Trên thế giới, quan điểm “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Để tránh quân đội can dự vào các tranh chấp chính trị, các nhà nước tư sản quy định quân đội phải “đứng trên đảng phái”, "đứng ngoài đảng phái", chịu sự chỉ huy trực tiếp của nguyên thủ quốc gia mà không chịu sự lãnh đạo hay chi phối của bất kỳ đảng phái nào. Ở mỗi nước, cách thức thực hiện và nội hàm cụ thể của vấn đề “dân sự hóa” quân đội có sự khác biệt, nhưng điểm chung là khẳng định quân đội phải là lực lượng vũ trang của quốc gia, phục vụ lợi ích đất nước.

Dựa trên “học thuyết phân quyền”, giới lập pháp ở nhiều nước đã ban hành hàng loạt đạo luật với kỳ vọng tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, họ tin rằng chế định “dân sự quản lý quân sự” được luật hóa sẽ bảo đảm mọi vấn đề của quân đội đều do lực lượng dân sự quyết định, không liên quan tới bất kỳ đảng phái hay thiết chế quân sự nào.

Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện lợi ích của giai cấp và của nhân dân lao động. Vì vậy, quân đội được lãnh đạo trực tiếp bởi đảng của giai cấp công nhân. Chính điều này khiến các nước tư bản lo ngại và tìm cách làm suy yếu vai trò lãnh đạo ấy bằng cách cổ xúy luận điệu “dân sự hóa” quân đội nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Đối với Việt Nam, đây là một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Thực chất của luận điệu này nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về chính trị, chúng phủ nhận vai trò của các tổ chức đảng, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về pháp lý-tổ chức, chúng xuyên tạc rằng Quân đội là công cụ của toàn xã hội, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không mang bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, chỉ chịu sự quản lý của các thiết chế dân sự và phải được “dân sự hóa” triệt để.

Mục tiêu của các thế lực thù địch là gây nhiễu loạn nhận thức, lung lạc ý chí, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; làm sai lệch mục tiêu xây dựng và chiến đấu, tạo ra sự hoài nghi về chức năng, bản chất và vai trò của Quân đội ta; nhạt hóa niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Xa hơn là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến Quân đội phai nhạt bản chất cách mạng và suy giảm sức mạnh chiến đấu bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân để dễ bề can thiệp, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Âm mưu, thủ đoạn “dân sự hóa” quân đội

“Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân”, cho nên các thế lực thù địch lợi dụng vào đó để ngụy biện rằng Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phụng sự nhân dân, do nhân dân chỉ huy, quản lý; Quân đội không phụ thuộc vào một đảng phái nào mà là của chung nhân dân, dân tộc. Chúng còn đưa ra những yêu sách phi lý như đòi công khai toàn bộ vấn đề quân sự, quốc phòng, ngân sách quốc phòng; đòi nhân dân được giám sát và quyết định các vấn đề quân sự; xuyên tạc chủ trương hiện đại hóa Quân đội, bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế-quốc phòng của Quân đội. Chúng tìm cách gieo rắc lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, coi thường kỷ luật, thờ ơ chính trị nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để dễ bề thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ bên trong...

Để hiện thực hóa âm mưu đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm.

Trước hết, chúng tấn công trực diện vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bóp méo cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội.

Dưới chiêu bài “quân đội quốc gia”, “quân đội phục tùng hiến pháp”, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Từ đó, chúng đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” thuần túy cho Quốc hội, Chính phủ như mô hình quân đội các nước tư sản. Chúng còn dẫn chứng những hiện tượng “bề ngoài” để biện hộ cho quan điểm “dân sự hóa quân đội” và “khuyên răn” Việt Nam làm theo, như: Bộ trưởng quốc phòng nhiều nước không phải quân nhân; áp dụng thuyết “tam quyền phân lập”, một số nước đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái... Để tạo sự mơ hồ, dễ bề chuyển hóa khái niệm này, chúng ra sức tô hồng mô hình quân đội các nước tư sản mà bỏ qua một thực tế rõ ràng ở những nước này, các chính đảng nắm quyền vẫn thông qua người của đảng mình nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền, chi phối lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính sách quân sự, quốc phòng.  

Thứ hai, cố tình bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng của Quân đội.

Bằng những lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch quy chụp nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng thành “làm kinh tế thuần túy”, rồi từ đó vu cáo Quân đội “lợi ích nhóm”, “đặc quyền đặc lợi” (?!) Từ đó, chúng phủ nhận những đóng góp quan trọng của Quân đội trong lĩnh vực kinh tế, rêu rao rằng Quân đội đã “đánh mất bản chất cách mạng”, bị “tha hóa bởi kinh tế thị trường” nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.   

Thứ ba, trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch tìm cách cổ xúy lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, thiếu trách nhiệm, xem nhẹ kỷ luật, xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Một khi những biểu hiện này len lỏi vào đời sống quân nhân sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hình thành; đồng thời tạo điều kiện để các tư tưởng thù địch thâm nhập và từng bước phá vỡ sự trong sạch, vững mạnh của Quân đội.

Thứ tư, đối với chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng đây là khoản đầu tư “lãng phí”, rằng thời bình và để “chống chạy đua vũ trang”, Việt Nam mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế không còn nguy cơ xung đột, chiến tranh nên không cần hiện đại hóa Quân đội. Dưới chiêu bài “dân chủ”, chúng đòi đưa các vấn đề quân sự, quốc phòng ra bàn luận công khai để nhân dân giám sát và quyết định. Nhằm gieo rắc hoài nghi và chia rẽ trong xã hội, chúng xuyên tạc rằng ngân sách quốc phòng “quá cao” so với nhiều lĩnh vực dân sinh; phủ nhận tính đặc thù của hoạt động quân sự, đánh đồng Quân đội với một cơ quan hành chính thông thường, biến việc quân sự thành việc của dân sự. Từ đó, chúng kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng để “tiết kiệm nguồn lực đầu tư cho phát triển” hoặc huy động đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đề xuất “dân sự hóa hoạt động quân sự”.

Về phương thức, không gian mạng là “mũi tiến công mềm” được các thế lực thù địch khai thác triệt để. Chúng tung tin giả, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc về Quân đội; tạo lập tài khoản ảo, tán phát “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư” với giọng điệu giả danh trí thức để gây nhiễu loạn nhận thức, thao túng dư luận. Mỗi sự cố nhỏ đều bị thổi phồng nhằm gây chia rẽ nội bộ, kích động bất mãn, hạ thấp hình ảnh Quân đội trong mắt nhân dân. Chúng xuyên tạc việc cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn là “diễn”, rằng “tại sao phải mặc quân phục khi giúp đỡ nhân dân, giúp hay chỉ làm màu, khoe mẽ”... 

Về lực lượng, các thế lực thù địch móc nối với các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, được các kênh truyền thông chống phá như BBC, VOA, RFA... "hà hơi, tiếp sức", lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc và một bộ phận cư dân mạng dễ bị kích động để lan truyền tin giả, thông tin độc hại. 

Nguy cơ “tự diễn biến” từ vấn đề “dân sự hóa” quân đội

Những âm mưu, thủ đoạn trên nếu không bị đấu tranh và loại bỏ, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Nó thẩm thấu, làm suy yếu từ bên trong đối với vai trò của tổ chức đảng; dẫn đến khoảng trống ý thức hệ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dụng, cá nhân chủ nghĩa thâm nhập; bào mòn bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; hạ thấp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, giảm sút uy tín và niềm tin của Quân đội trong lòng nhân dân.

Một số người chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đánh đồng Quân đội với cơ quan dân sự về giờ giấc, chế độ đãi ngộ, rồi thổi phồng trên mạng xã hội, tạo thành những luồng dư luận nhiễu loạn, tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội.

Từ sự hời hợt trong nhận thức đến thái độ phủ nhận vai trò, chức năng đội quân chiến đấu chỉ cách nhau một bước nhỏ. Và chính sự lệch lạc này trở thành mảnh đất cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Giảm niềm tin vào Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; coi Quân đội như “nghề công chức vũ trang”, không phải lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu của Đảng. Bài học về sự tan rã của Liên Xô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi đó, 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu “phi chính trị hóa” của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết-chính thể sinh ra mình sụp đổ. Hay gần đây, sự sụp đổ của chính phủ nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông trước sức ép của các cuộc bạo loạn chính trị mang tên “Mùa xuân Arab” cũng có nguyên nhân từ việc mất kiểm soát đối với quân đội.

Một biểu hiện đáng lo ngại của “tự diễn biến” hiện nay là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đánh giá hời hợt, thậm chí giản đơn những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường an ninh thế giới và khu vực, nơi các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược luôn tiềm ẩn cả nguy hại trực tiếp lẫn lâu dài. Nhận thức lệch lạc ấy dẫn tới thái độ xem nhẹ vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh ấy, những “kiến nghị” đòi cắt giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng để dành nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ đi ngược xu thế chung của thế giới mà còn mâu thuẫn với yêu cầu củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.

Trong bối cảnh nhiệm vụ quân sự ngày càng nặng nề và tác động phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, quân nhân nếu không kiên định lập trường, kém tu dưỡng rèn luyện, sẽ bị cuốn vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các doanh nghiệp, bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế, không nên xem nhẹ vấn đề kỷ luật, duy trì môi trường rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất của quân nhân. Bởi nếu tư duy kinh tế lấn át tư duy quân sự, kỷ luật dễ bị buông lỏng, hoạt động của doanh nghiệp dễ rơi vào xu hướng “dân sự hóa”. Điều này tạo nguy cơ khiến cán bộ, nhân viên dễ bị tác động bởi cám dỗ vật chất, sa sút trách nhiệm, thiếu rèn luyện, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng và hành động./.
Ảnh: Khối xe - pháo quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Quốc khánh 2-9. Ảnh minh họa.
(còn nữa)
Môi trường ST.

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI HỘI XIV DẤU MỐC LỊCH SỬ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

     Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đảng ta sẽ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; trong nước đang triển khai mạnh mẽ các quyết sách chiến lược rất quan trọng, các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Lần đầu tiên Đảng ta xác định "lý luận về đường lối đổi mới" là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng

Các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Qua quá trình đưa ra lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên, Nhân dân và các đại biểu Quốc hội, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp xây dựng, hoàn thiện các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Thông qua việc đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, đã giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng tinh thần các dự thảo Văn kiện, đóng góp hiệu quả vào quá trình thảo luận, hoàn thiện các văn kiện, đồng thời lan tỏa tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển và quyết tâm xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Theo Báo cáo “Một số vấn đề mới, quan trọng trong Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng”, điểm mới của các dự thảo Văn kiện trình Đại hội thể hiện ngay ở từ chủ đề và kết cấu dự thảo Văn kiện. Đơn cử, so với các kỳ Đại hội gần đây, điểm mới nổi bật của Báo cáo chính trị lần này là sự tích hợp nội dung 3 văn kiện, gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng. Việc tích hợp này thể hiện tinh thần tiếp tục đổi mới về cách xây dựng văn kiện, xuất phát từ thực tiễn mới của đất nước, sự phát triển nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện của Đảng, bảo đảm sự nhất quán về nội dung; ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Với vị trí trung tâm trong các dự thảo Văn kiện trình Đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV lần này đánh dấu một bước nhảy vọt về tư duy phát triển khi chắt lọc, cập nhật các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, các quyết sách chiến lược đột phá trong các nghị quyết của Bộ Chính trị được ban hành từ cuối năm 2024 đến nay, những nghị quyết mang tính chất "đòn bẩy" để vận hành thực hiện ngay trước và sau Đại hội. Đồng thời, đánh giá rõ kết quả thực hiện, bài học về tổ chức thực hiện, khắc phục được điểm yếu cố hữu của nhiều nhiệm kỳ là "tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu". Việc tổng kết nhiệm kỳ Đại hội lần này đã chỉ rõ và khái quát toàn diện những kết quả quan trọng, nổi bật đạt được, đặc biệt là các đột phá chiến lược ở cuối nhiệm kỳ.

Nổi bật nhất là việc sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp - một quyết định lịch sử, cách mạng, giúp tinh gọn đầu mối, rõ trách nhiệm, mở rộng không gian phát triển, tăng cường hiệu lực quản trị, điều hành từ tỉnh đến cơ sở. Quá trình thực hiện cho thấy rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị gắn với đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên có ý nghĩa quyết định, đặc biệt là cần phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả và có cơ chế giám sát thường xuyên. Nhờ đó, tâm lý "thành tích hình thức" bị đẩy lùi, thay vào đó là tinh thần hướng mạnh về kết quả thực chất, vừa "chạy" vừa "xếp hàng" đúng tiến độ và có hiệu quả.

Về nội dung, dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã bổ sung "Lý luận về đường lối đổi mới" là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Cụ thể, quan điểm chỉ đạo thứ nhất trong Dự thảo Báo cáo chính trị viết: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới". Với quan điểm này, lần đầu tiên Đảng ta xác định "lý luận về đường lối đổi mới" là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việc bổ sung "lý luận về đường lối đổi mới" vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Đồng thời cho thấy Đảng không giáo điều, không rập khuôn, mà luôn biết kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, làm giàu thêm kho tàng lý luận - tư tưởng của cách mạng Việt Nam.

Lý luận về đường lối đổi mới là sự vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa các nguyên tắc, nguyên lý phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn 40 năm Đổi mới ở Việt Nam, thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự đột phá lý luận cơ bản của Đảng ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Việc bổ sung "lý luận về đường lối đổi mới" vào nền tảng tư tưởng của Đảng còn là minh chứng cho thấy sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đặc biệt là khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng kiên định con đường XHCN, đồng thời mở ra khả năng phát triển năng động, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Đây chính là ngọn đuốc soi đường tiếp tục dẫn dắt đất nước thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng chiến lược, lập nên những kỳ tích phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV khẳng định: Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thực sự giữ vững vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược, dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng. Đây là một điểm mới rất quan trọng trong dự thảo Văn kiện lần này.

Dự thảo Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy đầy đủ chức năng và vai trò của từng khu vực kinh tế, nhằm tạo nên bức tranh phát triển toàn diện, bền vững cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Sự phân công, phối hợp và bổ trợ giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học và linh hoạt để khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế.

Nhìn lại lịch sử các kỳ Đại hội Đảng có thể thấy, chủ trương, đường lối về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có chuyển biến lớn. Nếu như Đại hội VI "coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", thì đến Đại hội XII, Đảng ta đánh giá kinh tế tư nhân là một trong các động lực quan trọng của nền kinh tế.

Và tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017, khẳng định kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Mới đây nhất, ngày 4/5/2025, trong Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Đảng ta khẳng định: "… kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia…".

Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt trước biến động thị trường, trở thành nơi thu hút chủ yếu lao động xã hội, nguồn cung cấp đa dạng hàng hóa, dịch vụ và giải pháp công nghệ.

Tuy còn một số hạn chế, tồn tại, kinh tế tư nhân có khả năng huy động nguồn lực đa dạng từ trong nước và quốc tế, nhất là khi Nhà nước hoàn thiện cơ chế tín dụng, chính sách thuế, đất đai, tạo điều kiện bình đẳng cho mọi doanh nghiệp. Kinh tế tư nhân có khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đóng góp lớn vào tăng trưởng và tạo việc làm, thúc đẩy sáng tạo và nâng cao phúc lợi xã hội. Điều này phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin khi coi kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại và kinh tế tư nhân trong chủ nghĩa xã hội là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế.

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Đây là chủ trương mới, quan trọng trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, nhằm tận dụng tối đa những động lực phát triển không có trần giới hạn. Việc xác định ưu tiên này xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, khi công nghệ số và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Đảng ta khẳng định: Chỉ có đột phá mạnh mẽ trong những lĩnh vực này mới giúp Việt Nam bứt phá khỏi giới hạn tăng trưởng truyền thống.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam là quốc gia đi sau nhưng đang nắm bắt cơ hội để gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế số phát triển. Ngay trong nhiệm kỳ Khóa XIII này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia".

Thể chế hóa Nghị quyết này, Quốc hội Khóa XV đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/2/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó, Quốc hội cũng ban hành nhiều đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện, đưa chủ trương, quyết sách mới của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Trong đó có các luật, như: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật Công nghiệp Công nghệ số; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử...

Chính phủ, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở đã và đang triển khai quyết liệt Đề án Chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành quốc gia số vào năm 2030. Tập trung đổi mới cơ chế đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, như: Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hình thành các trung tâm sáng tạo, nâng cao khả năng kết nối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo, đồng thời hoàn thiện khung pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cơ chế khuyến khích hợp tác công - tư, liên kết quốc tế và đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư giúp tạo lập môi trường năng động cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng được xem là yếu tố nền tảng để chuyển đổi số thành công và bảo vệ lợi ích quốc gia trên không gian số.

Kết quả của đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thể hiện qua việc tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Việt Nam có thể gia tăng chỉ số GDP thêm 1 - 1,5 điểm phần trăm mỗi năm nhờ áp dụng hiệu quả khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế được củng cố thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và khả năng tự chủ trong chuỗi cung ứng. Những sản phẩm, dịch vụ mới định hình từ công nghệ cao và giải pháp số không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo sức hút trên thị trường toàn cầu. Việc tham gia sâu vào chuỗi sản xuất quốc tế giúp doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn quản trị và mở rộng mạng lưới đối tác. Từ đó, vị thế của Việt Nam được nâng cao, trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và giá trị toàn cầu.

Dự thảo Báo cáo Chính trị lần này cũng có rất nhiều điểm mới quan trọng khác, như bổ sung "bảo vệ môi trường" cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ "trung tâm"; bổ sung "đối ngoại, hội nhập quốc tế" cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên". Đồng thời, khẳng định quan điểm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển...

Như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Tô Lâm, đó là Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nêu "18 điểm mới, những định hướng được coi là đột phá, thể hiện tinh thần dám đổi mới, dám chuyển đổi mô hình phát triển, dám tổ chức lại bộ máy và phương thức vận hành".

Đặc biệt, trong dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta đã xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính để đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên...

Đại hội XIV là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của Đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của Dân tộc để vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cán bộ, Đảng viên và Nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội.

Khẳng định điều này trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 15 Khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị, Trung ương và toàn thể đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục phát huy tinh thần, trách nhiệm đảng viên, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15; tập trung làm tốt công việc thường xuyên, khẩn trương thực hiện những nhiệm vụ còn lại của công tác tổ chức để Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp đúng như chương trình, kế hoạch đề ra./.


Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỤC TIÊU ĐÚNG NHƯNG BƯỚC ĐI VỘI VÀNG!

     Ngày 26/12/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT về bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc, theo đó bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống" của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã được lựa chọn là bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc từ năm học 2026 - 2027. Việc ban hành quyết định triển khai một bộ SGK thống nhất toàn quốc nhằm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW. Thông cáo báo chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: “Trên cơ sở nghiên cứu các bộ SGK hiện hành và đối chiếu với các tiêu chí lựa chọn, Bộ GD-ĐT xác định bộ SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống đáp ứng đầy đủ và nổi trội hơn cả”.

Đây là quyết định đúng đắn của Đảng, Nhà nước được nhân dân đặc biệt là các phụ huynh học sinh đồng tình ủng hộ để hướng đến mục tiêu phát triển một nền giáo dục bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, bước đi thực hiện mục tiêu này của Bộ Giáo dục và Đào tạo có phần vội vàng, thiếu cẩn trọng.

1. Một bộ sách giáo khoa - Một bài toán khó nhưng không phải không có lời giải 

Tổ chức biên soạn, ban hành một bộ SGK mới để đưa ngay vào năm học 2026-2027 là điều bất khả thi. Để biên soạn lại một bộ sách giáo khoa cho cả 3 cấp học, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải huy động một đội ngũ tác giả 400-500 người trong thời gian 7-8 năm và ngân sách Nhà nước phải bỏ ra khoảng vài trăm tỷ đồng. Vì vậy, chúng ta hiểu vì sao Bộ Giáo dục và Đào tạo không chọn phương án này!

Vậy, có 2 phương án còn lại là: 

- Chọn ra 01 bộ SGK trong 03 bộ SGK hiện hành để đưa ngay vào năm học 2026-2027. Phương án này cần có thời gian, phải đảm bảo khách quan, công tâm, “bình đẳng” trong việc đánh giá từng bộ SGK để lựa chọn ra một bộ sách “tối ưu” hơn; đồng thời loại bỏ ngay những “hạt sạn” còn tồn tại trong bộ SGK này. Đây là phương án Bộ GD-ĐT lựa chọn.

- Lắp ghép 01 bộ SGK chung từ 03 bộ hiện hành theo cấp học. Từ các bộ sách đã có của mỗi môn chọn sách cho mỗi cấp ở các bộ khác nhau ghép lại thành 1 bộ. Phương án này không đơn giản vì mỗi bộ SGK dù đều dựa vào chương trình nhưng tư tưởng sư phạm khác nhau, cách tổ chức bài học cũng khác nhau chưa nói đến vấn đề bản quyền. Vì vậy, phương án này khó được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn.

2. Mục tiêu đúng nhưng bước vội vàng

Chỉ sau 01 ngày kể từ ngày 24/12/2025, Chính phủ có văn bản số 1672/VPCP - KGVX chỉ đạo Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thực hiện phương án đảm bảo một bộ SGK triển khai trong năm học 2026- 2027 thì chiều 26/12/2026, Bộ GD- ĐT gấp rút tổ chức cuộc họp “Toạ đàm, trao đổi về phương án triển khai thực hiện một bộ SGK thống nhất toàn quốc theo NQ 71/TƯ”. Chưa biết kết quả toạ đàm, trao đổi, thống nhất ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục thế nào mà ngay cùng ngày tổ chức toạ đàm, Bộ GD- ĐT đã ban hành Quyết định 3588/QĐ- BGDĐT, quyết định bộ SGK giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc.

Dư luận xã hội đặc biệt là phụ huynh học sinh đồng tình ủng hộ chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện một bộ sách giáo khoa trong phạm vi cả nước nhưng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thận trọng trong bước đi; tôn trọng ý kiến của đội ngũ chuyên gia, quản lý giáo dục; lắng nghe một cách cầu thị, trách nhiệm ý kiến dư luận xã hội để hoàn thiện, loại bỏ những “hạt sạn” ra khỏi bộ sách giáo khoa trước khi ban hành quyết định./.


Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LỜI DẶN CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI RỜI KREMLI “HÃY GIỮ GÌN NƯỚC NGA!”!

     Ngày 31/12/1999, tổng thống Nga Boris Yelsin từ chức 6 tháng trước nhiệm kỳ.

Tạp chí Дилетант của Nga số 109/ 2025 đã đăng bài phỏng vấn Valentin Yumashev, cố vấn và là con rể của Yeltsin-nhân chứng của toàn bộ sự kiện này. Qua đó chúng ta biết thêm các chi tiết về cuộc chuyển giao quyền lực của Yeltsin cho Thủ tướng Nga Putin. 

Qua cuộc phỏng vấn, chúng ta biết việc rời đi của Boris Yeltsin vào ngày 31/12/1999 là kết quả của một quyết định cá nhân, được đưa ra trong bối cảnh chính trị cuối năm 1999. 

Bước ngoặt quan trọng là cuộc bầu cử Duma Quốc gia ngày 12/12/1999, khi các lực lượng ủng hộ Vladimir Putin giành kết quả vượt trội, trong khi liên minh của Primakov và Luzhkov thất bại nặng. Sau kết quả này, Yeltsin đi đến kết luận rằng tiến trình chuyển giao quyền lực đã chín muồi.

Vài ngày sau bầu cử, Yeltsin mời Chánh văn phòng Tổng thống Alexander Voloshin và cố vấn Valentin Yumashev tới gặp và thông báo quyết định sẽ từ chức vào cuối tháng 12. 

Theo lời kể của Yumashev, không có bất kỳ đề xuất nào từ gia đình hay từ các quan chức Điện Kremlin, quyết định đó hoàn toàn xuất phát từ chính Yeltsin. Ông yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối, chỉ một số rất ít người được biết trước. Ngay cả vợ ông đến tận sáng 31/12 mới biết tin.

Trong những ngày cuối tháng 12, các thủ tục pháp lý và kỹ thuật được chuẩn bị gấp rút. Yumashev soạn thảo bài phát biểu gửi nhân dân, Yeltsin trực tiếp chỉnh sửa văn bản và loại bỏ chi tiết liên quan đến sức khỏe. Sáng sớm ngày 31/12/1999, lúc 7 giờ, Yeltsin ghi hình bài phát biểu từ chức.

Đúng 12h trưa ngày 31/12/1999 theo giờ Moskva, Yeltsin chính thức tuyên bố từ chức trước thời hạn và ký sắc lệnh giao quyền Tổng thống cho Thủ tướng Vladimir Putin, phù hợp với Hiến pháp Nga. 

Cùng ngày, các thủ tục chuyển giao quyền lực được hoàn tất, bao gồm việc ký các sắc lệnh cần thiết và bàn giao vali hạt nhân cũng như các quyền hạn cho người đứng đầu nhà nước tạm quyền.

Trước khi rời Điện Kremlin, Yeltsin nói với Putin câu nói cuối cùng của mình: “Hãy giữ gìn nước Nga!”( Берегите Россию!- Hãy giữ gìn(bảo vệ) nước Nga”.

Sau đó, ông không còn xuất hiện tại Điện Kremlin với tư cách tổng thống nữa, khép lại một giai đoạn lịch sử của nước Nga.

Đây là diễn văn từ chức của Yeltsin vào trưa ngày 31/12/1999. 

“Những người Nga thân mến, 

Chỉ còn rất ít thời gian nữa là đến một mốc mang tính kỳ diệu trong lịch sử của chúng ta. Năm 2000 đang đến. Một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới.

Tất cả chúng ta đều từng hình dung mốc thời gian này cho chính mình. Chúng ta ước tính -ban đầu khi còn nhỏ, rồi khi đã trưởng thành -rằng vào năm 2000 chúng ta sẽ bao nhiêu tuổi, mẹ chúng ta bao nhiêu tuổi, con cái chúng ta bao nhiêu tuổi. Đã từng có lúc tưởng như cái Tết (nguyên bản: năm mới) đặc biệt ấy còn rất xa.

Và ngày đó đã đến.

Các bạn thân mến! Những người thân yêu của tôi!
Hôm nay, tôi gửi tới các bạn lời chúc mừng năm mới lần cuối cùng. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Hôm nay, tôi lần cuối cùng ngỏ lời với các bạn với tư cách là Tổng thống Nga.

Tôi đã đưa ra quyết định. Tôi đã suy nghĩ rất lâu và rất đau đớn về điều đó. Hôm nay, vào ngày cuối cùng của thế kỷ đang khép lại, tôi từ chức.

Tôi đã nhiều lần nghe thấy rằng: Yeltsin sẽ bằng mọi cách bám giữ quyền lực, sẽ không giao nó cho ai. Đó là sự dối trá.

Vấn đề nằm ở chỗ khác. Tôi luôn nói rằng tôi sẽ không lùi một bước nào khỏi Hiến pháp. Rằng các cuộc bầu cử Duma phải diễn ra đúng thời hạn hiến định. Và điều đó đã xảy ra. Tôi cũng mong muốn rằng các cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra đúng thời hạn — vào tháng Sáu năm 2000. Điều này vô cùng quan trọng đối với nước Nga. Chúng ta đang tạo ra một tiền lệ vô cùng quan trọng: sự chuyển giao quyền lực một cách văn minh và tự nguyện — quyền lực từ một Tổng thống Nga sang một Tổng thống Nga khác, được bầu mới.

Và dù vậy, tôi đã đưa ra một quyết định khác. Tôi sẽ ra đi. Ra đi sớm hơn thời hạn quy định.

Tôi hiểu rằng tôi cần phải làm điều này. Nước Nga phải bước vào thiên niên kỷ mới với những chính trị gia mới, những gương mặt mới, những con người mới - thông minh, mạnh mẽ, tràn đầy năng lượng. Còn chúng tôi, những người đã nắm quyền suốt nhiều năm, chúng tôi phải rời đi.

Nhìn vào việc người dân đã bỏ phiếu với niềm hy vọng và niềm tin như thế nào trong cuộc bầu cử Duma cho một thế hệ chính trị gia mới, tôi hiểu rằng: công việc chính của đời tôi, tôi đã làm xong. Nước Nga sẽ không bao giờ quay trở lại quá khứ. Từ nay, nước Nga sẽ chỉ tiến về phía trước. Và tôi không được phép cản trở dòng chảy tự nhiên của lịch sử này.

Còn bám giữ quyền lực thêm nửa năm, khi đất nước đã có một con người mạnh mẽ, xứng đáng trở thành Tổng thống, và người mà hôm nay hầu như mỗi người Nga đều gắn gửi hy vọng của mình vào tương lai ư?! Tại sao tôi phải cản trở người đó ? Vì sao còn phải chờ thêm nửa năm? Không, đó không phải là tôi! Không phải là tính cách của tôi!

Hôm nay, vào ngày vô cùng quan trọng đối với tôi này, tôi muốn nói nhiều hơn một chút những lời mang tính cá nhân so với thường lệ.

Tôi muốn xin các bạn tha thứ. Vì nhiều ước mơ của chúng ta đã không trở thành hiện thực. Và những điều chúng ta tưởng là đơn giản thì hóa ra lại vô cùng gian nan. Tôi xin lỗi vì đã không đáp ứng được một số kỳ vọng của những người tin rằng chúng ta có thể chỉ bằng một cú nhảy, một cú vọt duy nhất, vượt qua từ quá khứ xám xịt, trì trệ, toàn trị sang một tương lai tươi sáng, giàu có và văn minh. Bản thân tôi cũng đã tin vào điều đó. Khi ấy tưởng rằng chỉ cần một cú nhảy vọt là có thể vượt qua tất cả.

Nhưng một cú nhảy vọt đã không thành công. Ở một số điểm, tôi đã quá ngây thơ. Ở những điểm khác, các vấn đề lại quá phức tạp. Chúng ta đã phải tiến lên qua những sai lầm, qua những thất bại. Nhiều người trong thời kỳ khó khăn này đã phải trải qua những cú sốc.

Nhưng tôi muốn các bạn biết điều này. Tôi chưa bao giờ nói điều đó, và hôm nay điều này đối với tôi là rất quan trọng. 

Nỗi đau của mỗi người trong các bạn đều vọng lại thành nỗi đau trong tôi, trong trái tim tôi. Những đêm không ngủ, những dằn vặt đau đớn - phải làm gì để mọi người, dù chỉ một chút thôi, dù chỉ đôi chút, sống dễ dàng hơn và tốt đẹp hơn. Tôi không có nhiệm vụ nào quan trọng hơn thế.

Tôi sẽ ra đi. Tôi đã làm tất cả những gì có thể. Và không phải vì sức khỏe, mà vì tổng hòa của tất cả các vấn đề. Thay thế tôi là một thế hệ mới - thế hệ của những người có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn.

Phù hợp với Hiến pháp, khi từ chức, tôi đã ký Sắc lệnh giao nhiệm vụ Tổng thống Nga cho Chủ tịch Chính phủ (tức Thủ tướng-ND) Vladimir Vladimirovich Putin. Trong vòng ba tháng, theo Hiến pháp, ông sẽ là nguyên thủ quốc gia. Và sau ba tháng, cũng theo Hiến pháp Nga, sẽ diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống.

Tôi luôn tin tưởng vào sự khôn ngoan phi thường của người Nga. Vì vậy tôi không nghi ngờ về lựa chọn mà các bạn sẽ đưa ra vào cuối tháng Ba năm 2000.

Khi chia tay, tôi muốn nói với mỗi người trong các bạn: hãy hạnh phúc. Các bạn xứng đáng với hạnh phúc. Các bạn xứng đáng với hạnh phúc và sự bình yên.

Chúc mừng Năm mới!
Chúc mừng thế kỷ mới, những người thân yêu của tôi!”./.
Môi trường ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐẶC CÔNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG PHI VỤ ĐÁNH B-52 NGAY TẠI SÀO HUYỆT!

     Quá trình tiềm nhập vào mục tiêu, các chiến sĩ đặc công đã 3 lần gặp địch. Hai lần khéo léo ngụy trang qua khỏi tầm mắt của chúng, đến lần thứ ba trong một tình thế đặc biệt buộc tổ chiến đấu phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm 2 lính Mỹ và một chó béc giê. Khi vào cách nơi máy bay B-52 đỗ khoảng 300m, bất ngờ gặp 3 xe ôtô và 2 lính Mỹ, hai anh phải vòng tránh theo hướng khác.

Khi khoảng cách còn 50m, một tổ tuần tra khác của địch phát hiện nổ súng bắn chặn, trong tích tắc, đồng chí Phương tung lựu đạn về phía địch. Lợi dụng thời cơ địch dạt ra tránh, 2 người lính đặc công lao nhanh đến mục tiêu, dùng thủ pháo đánh vào từng chiếc máy bay. Số thủ pháo vừa hết, đồng chí Phương ra lệnh rút lui. Đồng chí Đài rút về hướng cửa mở, đồng chí Phương chạy tắt qua khu bom, vượt rào ra ngoài. Khi Bùi Văn Phương vừa thoát ra ngoài khu vực sân bay thì tiếng súng bỗng rộ lên từ phía cửa mở, người lính đặc công Vũ Công Đài đã anh dũng hy sinh. Sau đó là những tiếng nổ lớn và những đám cháy bùng lên phía trong khu vực sân bay, 8 chiếc máy bay B- 52 của Mỹ đã bị phá hủy.

Ngay ngày hôm sau, các hãng thông tấn phương Tây đã đưa tin, bình luận. Mỹ thật sự hoảng hốt, và không hiểu Utapao đã bị đánh bằng cách nào. Chúng không ngờ đặc công Việt Nam đã vào được tận sào huyệt và chỉ với 2 người mà phối hợp ăn ý phá hủy được 8 máy bay B-52.

Đoàn đặc công biệt động A54 đánh sân bay Udon.
Tháng 7/1972, Đoàn A54 cử 23 cán bộ, chiến sĩ biên chế thành một tổ soi đường và một tổ bảo đảm hậu cần, vượt Trường Sơn hành quân đến khu rừng nguyên sinh Đôn Ka Thom nằm ở ngã ba biên giới 3 nước Thái Lan – Lào – Campuchia, lập một trạm chỉ huy nghiên cứu tình hình, mở hành lang vào khu vực sân bay Udon.
Cuối tháng 7, tổ soi đường bí mật vượt sông, luồn rừng nhằm hướng sân bay để đi. Đi được 15 ngày, hết lương thực, các anh đành phải quay về căn cứ. Ngay sau đó một sáng kiến được đưa ra, đó là dùng kỹ thuật ém lương thực theo kiểu “sâu đo” dọc tuyến đường hành lang vào đến sân bay Udon. Ba chiến sĩ của đội, mỗi người mang hơn 30kg lương thực, đến vị trí A để lại 10kg, chôn kỹ và đánh dấu rồi quay về. Cứ thế từng chuyến lương thực được chuyển đến vị trí B, C, D… trên suốt chặng đường dài.

Đầu tháng 8/1972, tổ soi đường đã liên lạc được với một cơ sở lực lượng cách mạng của ta trên đất Thái Lan. Hàng ngày, các anh thường đóng giả người dân Thái Lan nhằm thực hiện nhiệm vụ trinh sát khu vực sân bay.
Tuy hành lang vừa mới được hình thành, nhưng với ý chí quyết tâm phá hủy máy bay B-52 tại sân bay Udon nên Đoàn A54 thực hiện kế hoạch: vừa trinh sát mục tiêu, vừa đưa đội hình chiến đấu đi theo, trinh sát tới đâu, hoàn chỉnh phương án chiến đấu đến đó, nếu thời cơ cho phép sẽ tiến hành đánh ngay. Cuối tháng 8/1972, một đội hình chiến đấu gồm 10 người được thành lập do đồng chí Đào Đức Hạnh – Đoàn trưởng Đoàn A54 chỉ huy, vượt biên giới, luồn rừng tới cơ sở cách mạng của ta ở Thái Lan (Căn cứ 07). Trong tháng 9/1972, đội thực hiện nhiệm vụ trinh sát tạo hành lang từ Căn cứ 07 đến sân bay Udon, nhằm xác định vị trí tập kết, xác định đường, hướng đột nhập vào sân bay.

Đêm ngày 1/10, đội hình chiến đấu bắt đầu cơ động vào sát khu vực sân bay Udon. Lúc này trời mưa to, gió lớn, phải đến gần sáng ngày mùng 2, đội mới tới được gần sân bay. Trời sắp sáng, sợ lộ bí mật, mọi người phải phân tán ẩn nấp chờ đến khi trời tối để vào trinh sát mục tiêu. Phương án đánh B52 lần này là dùng mìn nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. 8 đồng chí trong đội hình chiến đấu chia làm 3 tổ, trong đó 2 người có nhiệm vụ mở cửa và bảo vệ cửa mở; 4 người đánh phá máy bay, 2 người đánh phá kho xăng.

Tối ngày 2/10/1972, hai tổ chiến đấu tiềm nhập vào sân bay, tổ mở cửa triển khai bảo vệ đầu cầu. Theo hiệp đồng chiến đấu, sau khi cài đặt lượng nổ, mìn hẹn giờ vào mục tiêu, cả 2 tổ phải rút ngay để kịp rời sân bay trước khi trời sáng. Nhưng đã quá giờ hiệp đồng, trời sắp sáng mà tổ mở cửa vẫn không thấy 2 tổ chiến đấu quay trở lại. Tại vị trí tập kết, chỉ huy trận đánh nóng lòng nghe tiếng nổ vọng ra từ khu vực sân bay nhưng không gian bốn bề vẫn tĩnh lặng. Cho tới 10 giờ sáng ngày mùng 3/10/1972, khi nghe những tiếng nổ liên hồi từ phía sân bay, tổ đánh kho xăng và tổ mở cửa mới gặp được nhau, 4 người còn lại của tổ đánh B-52 vẫn chưa thể thoát ra được...
Ảnh 1: Máy bay B-52 của Mỹ tại căn cứ Utapao, Thái Lan ở  những năm 1970.

Ảnh 2: Máy bay B-52 của Mỹ ở sân bay Utapao bị đặc công Việt Nam phá hủy.
Yêu nước ST.

RẤT MONG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦU THỊ, THẤU ĐÁO!

     Ngày 03/8/2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 06/VBHN-BGDĐT, quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa; tổ chức và hoạt động của hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa. Trước nay, Quy trình biên soạn sách giáo khoa ở Việt Nam là một quy trình chặt chẽ gồm nhiều bước, từ việc lựa chọn tác giả, xây dựng đề cương chi tiết dựa trên chương trình giáo dục phổ thông, biên soạn bản thảo, thực nghiệm, thẩm định, chỉnh sửa, đến việc phê duyệt và xuất bản, nhằm đảm bảo chất lượng, tính khoa học và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục và được Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chặt chẽ. 

Tuy nhiên vừa qua, một vài bộ sách giáo khoa có nội dung sai lệch lịch sử; thiếu định hướng giáo dục gặp phải sự phản ứng của dư luận xã hội đặc biệt là phụ huynh học sinh mà người chủ biên và thẩm định bộ sách giáo khoa đó lại là người có quan điểm chính trị không tốt, đòi bỏ Điều 4 - Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đòi đa nguyên, đa đảng; phi chính trị lực lượng vũ trang.

Việc thống nhất cả nước sử dụng một bộ sách giáo khoa là quyết định đúng đắn của Bộ Giáo dục - Đào tạo, thực hiện nghiêm túc ý kiến của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được dư luận đồng tình. Nhưng dư luận xã hội cũng kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiêm túc cầu thị, tiếp thu nghiên cứu, không đưa các tác phẩm văn học, nhân vật lịch sử dư luận xã hội còn tranh cãi vào sách giáo khoa phổ thông. Vì đó không chỉ là trách nhiệm lịch sử; trách nhiệm với thế hệ mai sau mà còn là trách nhiệm với những người đã chiến đấu, hy sinh cho tổ quốc này./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “02 KIÊN ĐỊNH, 02 ĐẨY MẠNH VÀ 02 NGĂN NGỪA”: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     Phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ đạo, để thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ mới, Quân đội cần thực hiện tốt “2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa”.

Tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, các thách thức an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và những biến động sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thực hiện hai mục tiêu 100 năm, gắn với khát vọng phát triển nhanh, bền vững và xây dựng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định có ý nghĩa nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong bối cảnh đó, chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương thể hiện tư duy chiến lược, tầm nhìn toàn diện, là định hướng quan trọng để Quân đội phải tiếp tục phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược nêu trên.

“2 kiên định” - Giữ vững nền tảng tư tưởng, chính trị của Quân đội

"2 kiên định" đó là: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.

Trước hết, kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng là yêu cầu có tính nguyên tắc. Đường lối ấy khẳng định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; kiên định chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Trong điều kiện các thách thức an ninh ngày càng phức tạp, giữ vững định hướng chiến lược là cơ sở để Quân đội chủ động ứng phó, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với bản chất, truyền thống và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Trước các thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, yêu cầu đặt ra là giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí chiến đấu cao, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng cho cán bộ, chiến sĩ.

Thực tiễn năm 2025 và cả nhiệm kỳ vừa qua cho thấy Đảng bộ Quân đội và toàn quân đã quán triệt, triển khai nghiêm túc, hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Công tác xây dựng chính trị, tư tưởng được tăng cường, bảo đảm Quân đội luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, giữ vững bản chất cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị được triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở; 100% cán bộ, đảng viên, quần chúng được quán triệt, học tập nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, toàn quân thống nhất cao về ý chí và hành động, tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. 

Cán bộ, chiến sĩ không chỉ vững vàng về chính trị, tinh nhuệ trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, mà còn tinh nhuệ, hiệu quả trong ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống. Chỉ tính riêng năm 2025, Quân đội đã điều động hơn 1 triệu lượt bộ đội, dân quân tự vệ, trên 24.300 lượt tàu, thuyền, trực thăng, UAV, các loại phương tiện, cơ sở vật chất tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả ở các địa bàn bị thiên tai, bão lũ, ngập úng, sạt lở đất; tìm kiếm, cứu nạn, cấp cứu ngư dân và các lực lượng hoạt động trên biển, đảo, vùng sâu, vùng xa.

“2 đẩy mạnh” - Tạo động lực phát triển trong giai đoạn mới

"2 đẩy mạnh" đó là: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Hiện đại hóa Quân đội là yêu cầu khách quan, lâu dài, trong đó con người giữ vai trò quyết định. Toàn quân đã tổ chức huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, chú trọng huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới. Nhiều cuộc kiểm tra bắn đạn thật, hội thi, hội thao, diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật được tổ chức chặt chẽ, an toàn, đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật tiếp tục có chuyển biến tích cực; nền nếp chính quy được giữ vững, kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc tổ chức, sắp xếp lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh” tiếp tục được triển khai đồng bộ, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện tác chiến hiện đại.

Năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng về công nghiệp quốc phòng, khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, tạo nền tảng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Việc từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền; nghiên cứu, chế tạo nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại; đẩy nhanh chuyển đổi số trong chỉ huy, quản lý, huấn luyện… đã góp phần quan trọng thúc đẩy mục tiêu xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại.

Theo đó, ngành công nghiệp quốc phòng có bước tiến về tự chủ công nghệ lõi, công nghệ nền, thiết kế, chế tạo thành công một số dòng tên lửa, phương tiện bay không người lái đa năng, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp bơi, lội nước…; hoạt động sản xuất – kinh tế quốc phòng đạt kết quả tích cực, doanh thu tăng 14,4% so với năm 2024. Phong trào nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo được đẩy mạnh với hàng chục công trình, sản phẩm được trao Giải thưởng sáng tạo khoa học-công nghệ Việt Nam (tăng 50% so với năm 2024); hơn 1.000 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được ứng dụng hiệu quả.

Năm 2025 cũng là năm bứt tốc về chuyển đổi số khi 100% cơ quan, đơn vị ban hành văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số cá nhân; mạng truyền số liệu quân sự kết nối tới hơn 90% đầu mối, trong đó 100% đầu mối cấp 1, 2, 3, hướng tới hoàn thành kết nối cấp 4 trong quý I-2026. Nhiều hệ thống hỗ trợ chỉ huy, tham mưu tác chiến và tự động hóa chỉ huy tại các lực lượng được triển khai, góp phần nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, điều hành trong điều kiện tác chiến hiện đại. Đặc biệt, nền tảng “bình dân học vụ số” với 60 khóa học và 200 học liệu số góp phần phổ cập kỹ năng số cho cán bộ, chiến sĩ, đưa chuyển đổi số đi vào nền nếp, thực chất.

Về đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Đây là yêu cầu khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thực tiễn chứng minh, việc tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương và đa phương đã và đang góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế, đồng thời tạo điều kiện để Quân đội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao năng lực tổ chức, chỉ huy, phối hợp quốc tế. Quá trình hội nhập luôn bảo đảm nguyên tắc độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trên bình diện song phương, nhiều hoạt động mang dấu ấn rõ nét như Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam–Trung Quốc lần thứ 9; Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam–Campuchia lần thứ 2 (gắn với các hoạt động dân sinh thiết thực như xây tặng trường học vùng biên); tuần tra liên hợp, các cuộc tham vấn, đối thoại chính sách quốc phòng và trao đổi đoàn các cấp tiếp tục duy trì hiệu quả. Những hoạt động này không chỉ củng cố quan hệ hữu nghị, mà còn góp phần làm sâu sắc hiểu biết, tăng cường niềm tin, giữ vững hòa bình, hợp tác và phát triển.

Trên kênh đa phương, Việt Nam tham gia chủ động, trách nhiệm, góp phần xây dựng lòng tin và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế. Nổi bật là việc tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) lần thứ 19 tại Kuala Lumpur; tham gia Đối thoại Shangri-La lần thứ 22 tại Singapore, Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 12 và nhiều cơ chế, diễn đàn quan trọng khác. Qua đó, Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác; làm rõ chính sách quốc phòng “4 không”, củng cố lòng tin chiến lược, mở rộng cơ hội hợp tác. Hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tiếp tục triển khai đúng hướng, an toàn, hiệu quả như cử sĩ quan luân phiên, triển khai Đội Công binh số 4 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 7 thực hiện nhiệm vụ tại Abyei và Phái bộ Nam Sudan… Đồng thời, các chương trình phối hợp khắc phục hậu quả chiến tranh về bom mìn, chất độc hóa học tiếp tục được triển khai nghiêm túc, nhân văn và thiết thực.

“2 ngăn ngừa” – tư duy chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

"2 ngăn ngừa" đó là: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột. Ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân.

Trong điều kiện hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, việc chủ động phòng ngừa, không để bị cuốn vào các xung đột là yêu cầu cấp thiết. Điều này đòi hỏi Quân đội phải không ngừng nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược; nắm chắc tình hình; kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp xử lý đúng đắn các vấn đề về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động, bất ngờ. Hoạt động đối ngoại quốc phòng không chỉ mang ý nghĩa hợp tác mà còn góp phần kiểm soát bất đồng, củng cố niềm tin, duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Ngăn ngừa nguy cơ từ bên ngoài đồng thời ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn từ bên trong có thể làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nếu không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, bản chất cách mạng của Quân đội. Do đó, phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Quân đội; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; gắn công tác kiểm tra, giám sát với giữ nghiêm kỷ luật Đảng, kỷ luật Quân đội.

"2 ngăn ngừa" này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau nhằm giữ "trong ấm ngoài êm" để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thực tế những năm qua, Quân đội luôn thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát; tổ chức tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thực chất. Công tác xây dựng Đảng được triển khai có chiều sâu, từ chuẩn bị, tổ chức chặt chẽ đại hội đảng các cấp; rà soát, chuẩn y kết quả bầu cử; ban hành quy chế lãnh đạo, quy chế làm việc, đến đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và thi hành kỷ luật Đảng... Vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, được đề cao, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, củng cố sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng Quân đội trong sạch, vững mạnh, tạo “lá chắn” ngăn ngừa suy thoái từ khi còn là mầm mống.

“2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa” là sự kết tinh giữa tư duy chiến lược và thực tiễn xây dựng Quân đội trong giai đoạn mới, thể hiện quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ; giữa phát triển và phòng ngừa; giữa kiên định và đổi mới sáng tạo. Phát huy những kết quả đạt được, những năm tới việc quán triệt, thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, hiệu quả các nội dung này sẽ góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống./.
Yêu nước ST.

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH.....!!!!!

     Đó là nỗi buồn, nỗi đau khi đất nước, Tổ quốc Việt Nam chịu sự chia cắt ròng rã suốt hơn 21 năm trời.

Đó là nỗi buồn khi hàng triệu đồng bào, chiến sĩ phải hi sinh dưới bom đạn kẻ thù, nỗi đau khi miền Nam ruột thịt bị ngoại bang xâm lược, bị chế độ tay sai kìm kẹp. Nỗi buồn chiến tranh đó kéo dài đến tận bây giờ khi vẫn còn hơn 175.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, cũng có thể mãi mãi sẽ không quy tập được, nằm sâu vĩnh viễn trong lòng đất mẹ Việt Nam.

Những ai đang xuyên tạc, cố tình phủ nhận cuộc đấu tranh, kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam bằng luận điệu đó là "cuộc nội chiến", thử hỏi, người đó sẽ trả lời sao về 504 dân thường bị quân đội Mỹ thảm sát tại làng Mỹ Lai năm 1968, họ sẽ biện hộ gì về hơn 43 cuộc thảm sát của Quân đội Đại Hàn trên đất Việt khiến hàng ngàn dân thường thiệt mạng, họ sẽ thấy như thế những hình ảnh đêm kinh hoàng 26/12/1972 khi Không quân Mỹ ném bom khu phố Khâm Thiên, cướp đi sinh mạng của 287 thường dân, họ có cảm thấy đau lòng khi có đến 4.8 triệu đồng bào Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam do Đế quốc Mỹ để lại cùng hàng loạt nỗi đau, tội ác chiến tranh đến bây giờ vẫn âm ỉ khi nhắc đến.

Trong một bài trả lời phỏng vấn tháng 7/2024, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu một thông điệp rất ý nghĩa, nhân văn, đó là "Việt Nam gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt để biến thù thành bạn". Chúng ta không kích động thù hằn dân tộc, nhưng lịch sử luôn cho chúng ta những bài học máu xương trong quá trình bảo vệ đất nước...nhưng một khi lãng quên, chúng ta, thế hệ con cháu chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TRUNG QUỐC PHẢN ĐỐI MỸ BÁN VŨ KHÍ CHO ĐÀI LOAN!

     Trong bối cảnh Trung Quốc bước sang ngày thứ hai của cuộc tập trận bắn đạn thật quy mô lớn mang tên “Sứ mệnh Công lý 2025” xung quanh Đài Loan, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị ngày 30/12 đã đưa ra tuyên bố cứng rắn, khẳng định Bắc Kinh “không thể không phản đối và sẽ chống trả quyết liệt” việc Mỹ phê duyệt gói bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 110 tỷ USD (tương đương khoảng 1.700 nghìn tỷ yên).

Phát biểu tại một hội thảo ở Bắc Kinh, ông Vương Nghị chỉ trích mạnh mẽ các lực lượng mà Trung Quốc gọi là “đòi độc lập Đài Loan”, đồng thời lên án Washington vì liên tục đẩy mạnh hoạt động bán vũ khí cho hòn đảo này. Theo ông, những động thái đó đã xâm phạm nghiêm trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc và buộc Bắc Kinh phải có phản ứng cứng rắn để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đáng chú ý, tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc được đưa ra chỉ khoảng một giờ sau khi quân đội nước này thông báo đã tiến hành diễn tập bắn đạn thật tầm xa tại vùng biển phía bắc Đài Loan, động thái làm gia tăng đáng kể mức độ căng thẳng trong khu vực.

Mặc dù chưa từng kiểm soát hay cai trị Đài Loan, Trung Quốc vẫn kiên quyết coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời và không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để đạt mục tiêu thống nhất. Ông Vương Nghị cảnh báo, mọi nỗ lực nhằm cản trở tiến trình thống nhất Trung Quốc – Đài Loan “nhất định sẽ thất bại”.

Chuỗi tuyên bố cứng rắn cùng các hoạt động quân sự dồn dập đang khiến eo biển Đài Loan tiếp tục là một trong những điểm nóng an ninh nguy hiểm nhất châu Á, thu hút sự theo dõi sát sao của cộng đồng quốc tế./.
Môi trường ST.

BÀI THƠ “CHẠY GIẶC” CỦA CỤ ĐỒ - NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU!

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

- Thơ Chạy giặc - Nguyễn Đình Chiểu -

Bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là tiếng khóc xót xa cho dân lành…
Mà còn là một bản cáo trạng đạo lý đối với kẻ đã mở cửa cho ngoại bang giày xéo đất nước.

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây…”
Không phải giặc từ đâu xa tự nhiên tràn tới…
Mà là hậu quả trực tiếp của việc Nguyễn Ánh cầu viện thực dân Pháp, đổi chủ quyền lấy ngai vàng.

Một bàn cờ thế phút sa tay…
Nước mất, dân tan…
Không phải do dân yếu…
Mà do triều đình đã đặt lợi ích dòng họ lên trên vận mệnh quốc gia.

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy…”
“Mất ổ bầy chim dáo dác bay…”
Đây là hình ảnh của nhân dân vô tội…
Những con người không có lựa chọn nào khác ngoài chạy trốn chính cuộc chiến do kẻ cầm quyền gây ra.

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước…”
“Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”
Vùng đất phồn thịnh bỗng hóa tro tàn…
Không phải vì thiên tai…
Mà vì súng đạn Tây dương được rước vào từ chính triều đình nhà Nguyễn.

Và câu hỏi đau đớn nhất nằm ở hai câu cuối:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

Đây không chỉ là câu hỏi…
Mà là lời kết tội.

Khi giặc đến…
Vua ở đâu?
Triều đình ở đâu?
Những kẻ nhân danh “bình định”, “thống nhất” ở đâu…
Khi dân đen phải bỏ nhà, trẻ nhỏ thất tán, non sông nhuốm máu?

Nguyễn Đình Chiểu không cần gọi thẳng tên Nguyễn Ánh…
Nhưng lịch sử thì gọi rất rõ.

Tội lớn nhất của Nguyễn Ánh và triều Nguyễn khởi đầu…
Không phải chỉ là thất bại quân sự…
Mà là phản bội lợi ích dân tộc, mở đường cho thực dân,
Để rồi người dân Việt Nam phải gánh chịu hơn một thế kỷ nô lệ.

Đọc “Chạy giặc”…
Không phải để oán hận…
Mà để nhớ cho đúng,
Và hiểu rằng:
Bất kỳ quyền lực nào đặt ngai vàng lên trên Nhân Dân…
Đều sẽ để lại những “chợ tan”, “dân chạy”, và “nỗi nhục mất nước” trong lịch sử.

Lịch sử không dùng để kết tội cảm tính…
Nhưng lịch sử cũng không cho phép lãng quên trách nhiệm./.
Yêu nước ST.