Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

 

TIẾNG VE KÊU LẠC LÕNG


         Những ngày qua, trên mạng xã hội phát tán một số bài viết có nội dung cực kỳ phản động, xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận, hạ thấp vai trò và uy tín của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó có bài: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có mị dân? Có vô cảm? VietTuSaiGon cho rằng: Đến nay, việc đặt câu hỏi “ngày đại đoàn kết toàn dân” có vô cảm, mị dân không? vấn đề gốc rễ mà VietTuSaiGon nhắm đến là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có mị dân và vô cảm không?

Xin khẳng định là không. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mị dân hay vô cảm.

 Chúng ta đều biết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tôn chỉ, mục đích hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam rất rõ ràng, vậy mà, những kẻ như VietTuSaiGon dám đặt điều: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có mị dân? Có vô cảm? đây đúng là hành động thâm độc, bịa đặt trắng trợn, hòng gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

 Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc và mỗi người Việt Nam. Giai đoạn 1930-1945, Mặt trận đã tập hợp toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giành thắng lợi vĩ đại của cách mạng Tháng Tám năm 1945. Giai đoạn 1945-1954, Mặt trận đã tập hợp nhân dân, không phân biệt già, trẻ, gái trai, tôn giáo, đảng phái, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiêu diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, giành chiến thắng Điện Biên Phủ “ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Giai đoạn 1954-1975, Mặt trận tập hợp nhân dân miền Bắc trở thành hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam; miền Nam giương cao ngọn cờ đoàn kết rộng rãi, chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ, sự đàn áp khốc liệt của chính quyền tay sai, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

 Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng thể hiện rõ vai trò người đại diện, tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hằng năm, Mặt trận vận động các tầng lớp nhân dân ủng hộ hàng nghìn tỷ đồng cho công cuộc xóa đói nghèo; trong đại dịch Covid-19 và trong thảm họa thiên tai.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HY VỌNG CHÚNG TA SẼ THÀNH CÔNG!

 

Theo đánh giá của giới chuyên môn, lượng vắc xin ngừa COVID-19 sản xuất được trên thế giới hiện nay chỉ bằng 20% so với nhu cầu, nếu Việt Nam tự sản xuất được vắc xin hiệu quả, người Việt sẽ sớm được sử dụng vắc xin này.

Chiều 20-12, tức 3 ngày sau khi các tình nguyện viên đầu tiên được tiêm thử vắc xin ngừa COVID-19, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và lãnh đạo Bộ Y tế đã đến thăm hỏi các tình nguyện viên này.

Tròn 3 ngày sau khi thực hiện tiêm thử vắc xin ngừa COVID-19 do Công ty Nanogen (Việt Nam) sản xuất, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và lãnh đạo Bộ Y tế đã đến thăm các tình nguyện viên đang được theo dõi tại Viện Nghiên cứu y dược học quân sự, Học viện Quân y.

Một trong số 3 tình nguyện viên đã chuẩn bị sẵn một bức vẽ chân dung Phó thủ tướng Đam để xin chữ ký của chính ông.

Trao đổi với Phó thủ tướng và lãnh đạo Bộ Y tế, cả 3 tình nguyện viên, gồm 2 người đang là sinh viên (20 tuổi) và 1 là giáo viên (40 tuổi), cho biết sức khỏe của họ đều rất ổn.

“Sau khi được tiêm tôi thấy hơi hồi hộp, nhưng sức khỏe đến nay đều rất ổn” - 1 trong 3 tình nguyện viên cho biết.

Ngay sau cuộc gặp mặt, các tình nguyện viên được về nhà, bắt đầu trở lại cuộc sống học tập, làm việc bình thường.

Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục tiêm vắc xin cho toàn bộ nhóm tình nguyện viên còn lại (gần 60 người, độ tuổi 18-50).

Đợt thử nghiệm vắc xin này nhằm đánh giá tính an toàn của vắc xin, với 3 loại liều được sử dụng là 25 mcg, 50 mcg và 75 mcg.

Tháng 3-2021 tới, dự kiến có 600 người từ 12 tuổi trở lên được tiêm thử nghiệm. Đợt thử nghiệm vào tháng 3-2021 sẽ đánh giá tính an toàn và tính sinh miễn dịch của vắc xin.

Theo đề cương nghiên cứu của Hội đồng y đức Bộ Y tế thẩm định và phê duyệt, giai đoạn 1 thử nghiệm lâm sàng vắc xin NanoCovax có 60 người tình nguyện tham gia và chia làm 3 nhóm liều vắc xin (20 người tham gia nhóm liều tiêm 25mg, 20 người tham gia nhóm liều 50mg, 20 người tham gia nhóm liều 75mg).

Đây là giai đoạn đánh giá liều nào an toàn nhất để làm cơ sở chuyển sang giai đoạn 2. Giai đoạn 2 sẽ đánh giá khả năng sinh miễn dịch. Giai đoạn 3 cần được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học quốc gia thông qua trước khi được triển khai tiếp theo.

Về phía người tình nguyện, họ cần phải được đọc, được giải thích và được tư vấn rõ ràng về nhiệm vụ, về trách nhiệm khi tham gia tiêm thử nghiệm, đồng thời phải bảo đảm sức khỏe, các chỉ số sinh học được đánh giá bình thường.

Tại Việt Nam có 4 đơn vị đang phát triển vắc xin ngừa COVID-19, trong đó Nanogen là đơn vị đầu tiên tiến đến bước thử nghiệm vắc xin trên người.

Tháng 2 và 3-2021 sẽ có thêm 2 vắc xin Việt Nam thực hiện giai đoạn thử nghiệm này. Hiện nay, công suất sản xuất của Nanogen là 600.000 liều vắc xin Nanocovax/lô sản xuất nhưng khi nâng công suất, công ty này có thể cung cấp 5 triệu liều/tháng.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, lượng vắc xin ngừa COVID-19 sản xuất được trên thế giới hiện nay chỉ bằng 20% so với nhu cầu, nếu Việt Nam tự sản xuất được vắc xin hiệu quả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BUỔI LỄ SẮC PHONG QUÂN HÀM ĐẠI TƯỚNG CHO ĐỒNG CHÍ VÕ NGUYÊN GIÁP NĂM 1948

 

Vào 13 giờ chiều ngày 28-5-1948 tại Nà Lọm, xã Phú Đình, ATK ở Định Hóa, Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ thụ phong chức Đại tướng đầu tiên của quân đội ta cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy Quân đội và Dân quân tự vệ Việt Nam.

Trước đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 19-1-1948 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phong quân hàm cấp tướng, tá cho cán bộ Quân đội.

Ngày 20-1-1948 tại Phủ Chủ tịch – mái lán cọ đơn sơ ở Khuôn Tát (xã Phú Đình), Chủ tịch hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm cấp tướng cho một số Cán bộ Lãnh đạo – Chỉ huy Quân đội.

Quân hàm Đại tướng: Võ Nguyên Giáp.

Quân hàm Trung tướng: Nguyễn Bình.

Quân hàm Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình.

Về lễ thụ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ tài chính Lê Văn Hiến kể lại: “Ngày 23-5-1948 từ cơ quan Bộ tài chính ở thôn Cả, nay là xã Phú Thịnh, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang, đi họp Hội đồng Chính phủ. Ngày 25-5-1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia họp đến 12 giờ đêm “bàn đến thủ tục làm lễ thụ phong chức Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Chương trình đơn giản nhưng long trọng”. Ngày 28-5-1948 cũng là một ngày lịch sử, vì là ngày làm lễ thụ phong chức Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Đáng lẽ lễ cử hành buổi sáng nhưng mưa to quá, suối đầy nước lội không qua được… Qua 12 giờ trưa, trời cũng bắt đầu tạnh mưa. Ăn xong, nghỉ một chốc đến 1 giờ chiều đi đến địa điểm làm lễ thụ phong.”

Trong một căn nhà dựng bên suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín, ở ngài trông vào rất khó thấy mà máy bay cũng khó lòng sục sạo. Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”… trông đơn giản mà trang nghiêm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Bùi Đằng Đoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội, lên đứng hai bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng trước bàn thờ (đồng chí Cù Huy Cận – thư ký Hội đồng Chính phủ, Phan Mỹ - Chánh văn phòng Chính phủ…).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tay cầm sắc lệnh gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt… Một phút vô cùng cảm động, mọi người đều rớm nước mắt. Giây lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều binh khiển sĩ làm trọn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh. Cụ trưởng ban Thường trực nhân danh Quốc hội tuyên bố mấy lời. Luật sư Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng lên nói lời cảm ơn Chủ tịch Hồ CHí Minh, Quốc hội và Chính phủ, tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn trách nhiệm để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước. Đồng chí lần lượt bắt tay từng người. Rồi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố bế mạc buổi lễ.

Ai nấy ngồi chung quanh Bác Hồ và nghe Người bày tỏ xúc cảm của Người. Trước những ngày lễ có tính long trọng, Người không thể nào không nhớ đến các tiền liệt, các bạn đồng chí từ bao nhiêu năm chiến đấu cho đất nước, chịu bao nỗi gian lao, khổ sở, người hy sinh chỗ này, người hy sinh chỗ nọ, nhờ sự hy sinh anh dũng đó nên mới có ngày nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiểu như thế nào là ''Tự do tôn giáo ở Việt Nam''

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Chính sách còn nguyên giá trị Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán. Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc Chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ. Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội... Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp. Phải có hàng rào pháp luật Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy! Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo. Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này.

Phát huy vai trò nòng cốt của CAND chủ động bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

 

Phát huy vai trò nòng cốt của CAND chủ động bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Theo Thượng tướng Bùi Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng Tiểu ban an ninh, trật tự Đại hội đảng các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng: Nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng từ sớm, từ xa, trên phạm vi cả nước, “kiên quyết không để bị động, bất ngờ; không để xảy ra bất cứ sơ suất nào” đã được lực lượng Công an nhân dân (CAND) quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng từ sớm, từ xa, trên phạm vi cả nước, “kiên quyết không để bị động, bất ngờ; không để xảy ra bất cứ sơ suất nào” đã được lực lượng (CAND) quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 25/6/2019, đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-BCA về công tác Công an bảo đảm an ninh, trật tự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với 11 nhiệm vụ trọng tâm; ban hành Kế hoạch số 234/KH-BCA-V01 về tổng thể công tác Công an bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng với 9 nhóm công tác trọng tâm.

Trong đó, Bộ Công an xác định “bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn lực lượng Công an; huy động đồng bộ lực lượng, phương tiện, triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, phục vụ tổ chức thành công Đại hội”; phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng cục nghiệp vụ và Công an địa phương. Bộ Công an đã thành lập Tiểu ban An ninh, trật tự của Đại hội; phân công các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an tham gia lãnh đạo Tiểu ban để tập trung chỉ huy, chỉ đạo mọi công tác liên quan bảo đảm an ninh, trật tự đại hội đảng các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

Triển khai các Chỉ thị, Kế hoạch của Bộ Công an, lực lượng Công an đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của lực lượng Quân đội nhân dân, các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, sự ủng hộ và tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp và nhân dân triển khai công tác bảo đảm an ninh, trật tự đại hội đảng các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng.

Lực lượng Công an đã chủ động nắm chắc tình hình bên trong, bên ngoài, các đối tác, đối tượng, tình hình an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng, an ninh xã hội, âm mưu, hoạt động chống phá đại hội đảng các cấp và Đại hội XIII của Đảng của các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu. Bộ Công an đã có hàng nghìn báo cáo, tham mưu với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp những chủ trương, quyết sách có ý nghĩa chiến lược về bảo vệ an ninh, lợi ích quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phục vụ tổ chức thành công đại hội đảng các cấp và quá trình chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII của Đảng.

Công an các đơn vị, địa phương đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp thẩm định tiêu chuẩn chính trị hàng trăm nghìn nhân sự tham gia cấp ủy nhiệm kỳ mới, đại biểu dự đại hội Đảng cấp trên, kịp thời phát hiện, kiến nghị những vấn đề về cán bộ, đảng viên có quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, vi phạm tiêu chuẩn chính trị, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Đồng thời, theo sự phân công, lực lượng Công an đã tập trung lực lượng tham gia thẩm tra tiêu chuẩn chính trị số cán bộ, công nhân viên phục vụ đại hội; phối hợp với Ban tổ chức đại hội và các cơ quan chức năng của cấp ủy các cấp nắm tình hình, phát hiện, đề xuất xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, lộ, lọt bí mật nhà nước trong quá trình diễn ra đại hội; tập trung điều tra làm rõ và khẩn trương kết luận các vụ án, vụ việc có liên quan đến nhân sự cấp ủy, phục vụ công tác nhân sự đại hội. 

Lực lượng Công an đã kịp thời báo cáo những dấu hiệu phức tạp về chính trị nội bộ trước, trong và sau đại hội để Ban Bí thư, Bộ Chính trị có chủ trương, biện pháp giải quyết phù hợp; đồng thời, tổ chức thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa lực lượng Công an chuyên trách làm công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ với các cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng và các bộ, ngành liên quan trong công tác bảo vệ đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối, Cương lĩnh của Đảng, lực lượng Công an xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đại hội đảng bộ các cấp, chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng được tổ chức, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, bôi lem, phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn lực lượng Công an đã tích cực tham gia công tác đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm an ninh mạng, ngăn chặn, vô hiệu hóa thông tin xấu, độc, sai sự thật, thông tin giả. 

Theo sự phân công của Ban Chỉ đạo 35 của Trung ương, Bộ Công an đã xây dựng, triển khai thực hiện Kế hoạch bảo đảm an ninh thông tin truyền thông phục vụ Đại hội XIII của Đảng; đăng tải, chia sẻ hàng trăm nghìn bài viết, hình ảnh, video clip, phóng sự tuyên truyền, định hướng dư luận phản bác luận điệu sai trái, thù địch, hàng chục nghìn tin, bài tuyên truyền về công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. 

Đồng thời, Công an các đơn vị, địa phương đã triển khai lực lượng tổ chức xác minh, đấu tranh với hàng nghìn đối tượng, củng cố tài liệu chứng cứ, xử lý hình sự, hành chính hàng trăm đối tượng, giáo dục thuyết phục hàng nghìn đối tượng có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai sự thật, phá rã hàng trăm hội, nhóm trái pháp luật trên không gian mạng có hoạt động chống phá đại hội đảng; kiên quyết xử lý, kể cả xử lý về hình sự những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Lực lượng Công an đã chủ động, kịp thời tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành chức năng giải quyết từ sớm, tại chỗ các vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn nội bộ, không để phức tạp, lan rộng, kéo dài; không để khiếu kiện đông người, vượt cấp lên Trung ương; tập trung rà soát, thống kê, phân loại, tham mưu giải quyết dứt điểm các vụ việc tiềm ẩn nguy cơ trở thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Đối với các vụ việc còn phức tạp, lực lượng Công an đã đề xuất phương án kiềm chế, phong tỏa, không để các đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động gây phức tạp thêm tình hình; không để tụ tập khiếu kiện đông người tập trung về Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; giữ vững an ninh, trật tự tại các vùng chiến lược, các thành phố lớn trong suốt thời gian diễn ra đại hội đảng các cấp và chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng.

Trong suốt quá trình tổ chức đại hội đảng bộ các cấp và chuẩn bị Đại hội lần thứ XIII của Đảng, lực lượng Công an đã liên tục mở các cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, hạ quyết tâm đấu tranh trừng trị các loại tội phạm. Tổ chức điều tra, bóc gỡ các đường dây, băng nhóm tội phạm, triệt xóa cơ bản các tụ điểm tệ nạn xã hội phức tạp, kiềm chế gia tăng số vụ phạm tội; thực hiện cao điểm vận động toàn dân giao nộp và đấu tranh với tội phạm, vi phạm pháp luật về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; tổng kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy; cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, ngăn chặn việc đưa người Việt Nam xuất/nhập cảnh trái phép, người nước ngoài nhập cảnh trái phép, đẩy lùi các nguy cơ khủng bố, phá hoại, làm trong sạch địa bàn, góp phần tích cực phòng, chống dịch bệnh COVID-19 phục vụ tổ chức đại hội.

Để bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội XIII của Đảng với yêu cầu “bảo đảm an ninh là yêu cầu nghiêm ngặt nhất, chủ động phòng ngừa là chính”; công tác bảo đảm an ninh, an toàn không chỉ tại Hà Nội (nơi diễn ra Đại hội) mà phải triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước, tuyệt đối không để xảy ra vấn đề/vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, ảnh hưởng đến quá trình chuẩn bị, tổ chức Đại hội. 

Đặc biệt, trong những ngày diễn ra Đại hội, song song với việc huy động toàn lực lượng, triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, lực lượng Công an đã chủ động xây dựng các phương án bố trí lực lượng, thế trận bảo đảm an ninh, an toàn với nhiều vòng, nhiều lớp. Lực lượng An ninh, Tình báo tổ chức công tác bảo đảm an ninh từ xa, từ sớm, từ bên ngoài, đồng bộ với các biện pháp nghiệp vụ của các lực lượng triển khai công tác an ninh, trật tự trong nội địa. 

Tại các khu vực, địa điểm diễn ra hoạt động của Đại hội lần thứ XIII và nơi ăn, nghỉ của đại biểu, lực lượng Công an đã chủ động, phối hợp với các Tiểu ban phục vụ tổ chức Đại hội, các ban, bộ, ngành liên quan, nhất là Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế khảo sát, xây dựng phương án bố trí lực lượng, phương tiện bảo đảm an ninh, trật tự; tổ chức lực lượng chốt chặn, tuần tra, kiểm soát vòng trong, vòng ngoài; rà soát, xét duyệt chặt chẽ nhân sự phục vụ đại hội; phương án điều tiết phân luồng giao thông, bảo đảm an toàn phòng cháy…, loại trừ mọi nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến sơ suất trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự.

Cho đến thời điểm hiện nay, công tác bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ tổ chức Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng với cấp độ cao nhất, sẵn sàng bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Quá trình triển khai các biện pháp công tác bảo đảm an ninh, trật tự, có thể rút ra một số nhận thức sau đây: 

Một là, bám sát và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả mọi chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp và đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng là yếu tố then chốt quyết định chất lượng, hiệu quả công tác bảo đảm an ninh, trật tự. 

Hai là, công tác bảo đảm an ninh, trật tự phải được triển khai chủ động, từ sớm, từ xa, ngay từ quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, huy động toàn lực lượng CAND dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của lãnh đạo Bộ Công an, phát huy tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, chiến sỹ ở từng vị trí công tác, đề cao trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy.

Ba là, đặc biệt coi trọng phối hợp giữa lực lượng Công an với lực lượng Quân đội và các cơ quan, ban, ngành có liên quan, tranh thủ tuyệt đối sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân trong triển khai các mặt công tác bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ tổ chức đại hội.

Bốn là, trong công tác bảo vệ đại hội đảng các cấp, vấn đề cơ bản, quan trọng nhất là phải làm tốt công tác phòng ngừa, “giữ vững bên trong” là chính, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị nội bộ, chú trọng bảo đảm an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng; chủ động, kịp thời tham mưu giải quyết có hiệu quả các yếu tố tiềm ẩn phức tạp đối với an ninh quốc gia gắn với đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường trong sạch phục vụ đại hội. 

Năm là, chủ động thiết lập các vòng tuyến an ninh, an toàn nơi diễn ra đại hội với các phương án bố trí lực lượng, phương tiện cụ thể; thường xuyên kiểm tra, rà soát, bảo đảm bịt kín mọi sơ hở, thiếu sót; chủ động phương án xử lý các tình huống có thể xảy ra.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã sắp đến, được sự chỉ đạo của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ, ngày 10/1/2021, Bộ Công an tổ chức Lễ xuất quân và diễn tập phương án bảo vệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đánh dấu thời điểm toàn lực lượng CAND, Quân đội nhân dân và các lực lượng tham gia công tác bảo đảm an ninh, trật tự đại hội bước vào trạng thái sẵn sàng cao nhất trong triển khai lực lượng, phương tiện, các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự đại hội. 

Lực lượng Công an, Quân đội tập trung rà soát, hoàn thiện các phương án, kế hoạch bảo vệ, xử lý các tình huống phức tạp nảy sinh gắn với tăng cường bảo đảm an ninh, trật tự trên các lĩnh vực, trọng tâm là bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng, an ninh vùng trời, an ninh biên giới; quyết liệt đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm hình sự, tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao; huy động sức mạnh tổng hợp cả hệ thống chính trị, toàn dân, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong công tác bảo vệ đại hội.

Với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, toàn lực lượng CAND xin hứa sẽ nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ, triển khai quyết liệt, có hiệu quả các phương án, kế hoạch, dành toàn tâm, toàn lực, nỗ lực phấn đấu để bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn phục vụ tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

 

Nhận thức về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự

Cho đến nay, cả nước đã hoàn thành nhiệm vụ tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ năm 2019. Số lượng thanh niên nhập ngũ trong cả nước lên đến hàng vạn người. Cũng như nhiều năm trước, trong đợt tuyển quân năm nay đã có nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học, có việc làm, thu nhập ổn định nhưng vẫn làm đơn tình nguyện nhập ngũ. Cá biệt có gia đình hai anh em cùng làm đơn xin được nhập ngũ trong một đợt. Trả lời phỏng vấn báo chí trong dịp lên đường nhập ngũ, nhiều thanh niên đã bày tỏ những suy nghĩ chân thành của mình: “Ngay từ khi còn nhỏ, em đã mong được mặc bộ quân phục màu xanh, làm anh Bộ đội Cụ Hồ”. Có người thì nói: “Em luôn mong muốn có dịp được sống trong quân ngũ để rèn luyện những phẩm chất cao quý của thanh niên… tiếp tục phát huy truyền thống của dân tộc ta”. Có người chia sẻ: “Bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của dân tộc là trách nhiệm, vinh dự của thế hệ trẻ… Chúng em hiểu trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của thế hệ trẻ, nhất là trong tình hình hiện nay”. Thế nhưng trên internet, mạng xã hội đã có kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tán phát thông tin xấu độc. Chẳng hạn, có kẻ viết: “Chính sách nghĩa vụ quân sự thực chất là chạy đua vũ trang”; “ Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”... Những “phản biện” nói trên công bằng mà nói, có thể do thiếu hiểu biết về đường lối, chính sách quốc phòng, về Luật Nghĩa vụ quân sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng đã có kẻ xấu lợi dụng dịp này để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mục đích của họ là phá hoại mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, đặc biệt là với quân đội. Đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta có cơ sở lịch sử, chính trị, pháp lý minh bạch. Trước hết, đó là vì dân tộc ta phải thường xuyên chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy, không có một thế kỷ nào nhân dân ta không phải chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhận thức đúng về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự Ngay từ thời kỳ phong kiến, các triều đại trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”(2). Chính sách này ra đời trong bối cảnh-một đất nước đất không rộng, người không đông, lại thường xuyên bị các thế lực nước ngoài xâm lược. Chính sách “ngụ binh ư nông” là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ... Ngày nay, những nguy cơ, thách thức cũ vẫn còn đó thì lại có thêm những nguy cơ, thách thức mới. Đó là bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và hạnh phúc của nhân dân. Gắn liền với nguy cơ, thách thức đó là phương thức chống phá của các thế lực thù địch-đó là chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Về kỹ thuật, đó là việc các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội làm phương thức chống phá mới. Ứng phó với tình hình đó, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta đã có những điểm mới. Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền”… Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là “tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh”; “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”. Đảng và Nhà nước ta cũng đã công khai hóa chính sách quốc phòng của Nhà nước ta. Đó là: “Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ. Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác”.(3) Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua là sự thể chế hóa Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (Điều 15); “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (Điều 16). Luật Nghĩa vụ quân sự quy định nghĩa vụ quân sự là “Nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân;… Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của luật này” (Điều 4). Luật Nghĩa vụ quân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc-chế độ trong tình hình mới. Về mặt lý luận cũng như thực tế, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự không làm tăng quân số tuyệt đối, không nhằm chạy đua vũ trang… mà chỉ nhằm luân chuyển nhân lực từ dân sự sang quân sự và ngược lại (đó là những đợt ra quân theo định kỳ hằng năm). Ý kiến “phản biện” rằng: “Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”, nếu không nói là một luận điệu chính trị xấu độc thì cũng thể hiện sự hiểu biết ấu trĩ về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội ta nói riêng trong thời bình. Thực tế cho thấy, ngay trong thời chiến, Quân đội ta vẫn dành một lực lượng nhất định tham gia sản xuất (phục vụ quốc phòng và dân sinh)… Hiện nay, không ít đơn vị quân đội đang làm đồng thời cả hai nhiệm vụ-kinh tế và quốc phòng, như một số đơn vị quân đội làm kinh tế, tự đáp ứng một phần nhu cầu, giảm thiểu gánh nặng ngân sách cho Nhà nước. Hoặc các bệnh viện quân đội vừa là một cơ sở y tế trong hệ thống y tế quốc gia, vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng phục vụ cứu chữa trong thời chiến. Trong thời bình, ở những bệnh viện này, không chỉ cán bộ, chiến sĩ quân đội được chữa trị mà còn có cả những bệnh nhân dân sự… nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Trên lĩnh vực phòng, chống thiên tai, quân đội luôn là lực lượng nòng cốt và có không ít cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ-cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai trên khắp mọi miền Tổ quốc. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề kinh tế-xã hội khó khăn, như ô nhiễm môi trường, những sơ hở trong quản lý kinh tế-dịch vụ công… để kích động người dân chống lại chính quyền. Hành vi “bất tuân dân sự”-là kịch bản trong đó, những phần tử cầm đầu tập hợp lực lượng, tụ tập đông người, biểu tình gây rối… từng bước đi đến bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào ngoại bang. Vì vậy, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng ngày càng quyết liệt. Trên mặt trận ấy, các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam lại là một trong những lực lượng tiên phong... Mục tiêu của cách mạng Việt Nam ngày nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện và tiền đề để thực hiện mục tiêu đó là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định xã hội. Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là góp phần đưa dân tộc ta đi đến mục tiêu đó.

Đẩy mạnh thi đua, kế tục truyền thống anh hùng

Với đặc thù đứng chân phân tán ở địa bàn chiến lược các địa phương phía Nam, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 596, Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL) luôn chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm cao cho cán bộ, chiến sĩ; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm TTLL, SSCĐ trong mọi tình huống. Thời gian qua, ngoài nhiệm vụ bảo đảm TTLL, SSCĐ và nhiệm vụ Binh chủng TTLL giao, Lữ đoàn 596 còn thực hiện nhiều nội dung, nhiệm vụ đột xuất: Ứng phó với thiên tai; phòng, chống dịch Covid-19; thay thế, lắp đặt các trang bị khí tài mới, triển khai nhiều công trình thông tin... Với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là “Phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, tập trung trí tuệ, giữ vững kỷ cương, đề cao nêu gương, thi đua quyết thắng (TĐQT)”, cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị luôn an tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, lữ đoàn tập trung bảo đảm TTLL thông suốt phục vụ các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đất nước, quân đội, thông tin phục vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm TTLL, truyền hình cho các nhiệm vụ đột xuất, các cuộc diễn tập do cấp trên tổ chức. Đơn vị bảo đảm được an toàn, giữ nghiêm kỷ luật trong điều kiện hoạt động phân tán. Đẩy mạnh thi đua, kế tục truyền thống anh hùng Lữ đoàn 596 huấn luyện làm chủ khí tài, trang bị thông tin liên lạc. Ảnh: PHÙNG QUỐC Để bảo đảm TTLL “kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, Đảng ủy, chỉ huy lữ đoàn xác định phải luôn giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt sâu sắc, thấm nhuần nhiệm vụ, hành động tự giác với trách nhiệm cao nhất, cùng với tâm thế tự hào, phát huy truyền thống của đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân. Đồng thời, đơn vị tăng cường huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, khai thác và sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị thông tin hiện đại; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phù hợp với đặc thù đơn vị. Năm 2020, đơn vị tổ chức quản lý, điều hành, duy trì hệ thống thông tin hoạt động ổn định, chất lượng tốt, tỷ lệ liên lạc chung đạt 99,88% (vượt chỉ tiêu 0,38%), vận hành thông tin quân bưu kịp thời, chính xác, an toàn tuyệt đối. Ngoài ra, kết quả huấn luyện trong năm có 100% các khoa, mục đạt khá, giỏi, tổ chức và tham gia các hội thi, hội thao đạt kết quả cao. Lữ đoàn được tặng cờ “Đơn vị xuất sắc trong Phong trào TĐQT” của Bộ Quốc phòng. Một nét nổi bật trong hoạt động của lữ đoàn là luôn chú trọng đẩy mạnh và phát huy Phong trào TĐQT, gắn với các cuộc vận động của ngành hậu cần, tài chính, kỹ thuật để tạo sự chuyển biến rõ nét cho từng tập thể, cán bộ, chiến sĩ. Những điển hình, sáng kiến cải tiến kỹ thuật tiêu biểu trong các phong trào thi đua luôn được biểu dương, khen thưởng kịp thời và nhân rộng, tạo khí thế hăng say, thi đua sôi nổi trong huấn luyện, học tập, SSCĐ, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm TTLL. Công tác tuyên truyền, giáo dục về ý chí, bản lĩnh cho bộ đội được tiến hành thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức như: Hệ thống truyền thanh nội bộ, bảng biển, tổ chức các hội thi tìm hiểu, diễn đàn thanh niên... chú trọng phát huy tinh thần gương mẫu của đội ngũ cán bộ như “mệnh lệnh không lời”. Với việc quản lý hệ thống TTLL hiện đại, nhiều chủng loại như: Truyền dẫn đường trục, Vinasat, tổng đài kỹ thuật số, khí tài vô tuyến điện, các xe thông tin cơ động... Lữ đoàn 596 đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bên cạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, còn phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm chủ trang bị khí tài hiện đại và năng lực hoạt động thực tiễn. Trong điều kiện đóng quân phân tán, lữ đoàn đã vận dụng linh hoạt, kết hợp nhiều hình thức, phương pháp giáo dục chính trị và huấn luyện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt yêu cầu hiện đại hóa hệ thống TTLL quân sự. Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm TTLL trong tình hình mới, khối lượng công việc của Lữ đoàn 596 sẽ rất lớn ở khu vực phía Nam. Đơn vị xác định luôn đoàn kết đồng lòng, chủ động, sáng tạo, luôn vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong đó, đẩy mạnh thi đua nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện 3 khâu đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Binh chủng Thông tin lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025 là: Đột phá về tổ chức, biên chế, đột phá về huấn luyện, đào tạo, đột phá về xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật và cải cách hành chính quân sự. Song song đó, tiếp tục xây dựng Đảng bộ TSVM tiêu biểu, xây dựng đơn vị VMTD “mẫu mực, tiêu biểu” an toàn tuyệt đối. Trong những ngày này, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 596 đang ra sức thực hiện đợt thi đua cao điểm "Lập công dâng Đảng", thiết thực chào mừng Đại hội XIII của Đảng, kỷ niệm 48 năm Ngày truyền thống lữ đoàn (10-1-1973 / 10-1-2021) và mừng Xuân Tân Sửu 2021. Nội dung thi đua được cụ thể hóa trong các nhiệm vụ của đơn vị, được lồng ghép, kết hợp với thực hiện Phong trào thi đua “Cán bộ, chiến sĩ quân đội thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng nét đẹp văn hóa quân sự chính quy, kỷ luật, tận tụy, chuyên nghiệp, xây dựng đơn vị "sáng, xanh, sạch, đẹp" nhằm tạo động lực, khí thế mới cho đơn vị trong năm 2021.
Cách đây tròn 75 năm, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Việt Nam diễn ra thắng lợi trong toàn quốc, mở ra thời kỳ mới, thời kỳ dân tộc ta có Quốc hội-cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Bài 1: Hoạt động lập pháp xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân Bài 2: Hoạt động giám sát: Đã “dám” và đã “sát” 75 năm qua, Quốc hội Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc. Vì vậy, các thế lực thù địch dù có “tung hỏa mù”, xuyên tạc, bóp méo hoạt động của Quốc hội, nhưng cũng không thể làm phai mờ hình ảnh của một Quốc hội công tâm, quyết định đúng đắn các vấn đề quan trọng của đất nước vì quyền lợi chính đáng của nhân dân. Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ sự cấp thiết phải tiến hành càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được tiến hành vào ngày 6-1-1946 là một sự kiện trọng đại, vì đây là lần bầu cử Quốc hội đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội đánh dấu một bước phát triển mới trong việc củng cố nền độc lập dân tộc vừa giành được, thực hiện thể chế dân chủ thực sự, thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Quốc hội khóa I thông qua ngày 9-11-1946 đã hiến định “Nghị viện nhân dân (danh từ thời điểm đó dùng để chỉ Quốc hội-NV) là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Điều thứ 22); “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài” (Điều thứ 23). Bài 3: Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (Tiếp theo và hết ) Toàn cảnh phiên khai mạc Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV. Ảnh: TTXVN Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 tiếp tục hiến định Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 hiến định rõ “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Theo Điều 70 của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có 15 nhiệm vụ và quyền hạn. Ngoài công tác lập pháp và giám sát tối cao, Quốc hội còn có quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước; quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao; quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt; quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; quyết định trưng cầu ý dân... 75 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã có nhiều quyết định quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước. Các vấn đề được Quốc hội quyết định đều dựa trên ý chí và nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm tốt nhất cho lợi ích của đất nước. Trong nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XIV (2016-2021), bên cạnh những quyết định về mục tiêu, kế hoạch phát triển KT-XH hằng năm, Quốc hội đã quyết định nhiều vấn đề rất lớn của đất nước, như: Điều chỉnh quy định sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia; dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-Nam phía đông giai đoạn 2017-2020; đề án tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030... Những công việc nói trên của Quốc hội trong nhiệm kỳ 2016-2021 với các quyết định hợp lòng dân đã là minh chứng, là tiếng nói đanh thép bác bỏ những luận điệu sai trái cho rằng “Quốc hội Việt Nam thực chất chẳng quyết định được việc gì”. Quyết định của Quốc hội đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhân dân Lịch sử 75 năm của Quốc hội Việt Nam đã khẳng định Quốc hội luôn luôn là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri, luôn luôn đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Việc gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt đầy đủ, thấu hiểu sâu sắc tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của nhân dân, trân trọng lắng nghe, phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân là nhân tố quan trọng bảo đảm cho Quốc hội có những quyết sách đúng đắn, phù hợp thực tiễn, góp phần nâng cao uy tín, vai trò của Quốc hội, thu hút được sự quan tâm, ủng hộ, đóng góp ý kiến xây dựng và củng cố niềm tin của cử tri, của nhân dân đối với Quốc hội. Thực tế hoạt động của Quốc hội thời gian qua cho thấy có những vấn đề được quyết định không dễ dàng mà phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng từ nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, qua đó đã làm cho các quyết định có tính chính xác cao hơn, tạo sự đồng thuận tốt hơn, giúp công tác chỉ đạo điều hành thuận lợi và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và phù hợp với ý nguyện của nhân dân. Không phải tất cả các dự án, công trình quan trọng mà Chính phủ trình Quốc hội đều được Quốc hội chấp thuận. Ví như, Quốc hội từng bác bỏ chủ trương xây dựng đường sắt cao tốc do Chính phủ trình vào năm 2010. Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An kể lại chuyện khi đồng chí còn đương chức Chủ tịch Quốc hội: Có một vị khách trong đoàn ngoại giao nêu câu hỏi rất thú vị. Ông ta nói rằng, theo ông ta biết thì Quốc hội Việt Nam chỉ do một đảng duy nhất lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế thì tại sao các đại biểu là đảng viên của Đảng lại phát biểu nhiều ý kiến khác nhau như thế? Lại giám sát và chất vấn Chính phủ nhiều như thế? Về vấn đề này ông ta rất khó phân biệt sự khác nhau giữa Quốc hội Việt Nam do một đảng lãnh đạo với quốc hội ở các nước có nhiều đảng tham chính? Đồng chí Nguyễn Văn An lúc đó đã trả lời: “Trước hết tôi xin cảm ơn và hoan nghênh ngài đã quan tâm và nêu câu hỏi rất tinh tế và thẳng thắn. Chắc ngài đã biết, Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội, song Đảng không làm thay công việc của Nhà nước. Các tổ chức và đảng viên của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng viên của Đảng phải chấp hành nghị quyết của Đảng, đó là nguyên tắc đã được ghi trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng. Song đảng viên là đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cũng phải chấp hành pháp luật Nhà nước, cũng phải làm nhiệm vụ của đại biểu, cũng phải phản ánh và quyết định thể theo ý chí và nguyện vọng của cử tri và nhân dân trong cả nước, cũng phải giám sát và chất vấn Chính phủ theo quy định, đó là nguyên tắc mà pháp luật Nhà nước đã quy định. Người đảng viên là ĐBQH phải chấp hành cả hai nguyên tắc này, không được bỏ một nguyên tắc nào, chính vì thế mà có nhiều ý kiến khác nhau trong thảo luận cũng như trong giám sát và chất vấn. Nếu ĐBQH là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, không thảo luận các dự án của Chính phủ, không giám sát và chất vấn Chính phủ như các đại biểu là đảng viên của đảng cầm quyền ở phần lớn quốc hội các nước có nhiều đảng tham chính, thì sẽ không còn hiện tượng nhiều ý kiến khác nhau tại Quốc hội như thế nữa. Đó chính là điều làm ngài khó hiểu”. Thiết nghĩ câu chuyện nói trên của đồng chí Nguyễn Văn An đã lý giải vì sao những người cố tình xuyên tạc về quyền lực thực chất của Quốc hội Việt Nam lại bị dư luận lên án. "Chọn mặt gửi vàng” cho nhiệm kỳ mới của Quốc hội Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021) sắp kết thúc. Để chuẩn bị cho Quốc hội khóa XV sắp tới, tại Kỳ họp thứ chín giữa năm 2020, Quốc hội đã thành lập Hội đồng Bầu cử quốc gia để tổ chức bầu cử ĐBQH khóa XV. Tại Kỳ họp thứ mười vừa qua, Quốc hội đã ấn định tổ chức ngày bầu cử ĐBQH vào ngày 23-5-2021. Do vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan chức năng của Nhà nước phải khẩn trương chuẩn bị cho công tác lựa chọn, giới thiệu nhân sự ứng cử ĐBQH để thông qua bầu cử, người dân có thể lựa chọn được những người thực sự tiêu biểu, đạt tiêu chuẩn, chất lượng, có đức, có tài, xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội được Kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa XIV thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2021 đã quy định cụ thể tiêu chuẩn của ĐBQH. Theo đó, ĐBQH phải bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ học vấn, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ ĐBQH; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội. Cử tri mong muốn các ĐBQH khóa XV sẽ phải là những đại biểu ở tầm cao mới của sự phát triển, có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Đặc biệt, các ứng cử viên ĐBQH phải là những người kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, không phát ngôn theo những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các đối tượng thù địch. Các ứng cử viên ĐBQH là cán bộ, đảng viên, khi xem xét các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, cần đánh giá cụ thể trên cơ sở nhận diện có hay không 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được xác định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII. Kiên quyết không đưa vào danh sách giới thiệu ứng cử ĐBQH những người có biểu hiện suy thoái, biến chất, tự chuyển hóa, dù chỉ có một trong số các nhận diện đã được xác định. Trong quá trình chuẩn bị, giới thiệu người ứng cử ĐBQH, cần đặc biệt quan tâm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là những khiếu nại, tố cáo liên quan đến người được giới thiệu ứng cử. Kết luận công minh, khách quan để kịp thời đưa ra khỏi danh sách ứng cử đại biểu những người không đủ tiêu chuẩn, tư cách ứng cử, đồng thời bảo vệ danh dự, uy tín của những người bị tố cáo, bị khiếu nại sai, xử lý nghiêm minh mọi hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc sự thật, gây khó khăn cho công tác bầu cử. Đặc biệt, cần hết sức cảnh giác với các thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, chống phá trước cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Các cơ quan chức năng cần kịp thời phát hiện xử lý những cá nhân đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm và năng lực đấu tranh phản bác trong nhân dân. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần xác định đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" nói chung, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt chống phá cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV nói riêng là nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Với mỗi cử tri, cần đề cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin, nhất là từ mạng xã hội, tiếp nhận có kiểm chứng để kịp thời phát hiện thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt. Từ đó nâng cao "sức đề kháng", tăng khả năng "miễn dịch", tránh rơi vào bẫy tin giả hoặc a dua, tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động.