Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” NỘI BỘ

    “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch sẽ không có “đất diễn” và chẳng thể phá hoại cách mạng nếu lực lượng cách mạng ngày càng phát triển, trong nội bộ đất nước ta không xuất hiện những sơ hở, những “điều kiện thuận lợi” cho chúng lợi dụng chông phá. Nếu chúng ta có ý thức cảnh giác cao, tổ chức, xây dựng lực lượng tốt, luôn chủ động phòng ngừa từ xa, với nhiều tầng, nhiều lớp và kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta thì các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị sẽ phải đầu hàng. Trong thời gian tới, cần quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm của Đảng: tích cực, chủ động tiến công; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động. Cuộc chiến đấu này đòi hỏi việc xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này. Vì thế, cần tổ chức chặt chẽ lực lượng đấu tranh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thng nhất từ Trung ương tới cơ sở, nhất là đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, tư tưởng - lý luận.

     Để cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn, đòi hỏi cần đặc biệt chú ý công tác tổ chức, xây dựng lực lượng. Từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tới các cấp ủy đảng cơ s; từ Nhà nước, Quc hội, Chính phủ đến các ban, bộ, ngành và các địa phương, các đoàn thể chính trị - xã hội cần thống nhất nhận thức, đồng tâm hiệp lực thực hiện tích cực phòng, chng “diễn biến hòa bình”, tự bảo vệ không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng cơ quan, đơn vị và mỗi cá nhân. Phi hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các lực lượng, các phương tiện trên mọi mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh... Đồng thi, kết hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các tổ chức, động viên các lực lượng tham gia đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

     Do tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưng - văn hóa, tư tưởng - lý luận, đòi hỏi Đảng phải xây dựng và phát triển lực lượng thiện chiến, phản ứng nhanh, đấu tranh phòng, chng có hiệu quả trên mặt trận này, có như vậy mới kịp thời đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động. Vì vậy, cần quan tâm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng nòng cốt, bảo đảm cho lực lượng này thực sự “tinh nhuệ”, “thiện chiến”; giữ vai trò tiên phong, nòng cốt trong cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

     Chủ động, tích cực bồi dưỡng lực lượng tiên phong trong đấu tranh cả về phẩm chất, năng lực toàn diện, nhất là về dũng khí đấu tranh, ý chí quyết tâm, sự kiên trì, dũng cảm, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, tính khoa học, nhạy bén và sắc sảo trong đấu tranh. Theo đó, chú trọng xây dựng và phát huy hơn nữa vai trò của các lực lượng cán bộ, giảng viên, học viên trong các học viện, trường sĩ quan, viện nghiên cứu; các biên tập viên, phóng viên báo, tạp chí, cơ quan phát thanh, truyền hình... trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

          Tp hợp, tổ chức chặt chẽ các nhà khoa học có nhiệt huyết, dũng khí, bản lĩnh chính trị và chuyên môn cao, năng lực đấu tranh để bồi dưng, định hướng, giao nhiệm vụ cụ thể, làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Đội ngũ này phải nắm vững lý luận cơ bản, am hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực, có kinh nghiệm thực tiễn, có bản lĩnh và đấu tranh kiên quyết chng lại quan điểm sai trái, phản động, thù địch./.

TBQL 17

DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở VIỆT NAM

        Trong cục diện thế giới mới, đặc biệt khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay và trong những năm tới sẽ có những biến đổi nhanh và mạnh mẽ. Cùng với đó là sự phát triển của các nước sẽ tạo ra những lực cản, kiềm chê quá trình thực hiện “diễn biên hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam của các thế lực thù địch.

     Cạnh tranh và xung đột về địa - chính trị; cạnh tranh giành tài nguyên năng lượng đã và đang làm cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á ngày càng “nóng” lên. Nước Mỹ thực hiện chiến lược “xoay trục” quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương; Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ; nước Nga dần khôi phục vị trí cường quốc về kinh tế và quân sự; n Độ thực hiện chính sách hướng Đông... đã đẩy nhanh sự thiết lập trật tự thế giới mới, từ trật tự thế giới một cực sau Chiến tranh lạnh hình thành nên thế giới đa cực nhiều trung tâm. Chính sự chuyển biến nhanh chóng này làm cho nước Mỹ không còn vị trí có thể áp đặt mọi vấn đề cho thế giới đương đại và trong tương lai như họ đã làm trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Chính điều này sẽ tác động làm cản tr việc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam của các thê lực thù địch.

     Sự xuất hiện của các tổ chức khủng bô" quốc tế như Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS)... với những hoạt động đe dọa tới lợi ích sống còn và an ninh của nước Mỹ cùng các nước Tây Âu ngày càng nhiều hơn đã làm cho tình hình quốc tế phức tạp hơn. Tình hình này đặt cho nước Mỹ và các nước tư bản châu Âu phải tập trung trí tuệ, sức lực, tiền của để đối phó, đi liền với đó, Mỹ buộc phải phân tán hơn trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

     Xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam tạo nên sự ràng buộc lợi ích giữa Việt Nam và các nước khác tác động làm hạn chế các thế lực thù địch trong việc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta.

     Ở Việt Nam, sự ổn định về chính trị, kinh tế phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết, dân chủ, công bằng ngày càng tốt hơn đã tạo lập lòng tin vững chắc hơn của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này đã, đang và sẽ là lực cản lớn nhất tới quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ở Việt Nam của các thế lực thù địch.

     Sự phát triển của toàn cầu hóa và công nghệ thông tin sẽ tạo cơ hội để các thế lực thù địch thực hiện chiến tranh thông tin - tư tưởng, tiến hành “diễn biến hòa hỉnh". Đây là loại hình chiến tranh diễn ra hằng ngày, hng giờ và được đánh giá là biến thể của Chiến tranh lạnh. Chiến tranh thông tin - tư tưởng không bị cấm hoặc bị hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào, cũng không được đưa vào nội dung của các hiệp ưc quốc tế. Loại hình chiến tranh này đang diễn ra một cách quyết liệt, thậm chí tàn bạo hơn cả chiến tranh nóng, nhưng dư luận phản đối nó chưa rõ ràng.

     Thực tế đã cho thấy, cuộc chiến tranh thông tin - tư tưởng thưng xuyên, lâu dài, trên quy mô lớn do phương Tây tiến hành là một trong những yếu t quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chê độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. về sau, chiến tranh thông tin - tư tưởng đã từng diễn ra ở Côxôvô năm 1999, Irắc năm 2003, ở Libi năm 2011, Xyri và Ucraina và nhiều nước khác. Tác động của chiến tranh thông tin - tư tưởng có thể làm thay đổi cả một chế độ chính trị, hoặc tạo cớ cho cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia, dân tộc có chủ quyền. Với hiệu quả của nó, trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, làm cho nó diễn ra nhanh hơn, quy mô lớn hơn. Cũng vì sự phát triển mạnh mẽ của thông tin và truyền thông với nhiều loại hình báo chí và truyền thông, đặc biệt là báo điện tử, các trang mạng xã hội, với hiệu ứng rất nhanh, hiệu quả rất cao, làm cho công tác quản lý, kiểm soát nó rất khó khăn. Vì thế, phương Tây tiếp tục hô hào, đòi “quyền tự do ngôn luận”, “quyền tự do báo chí”, đòi cho báo chí tư nhân tồn tại, thoát khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, lợi dụng báo chí, truyền thông phục vụ cho tuyên truyền “giành con tim, khối óc” người dân, chông phá Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta.

     “Mảnh đất màu mỡ” - điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam là tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một s" cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Đặc biệt, việc quán triệt và thực hiện các nghị quyết Trung ương về xây dựng Đảng vẫn chưa tạo được những chuyển biến mạnh mẽ; “việc triển khai thực hiện các chủ trương, bin pháp ngăn ngừa, đấu tranh khắc phục hạn chế, khuyết điểm còn chưa đồng bộ, quyết liệt. Tình trạng suy thoái về tư tưng chính trị, đạo đức, lối sống chưa được đẩy lùi, thậm chí ở một s nơi có biểu hiện tinh vi hơn”. Dựa vào thực tế này, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sẽ ráo riết, tranh thủ thời cơ để “nội công, ngoại kích”, đẩy nhanh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy mạnh mẽ hơn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam.

          Những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, những thách thức đặt ra đối vi nước ta rất phức tạp, trong khi đó, đời sống của Nhân dân nói chung, của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn, tệ nạn tham nhũng, tiêu cực xã hội, sự phân hóa giàu, nghèo, bất bình đẳng... đang tác động tới mọi đối tượng xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên... Điều đó nếu không được khắc phục có hiệu quả sẽ có tác động tiêu cực, tạo ra những bức xúc xã hội, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta với tốc độ nhanh hơn./.

TBQL 17

NGĂN CHẶN TRIỆT ĐỂ THÔNG TIN XẤU ĐỘC


Chúng ta biết rằng, hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách để tấn công Đảng, Nhà nước, quân đội hòng làm suy yếu lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị nước nhà và gieo rắc sự nghi hoặc, dẫn đến làm mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng và hệ thống chính trị của chúng ta, phải kiên quyết làm rõ, xử lý và đấu tranh ngăn chặn những thủ đoạn nguy hiểm, có sự kết nối giữa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Một người nào đó, dù cố tình hay hữu ý nói xấu cán bộ Đảng, Nhà nước, Quân đội cũng là hành động tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và là một việc làm không công cho kẻ địch. Phải nói rõ thêm, họ nói xấu cán bộ chủ chốt tức là tạo ra sự hoài nghi của quần chúng với Đảng, chứ không phải chỉ riêng cá nhân của con người nào đó. Và các thế lực thù địch luôn mong muốn, chờ đợi cóp nhặt những biểu hiện tiêu cực của xã hội, của cán bộ, đảng viên rồi đẩy những thứ đó lên thành bản chất của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa để bôi nhọ với mục đích cuối cùng là phá hoại chúng ta.

Chúng ta cần phải lên án mạnh mẽ những việc làm đầy mờ ám đó. Để ngăn chặn việc làm xấu này, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của chúng ta cần phải giáo dục, làm cho mọi người, từ chiến sĩ đến cán bộ cấp cao, người dân cho đến các cấp lãnh đạo phải có nhận thức đúng đắn. Đối với tổ chức, phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nội bộ, không để cho những con người xấu, những kẻ xấu làm những việc xấu, lén lút, làm suy yếu khối đoàn kết của Đảng, Nhà nước và của quân đội chúng ta. Phải xây dựng và phát huy dân chủ trong tự phê bình và phê bình, nâng cao sức mạnh, sự đoàn kết chân thành vì sự tiến bộ, phát triển của xã hội và Quân đội.

PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19 CẦN NGĂN CHẶN TRIỆT ĐỂ NHẬP CẢNH TRÁI PHÉP

 

Theo thống kê đến 06.00 sáng ngày 12/01/2021 trên khắp thế giới dịch Covid-19 hoành hành có 91,2 triệu ca mắc, hơn 1,9 triệu ca tử vong. Dịch bệnh Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ sức khỏe của Nhân dân. Mặc dù một số nước đã triển khai tiêm chùng nhưng tình hình dịch bệnh vẫn rất phức tạp có thể còn kéo dài hết năm 2021.

Với tình hình lây lan dịch bệnh như trên Việt Nam đang ngăn chặn dịch có hiệu quả bằng cả hệ thống chính trị, toàn dân đoàn kết để vào cuộc, thực hiện ngừa từ trong, ngăn từ ngoài. Nhưng lo ngại vẫn đang rình dập nhất là số người nhập cảnh trái phép, ẩn náu ở các khu vực thành phố, thị xã… trong các nhà nghỉ, nhà trọ chưa được kiểm tra phát hiện (số người này có thể bị lây nhiễm hoặc mang bệnh không thực hiện cách ly theo quy định đi lại tự do trong toàn quốc) đã làm tăng thêm sự lo ngại của các cơ quan chức năng và mọi người dân về tình trạng lây nhiễm không kiểm soát được.

Những hành động xuất nhập cảnh trái phép đi lại tự do trên đây đã vi phạm pháp luật Việt Nam, gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc phòng, chống dịch bệnh, tạo ra sự lây lan cho cộng đồng, đây là những kẻ xã hội đáng lên án. Mong mọi người hãy vì sức khỏe của Nhân dân cùng đồng bào, đồng chí trong cả nước chung tay, không chủ quan có trách nhiệm hơn nữa, khi phát hiện có người nhập cảnh trái phép hãy báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất, không bao che cho những kẻ trốn tránh làm lây nhiễm cộng đồng, đó là hành động tích cực trong công cuộc phòng, chống và quyết tâm đẩy lùi, chiến thắng đại dịch Covid-19.

Nước Mỹ không phải là đất nước “Tự do”, “Nhân quyền” như một số các nhà “dân chủ” quảng bá, ca ngợi…

 


Vụ người da màu George Floyd bị cảnh sát đè chân lên cổ đến chết ngày 25/5, đã khiến các cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc bùng nổ và lan khắp nước Mỹ. Dù những cảnh sát liên quan đã bị truy tố nhưng không ngăn được sự phẫn nộ của nhiều người. Biểu tình tiếp tục nổ ra, từ ôn hòa biến thành bạo loạn, cướp bóc và đốt phá. 

Hàng chục thành phố của Mỹ phải áp đặt lệnh giới nghiêm ở mức độ chưa từng thấy. Làn sóng này sau đó vượt ra khỏi biên giới Mỹ, lan tới nhiều nước khác như Canada, Anh và Đức, khiến các nhà chức trách phải dốc sức cân bằng giữa việc cấp phép biểu tình và phòng chống Covid-19 lây lan do tụ tập đông người…

Nước Mỹ không phải là đất nước “Tự do”, “Nhân quyền” như một số các nhà “dân chủ” quảng bá, ca ngợi… 

 

Chia sẻ và đồng cảm với khó khăn của đồng bào Miền Trung

 

 

Hướng về miền Trung với niềm chia sẻ và đồng cảm; sáng 30.12.2020, tại thôn Mã Lai Pun, xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị đã diễn ra “Lễ ký kết thỏa thuận tài trợ xây nhà tình thương và khởi công xây dựng - sửa chữa 20 ngôi nhà” cho 20 hộ dân của xã Hướng Phùng, do Công ty cổ phần xây dựng Coteccons đồng hành cùng Thời báo Kinh Tế Sài Gòn và UBND xã Hướng Phùng tổ chức.

Coteccons đặt mục tiêu sẽ hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2021 để bà con tại xã Hướng Phùng có nhà mới. Đại diện Coteccons đã đến khảo sát, làm việc với chính quyền địa phương và thăm hỏi các gia đình tại các thôn: Mã Lai Pun, Cheng, Xa Ry, Chênh Vênh, Doa củ và Bụt Việt, nơi chủ yếu là bà con dân tộc thểu số sống trong các nhà sàn tạm bợ và bị ảnh hưởng nặng nề trong đợt bão lũ, sạt lở lịch sử vừa qua. Tổng giá trị tài trợ cho dự án hơn 1,6 tỷ đồng, để xây mới 17 căn nhà, sửa chữa 3 căn và làm mới những khu vực vệ sinh công cộng.

Cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sẽ diễn ra từ ngày 25 đến 02/02/2021. Vào lúc này, càng gần thời điểm diễn ra Đại hội Đảng, việc phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt về công tác Đại hội, nhất là vấn đề nhân sự, càng tinh vi và nguy hiểm. Vì thế, nhận diện rõ những luận điệu sai trái, phản động và có biện pháp đấu tranh ngăn chặn kịp thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. 

Cứ “đến hẹn lại lên”, mỗi khi Đảng ta tiến hành Đại hội thì sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng thâm độc, quyết liệt hơn. Càng gần thời điểm diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng các thế lực thù địch càng giở nhiều chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó đặc biệt tập trung xuyên tạc nội dung Dự thảo văn kiện Đại hội và công tác nhân sự. Vì vậy, để đấu tranh, phản bác các thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, chúng ta cần nhận diện được những luận điệu sai trái, phản động của chúng. 

Trước hết, các thế lực thù địch tiếp tục truyền bá những thông tin và quan điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)  của Việt Nam; tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

          Thứ hai, các thế lực thù địch tập trung chống phá, xuyên tạc về vấn đề nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước. Từ trước Hội nghị Trung ương 12 (khóa XII) đến nay, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

Thứ ba, lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để tuyên truyền xuyên tạc chống phá ta.

          Thứ tư, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường tung tin, dựng chuyện, quy trách nhiệm cho Đảng, Nhà nước ta trong các vấn đề về bảo vệ chủ quyền biển, đảo; vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam thông qua cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đòi tự do lập hội để đẩy mạnh tuyên truyền, tập hợp lực lượng, thành lập các hội, nhóm bất hợp pháp…

          Điểm chung của các chiêu bài nêu trên đều nhằm mục đích xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chế độ xã hội và thành quả của cách mạng Việt Nam… Chúng ta cần tỉnh táo nhận diện sự thật và đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng. Do vậy, cùng với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần đẩy mạnh phòng, chống thông tin xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc ngay từ bên trong. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vu khống, bôi nhọ, tố cáo sai sự thật, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao khả năng “miễn dịch” cho Nhân dân trước những thông tin xấu độc từ kẻ xấu và các thế lực thù địch.

Đặc biệt, cần phát huy tốt vai trò của báo chí, truyền thông trong đấu tranh. Thực tiễn đòi hỏi sự chủ động thông tin và tính định hướng của báo chí chính thống phải rất cao. Báo chí chính thống phải là một trong những kênh thông tin chủ lực, hữu hiệu để cung cấp thông tin kịp thời, trung thực, minh bạch, khách quan giúp người dân hiểu biết toàn diện, đầy đủ về các vấn đề, sự kiện của Đảng, của đất nước để từ đó định hướng dư luận, vun đắp, xây dựng niềm tin cho Nhân dân. Đồng thời góp phần nâng cao “sức đề kháng” cho Nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc nhằm chống phá Đại hội XIII của Đảng.

Những biện pháp trên là cần thiết, nhưng có lẽ để vô hiệu hóa thông tin xấu độc, phương cách tốt nhất là chúng ta phải tiếp tục làm tốt mọi công việc chuẩn bị để bảo đảm Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp. Đó chính là đòn phản bác thuyết phục trước những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.

CẦN NÂNG CAO Ý THỨC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH TRONG THỰC HIỆN PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 


 

Sau nhiều tuần được kiểm soát có hiệu quả, việc xuất hiện nhiều trường hợp mắc Covid-19 đã cho thấy khả năng lây nhiễm rất phức tạp của loại dịch bệnh nguy hiểm này, đồng thời cũng là hồi chuông cảnh báo về nguy cơ lớn trực tiếp đe dọa sức khỏe cộng đồng, nếu người dân chủ quan, lơ là, thiếu ý thức trong thực hiện quy định về cách ly, phòng dịch.

Tính đến ngày 29/11/2020, sau gần 90 ngày cả nước không có ca nhiễm mới ở cộng đồng thì trường hợp mắc mới là nam tiếp viên hàng không (BN 1342) đã khiến dư luận cả nước lo lắng, bất an. Điều đáng nói nhất ở đây chính là sự chủ quan, thiếu ý thức của bệnh nhân này. Là tiếp viên hàng không, chắc chắn người này đã được quán triệt đầy đủ về quy trình cách ly, phòng chống dịch. Mặt khác, thường xuyên làm việc trên các chuyến bay quốc tế, người này cũng sẽ biết rõ về sự lây lan nghiêm trọng của dịch bệnh ở các nước trên thế giới. Song, BN 1342 lại có hành động coi thường dịch bệnh, xem nhẹ sự an toàn của cộng đồng. Tiếp theo, vào dịp cuối năm, một số tổ chức đưa người vượt biên trái phép từ nước ngoài về Việt Nam ngày càng gia tang, trong đó đã có những trường hợp dương tính với Covid-19… Từ đầu năm 2020 đến nay, cả nước đã tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc để khống chế sự lây lan của dịch bệnh Covid-19. Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dồn sức kiểm soát dịch bệnh thì những hành động thiếu ý thức trách nhiệm nói trên đang đi ngược với cố gắng của cả xã hội, đe dọa sức khỏe của toàn dân.

Thực tế, tình hình dịch bệnh Covid-19 tại nhiều nước trên thế giới đang tiếp tục có những diễn biến vô cùng phức tạp. Đối với trong nước, dịch bệnh Covid-19 có thể tái bùng phát bất cứ lúc nào nếu tâm lý chủ quan, lơ là không bị loại bỏ. Do đó, cùng với việc tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, dư luận xã hội cho rằng cần thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc chấp hành của mọi người về phòng, chống dịch; kiểm tra, kiểm soát, tổ chức chặt chẽ quy trình cách ly cũng như quy trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân, tổ chức và xử lý nghiêm mọi vi phạm để công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thực sự có hiệu quả; góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của Nhân dân. Do đó, mỗi người dân cần phải nâng cao ý thức  cảnh giác đối với đại dịch này bằng cách thực hiện đúng 9 biện pháp mới nhất để phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình hiện nay, đó là:

1. Thường xuyên rửa tay đúng cách bằng xà phòng dưới vòi nước sạch, hoặc bằng dung dịch sát khuẩn có cồn (ít nhất 60% cồn).

2. Đeo khẩu trang nơi công cộng, trên phương tiện giao thông công cộng và ở cơ sở y tế.

3. Tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi bằng khăn giấy, khăn vải, khuỷu tay áo.

4. Tăng cường vận động, rèn luyện thể lực, dinh dưỡng hợp lý xây dựng lối sống lành mạnh.

5. Vệ sinh thông thoáng nhà cửa, lau rửa các bề mặt hay tiếp xúc.

6. Nếu bạn có dấu hiệu sốt, ho, hắt hơi, và khó thở, hãy tự cách ly tại nhà, đeo khẩu trang và gọi cho cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và điều trị.

7. Tự cách ly, theo dõi sức khỏe, khai báo y tế đầy đủ nếu trở về từ vùng dịch.

8. Thực hiện khai báo y tế trực tuyến tại https://tokhaiyte.vn hoặc tải ứng dụng NCOVI từ địa chỉ https://ncovi.vn và thường xuyên cập nhật tình trạng sức khoẻ của bản thân.

9. Cài đặt ứng dụng Bluezone để được cảnh báo nguy cơ lây nhiễm COVID-19, giúp bảo vệ bản thân và gia đình: https://www.bluezone.gov.vn/.

 

Một số giải pháp về phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay

Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta.

Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền được thông tin của người dân

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng, bởi đây là một trong những quyền cơ bản của con người. Thế nhưng thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng ở Việt Nam. Trên một số trang mạng thiếu thiện chí có kẻ cho rằng Việt Nam "bóp nghẹt", "bưng bít" thông tin; “cản trở các quyền tự do biểu đạt, chính kiến và ngôn luận"... của người dân. Thậm chí trên trang mạng của RFA còn hồ đồ phán rằng: “bưng bít thông tin là nguyên tắc của Chính phủ Việt Nam...”. Cần khẳng định ngay rằng giọng điệu trên là bịa đặt vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền được thông tin ở Việt Nam nói riêng. Hành động ấy lộ rõ ý đồ, động cơ chính trị không trong sáng đối với Việt Nam. Sự thật bảo đảm quyền được thông tin của người dân ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái ấy. Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thông tin; khai thác, sử dụng internet để tiếp cận thông tin nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền được thông tin của người dân. Những thành tựu ấy trước hết được thể hiện ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin của người dân, trong đó có những luật, nghị định như: Luật Báo chí 2016; Luật Tiếp cận thông tin 2016; Luật An ninh mạng 2018; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”... Tất cả những văn bản luật ấy đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin, vừa bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bảo vệ bí mật Nhà nước, chống việc lộ, lọt bí mật thông tin. Nghị định số 72/2013/NĐ-CP xác định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng vào việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng điện tử, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Luật An ninh mạng xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin. Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng cũng có các quy định rất rõ ràng, cụ thể. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng dựa trên thông lệ quốc tế không cản trở quyền được thông tin của người dân và cũng không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc công bố tại hội thảo tổ chức ngày 3-12-2018. Theo đó, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới, với trên 50 triệu người dùng internet... Chính phủ Việt Nam đã triển khai hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ, xây dựng và công bố công khai hằng năm Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến, để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân; để người dân thông qua mạng internet có thể bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, gửi ý kiến tới Đảng, chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận phản ánh thông tin, kiến nghị của người dân. Thực tế cho thấy số người dùng internet, MXH để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều thông tin từ MXH đã được các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời. Nhằm bảo đảm quyền được tiếp nhận thông tin của người dân, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, trong đó có việc phát triển báo chí, truyền thông. Để tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về cơ chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các quy định của pháp luật và hoạt động báo chí hiện hành... Được Đảng, Nhà nước quan tâm, báo chí cách mạng nước ta đã có sự phát triển nhanh chóng và toàn diện, ngày càng thể hiện rõ vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là diễn đàn xã hội rộng rãi để phát huy dân chủ; là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân... Không chỉ tăng nhanh về số lượng các cơ quan báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình và công nghệ làm báo, chất lượng các xuất bản phẩm ngày càng đổi mới cả về nội dung, hình thức thể hiện. Đội ngũ những người làm báo có sự phát triển, trưởng thành trên nhiều mặt. Đặc biệt, định hướng phát triển báo chí theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện đã tạo ra khả năng to lớn cho việc truyền tải thông tin của các cơ quan báo chí, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin của nhân dân. Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện, phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin và tiếp cận thông tin trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp mà một vài trang mạng dẫn ra để nói rằng Việt Nam vi phạm quyền tự do thông tin, thực chất họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi cản trở, đe dọa đến quyền được thông tin, quyền tự do tiếp cận thông tin; lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của tổ chức, cá nhân; gây tổn hại đến uy tín, danh dự của người khác; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng... tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chúng ta cũng khách quan thừa nhận rằng, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục. Đáng lưu ý là việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ở một số bộ, ngành, địa phương chưa tốt. Còn có biểu hiện cán bộ được phân công phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí sợ trách nhiệm, đùn đẩy cho người không có thẩm quyền hoặc viện dẫn nhiều lý do để từ chối cung cấp thông tin. Một số cán bộ được phân công cung cấp thông tin còn thiếu kỹ năng phát ngôn, chưa tìm hiểu sâu kỹ vấn đề, vụ việc, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của báo chí và dư luận. Sự phối hợp giữa người phát ngôn với bộ phận chức năng chuyên sâu chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng thông tin cung cấp chưa kịp thời và thiếu rõ ràng. Việc điều tra, xử lý những đối tượng vi phạm quyền được thông tin của người dân, tung tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi xấu, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của tập thể, cá nhân... chưa kiên quyết, kịp thời; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh... Mặc dù còn những hạn chế, nhưng những thành quả của Việt Nam trong bảo đảm quyền được thông tin của người dân là rất cơ bản và không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó đã được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế. Mặt khác, Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật về bảo đảm quyền con người nói chung và quyền được thông tin, tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam nói riêng.

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

Mưu đồ lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế để chống phá Việt Nam

Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn hoạt động; trong đó, triệt để lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Họ coi đó là một trong những nội dung quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, kết hợp với kích động các hoạt động chống phá từ bên trong nước ta. Nhận thức rõ trong thời đại ngày nay, việc hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, do đó Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để ngày càng phát triển, mở rộng các mối quan hệ quốc tế, trong đó có HNKTQT. Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về HNKTQT, những năm qua, tiến trình này của Việt Nam đã, đang đạt nhiều kết quả hết sức to lớn. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 185 nước trên thế giới và cũng là nước ASEAN duy nhất có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các thành viên nhóm G7 và 13/20 nước G20. Việt Nam đã ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế. Nhờ HNKTQT, những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ cùng với các lĩnh vực khác của xã hội. Năm 2016, GDP Việt Nam đạt 203 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2006; GDP năm 2017 đạt hơn 220 tỷ USD, tăng cao nhất kể từ 2011 trở lại đây và tăng 6,81% so với năm 2016. Năm 2015, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng 4 lần so với năm 2006, lên 11,8 tỷ USD. Năm 2017, FDI vào Việt Nam đạt gần 36 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2016. Riêng 10 tháng năm 2018, cả nước có 2.458 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 27,9 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017. Năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 425,12 tỷ USD, tăng 21% (tương ứng tăng 73,74 tỷ USD) so với năm 2016, là mức tăng kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây. Chỉ trong 10 tháng năm 2018, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 396,85 tỷ USD, tăng 13,8%, tương ứng tăng 48,12 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2017. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng thế giới mới công bố, dự báo Việt Nam đứng thứ 68/190 nền kinh tế, tăng 14 bậc so với năm 2017. Thế nhưng trong sự thành công của Việt Nam về HNKTQT, các thế lực thù địch cũng không ngừng lợi dụng lĩnh vực này để nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch đã ráo riết triển khai một số hoạt động cơ bản như sau: Một là, thúc đẩy việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài để từng bước chi phối nền kinh tế Việt Nam; thông qua đó nhằm làm cho Nhà nước từng bước mất dần khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Với phương châm: “Lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”, các thế lực thù địch âm mưu từng bước xóa bỏ chế độ XHCN một cách từ từ, êm ả, không gây ra chấn động lớn trong xã hội mà khởi nguồn là từ những sai lầm trong HNKTQT ở Việt Nam. Hai là, họ lợi dụng HNKTQT và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là thông qua hợp tác với các cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam để xâm nhập nội bộ, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thu thập tin tức bí mật nhà nước để chống phá Việt Nam. Họ đặc biệt triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao để thu thập tin, đánh cắp bí mật nhà nước, lấy cắp các phát minh, sáng chế của Việt Nam, gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam. Ba là, triệt để thông qua các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp quốc tế hợp tác, làm ăn với Việt Nam để đưa ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý. Họ còn tìm cách gây ra “khủng hoảng”, những tác động tiêu cực từ bên ngoài làm suy yếu nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng đến phúc lợi nhân dân và sức mạnh của Nhà nước. Bốn là, họ tìm cách tác động tới các chính khách cực đoan trong quốc hội một số nước phương Tây, đòi gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây (như yêu cầu Nhà nước xóa bỏ một số điều về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự hiện hành…); đòi thay Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây, đòi thả các đối tượng chống đối vi phạm pháp luật... nhằm tạo nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, xã hội ngay từ bên trong đất nước. Cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc HNKTQT của Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa thay đổi căn bản; chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp và chưa thực sự ổn định, bền vững. Quá trình HNKTQT chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việt Nam chưa có kế hoạch tổng thể và lộ trình hợp lý về HNKTQT; chưa có chiến lược rõ ràng khi tham gia các FTA. Việc ứng phó với các biến động và xử lý những tác động xấu do nền kinh tế thế giới gây ra còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ; hệ thống luật pháp Việt Nam theo yêu cầu HNKTQT chưa hoàn thiện và đầy đủ. Ở một số địa phương, các vụ việc phức tạp xảy ra liên quan đến khiếu nại, tố cáo… chậm được giải quyết, tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định chính trị-xã hội. Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng gay gắt. Còn tồn tại tệ nạn tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng, triển khai các dự án, đề án hợp tác kinh tế quốc tế… Đó là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng hòng thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Nhằm tận dụng những cơ hội, thuận lợi trong hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước và phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hành vi lợi dụng HNKTQT để chống phá Việt Nam, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm như sau: Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để chống phá nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tính tất yếu khách quan của việc HNKTQT; âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để “diễn biến hòa bình” đối với nước ta của các thế lực thù địch; vị trí, vai trò công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Hai là, bảo đảm thực hiện hiệu quả quá trình HNKTQT trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia; giữ vững ổn định chính trị-xã hội, kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc. Xác định rõ hội nhập là quá trình vừa có nhiều cơ hội, vừa gặp nhiều thách thức, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; do vậy, cần chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế, coi đây là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong HNKTQT. Ba là, thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài hợp tác, làm ăn với Việt Nam để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng hợp tác để xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam. Cần tập trung nắm tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài, các chương trình, dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài triển khai ở Việt Nam… nhằm kịp thời phát hiện những vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự xã hội để phòng, chống hiệu quả. Chủ động phát hiện đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm những trường hợp làm lộ, lọt bí mật nhà nước, cung cấp bí mật nhà nước cho các tổ chức nước ngoài, hoặc bị kẻ địch mua chuộc, lôi kéo nhằm phá hoại kinh tế nước ta. Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ làm việc ở các cơ quan, đơn vị thường xuyên tiếp xúc, trao đổi, hợp tác với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, bảo đảm cho đội ngũ này luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chủ động và tích cực HNKTQT; có khả năng nắm bắt và tận dụng cơ hội lớn, vượt khó khăn, thách thức đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia nước ta trong HNKTQT, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm là, khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến HNKTQT trên cơ sở tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường và các cam kết hội nhập quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chú trọng nội luật hóa theo lộ trình phù hợp với những cam kết quốc tế, bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức từ việc tham gia hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong HNKTQT, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, chủ quyền của đất nước ta. Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng HNKTQT để phá hoại thành quả cách mạng và chống phá chế độ xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Với những thành tựu đã đạt được trong HNKTQT, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta sẽ HNKTQT thành công, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển.

Thận trọng với những thủ đoạn xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam

Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng. Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế. Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Về khái niệm tự do báo chí, xin được khẳng định lại quan điểm của cộng đồng Quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966. Điều 19 quy định như sau: 1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng.” Như vậy, bên cạnh quyền tự do báo chí, ngôn luận, còn bị hạn chế bởi quy định là: không được vi phạm “quyền, uy tín cá nhân” (người khác); không được làm tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng. Chẳng hạn, một kẻ đưa tin một ai đó có hành vi tham nhũng nhưng không có bằng chứng là vi phạm quyền và uy tín cá nhân; một kẻ đưa tin về một lực lượng quân sự nào đó vi phạm chủ quyền quốc gia, nhưng không có sự thật, làm tổn thương đến quan hệ quốc tế, là vi phạm an ninh quốc gia đó; hoặc có kẻ đưa những hình ảnh về tệ nạn xã hội có thể làm hại đến môi trường văn hóa của một đất nước... Như vậy, cần phải hiểu đầy đủ khái niệm tự do ngôn luận, tự do báo chí cả về nội dung tư tưởng, chính trị và văn hóa. Cho đến nay, hành lang pháp luật về báo chí của Nhà nước ta đã đầy đủ với tư duy mới về quyền con người, bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, bao gồm cả tự do internet, mạng xã hội. Luật Báo chí của Việt Nam (2016) quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; có nhiệm vụ, quyền hạn: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Luật báo chí cũng có những quy định cấm báo chí không được đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, lực lượng vũ trang; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế; đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, v.v. Nghị định số 13/2118/NĐ-CP, ngày 23-01-2018 của Chính phủ quy định về chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin; trong đó, Điều 4 quy định như sau: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm "Cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục nhất định. Trong điều kiện internet, mạng điện tử như hiện nay, Nghị định yêu cầu bảo đảm đảm quyền tiếp cận thông tin qua các cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Trừ những thông tin mật, người dân có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin cho mình, không có bất cứ điều kiện nào. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hệ thống các cơ quan báo chí (bao gồm báo viết, báo nói, báo hình) của Việt Nam đến nay phát triển khá đồng bộ. Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 01 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử. Báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; một kênh thông tin quan trọng tạo ra sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Hơn thế nữa, báo chí còn là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam “bóp nghẹt” quyền tự do báo chí của nhân dân. Trong khi đó, quyền tự do ngôn luận báo chí ở các nước nói chung, ở Hoa Kỳ nói riêng cũng bị hạn chế, báo chí không được “vu cáo, nhục mạ, tục tằn và vô đạo đức”; “không được tuyên truyền và xúi giục bạo động gây xáo trộn sự an bình xã hội, nhất là những ngôn ngữ đó có phương hại đến nền an ninh quốc gia”. Ở Việt Nam, thời gian qua, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Đối với nhiệm vụ chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta luôn xem báo chí là một lực lượng chính trị quan trọng. Thông qua báo chí, đấu tranh với tệ tham nhũng, đưa ra công luận những vụ việc, cán bộ có hành vi tham nhũng. Đồng thời, phân tích làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, những nguyên nhân từ các quy định trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần diệt trừ tận gốc tệ nạn này. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông, ở cả bốn khâu: Định hướng phát triển; định hướng nội dung; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt coi trọng công tác rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý báo chí; thực hiện nghiêm các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông. Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những biểu hiện vi phạm. Hiện nay, mạng xã hội đang có tác động lớn đến xã hội, nhất là mạng YouTube (của Google). Được biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nhiều lần làm việc với đại diện của Google, yêu cầu bóc những tin bài sai sự thật, nhưng hiệu quả vẫn còn thấp, còn nhiều tin bài xấu, không phản ánh trung thực tình hình Việt Nam. Biện pháp căn bản là quán triệt, tuyên truyền từ người xem, người nghe, người đọc, nhẹ dạ cả tin, không nghe, không tin những tin bài đó. Ba là, cán bộ làm công tác báo chí phải làm tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ðể làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”. Do đó, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay, đã và đang xuất hiện tình trạng báo chí viết bài không để chuyển tải nội dung tư tưởng, chính trị, văn hóa chính thống, mà vì “câu view” “câu like” và mong muốn có nhiều người đọc, nhiều like, được nhiều view. Bởi vậy, báo chí không chỉ phòng ngừa xu hướng này mà còn đưa ra những giải pháp kỹ thuật ngăn chặn. Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo, quản lý đối với những người không đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, qua nhiều kênh và nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú làm cho cộng đồng quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Qua đó, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần đấu tranh hiệu quả các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Tự do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Một xã hội không có tự do ngôn luận, báo chí, như có người nói - đó là “một xã hội đã chết lâm sàng”. Tự do ngôn luận, báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án./.