Thứ Tư, 13 tháng 1, 2021

Quân đội sẵn sàng tiến lên chính quy, hiện đại

Thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã được thành lập. Ngay sau khi thành lập, đội đã đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở ra truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua thực tiễn các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, đội quân nhỏ bé ngày nào đã không ngừng lớn mạnh, từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các đại đoàn chủ lực lần lượt ra đời, phương pháp tác chiến từ "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" tiến lên tác chiến hiệp đồng binh chủng. Dân quân, du kích phát triển, thế trận chiến tranh nhân dân được nhân rộng, do đó, Quân đội ta đã cùng toàn Đảng, toàn dân lần lượt đánh thắng các chiến dịch lớn, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được tiến hành trong điều kiện vũ khí trang bị của ta còn nhiều khó khăn, trình độ tác chiến chưa phải hiện đại. Nhưng với tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, các binh đoàn chủ lực, các quân, binh chủng đã ra đời, tạo ra năng lực mới trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn đoàn kết, gắn bó, tạo thành sức mạnh tổng hợp, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giành toàn thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Hòa bình chưa được bao lâu thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân lại phải tiến hành cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Với tinh thần tự lực tự cường, dựa trên nền tảng chính nghĩa, chúng ta đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến đấu, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc. Quân đội ta cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân các nước bạn Lào và Campuchia giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong các cuộc trường chinh của dân tộc, hàng triệu người con ưu tú của đất Việt đã ngã xuống, hoặc để lại một phần xương máu trên chiến trường; hàng vạn bà mẹ trở thành Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là sự hy sinh vô cùng to lớn, không gì có thể bù đắp được. Sự hy sinh to lớn đó chính là để đất nước ta có được nền độc lập tự do, có được cơ đồ như ngày hôm nay. Trong suốt 76 năm qua, Quân đội ta luôn là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành xuất sắc chức năng của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân cũng luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Ngày nay, đứng trước những thay đổi của thế giới và khu vực, đứng trước những điều kiện, yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, do đó việc tiếp tục xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tiến tới năm 2030 xây dựng quân đội chính quy, hiện đại là một lộ trình, một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã xác định rõ vấn đề này, đó cũng là một mệnh lệnh, là một “tiếng trống đã điểm” để toàn quân hướng tới, quyết vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời kỳ mới. Vì vậy, các đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục để mọi cán bộ, chiến sĩ đều thấu suốt về nhận thức tư tưởng, giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trước các yêu cầu mới, nhiệm vụ mới. Các đơn vị trong toàn quân cần thể hiện rõ tinh thần muôn người như một, đoàn kết thống nhất, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, hoàn thành từng bước, tiến tới hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, hiện đại. Tập trung thực hiện tốt công tác giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực trình độ, phẩm chất đạo đức, tư duy khoa học hiện đại, hoàn thành tốt các chức vụ được đảm nhiệm. Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, làm chủ vũ khí trang bị hiện đại, khai thác hiệu quả trong quá trình sử dụng. Đồng thời phải đẩy mạnh nghiên cứu, đổi mới phương pháp tác chiến, bảo đảm phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ, phù hợp với yêu cầu tác chiến của bộ đội chủ lực trong thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng đánh thắng đối phương trong mọi tình huống. Phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, phát huy mọi nguồn lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong xây dựng quân đội. Đặc biệt là phải phát huy thế mạnh từ tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước vào xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, nhằm tạo ra tính chủ động trong bảo đảm, sản xuất vũ khí, trang bị phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Do đó, phải chú trọng xây dựng, huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên thực sự vững mạnh, tạo ra chiều sâu trong xây dựng lực lượng vũ trang, đồng thời tạo nền tảng để xây dựng Quân đội nhân dân trong những điều kiện mới. 76 năm qua, Quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó. Với phẩm chất của đội quân cách mạng, với truyền thống anh dũng, thiện chiến, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Phát huy sức mạnh của toàn dân khi tham gia công tác bầu cử

Sáng 13-1, tại Hà Nội, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (UBTƯ MTTQ) Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực Nhà nước từ Trung ương đến địa phương ở nước ta nói riêng. Phát huy sức mạnh của toàn dân khi tham gia công tác bầu cử Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 được tổ chức trong bối cảnh nước ta tiếp tục triển khai mạnh mẽ công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tổ chức bộ máy Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. “Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, gắn liền với công tác cán bộ, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và địa phương, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh. Trên tinh thần đó, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn đề nghị, công tác chuẩn bị bầu cử phải được thực hiện nghiêm túc, dân chủ, kịp thời, đúng pháp luật; có sự phân công phối hợp rõ ràng, chặt chẽ, phù hợp với điều kiện thực tế; đảm bảo an toàn, tiết kiệm và hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Phát huy sức mạnh của toàn dân khi tham gia công tác bầu cử Theo Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn, MTTQ các cấp phải thực hiện rõ trách nhiệm của mình trong việc tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Từ đó phát huy sức mạnh của toàn dân trong tham gia công tác bầu cử. Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn cũng yêu cầu, Mặt trận các cấp cần phối hợp, tham gia với Ủy ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp thành lập các tổ chức phụ trách công tác hiệp thương ở địa phương đảm bảo khách quan, công tâm, vô tư, chính xác. “Trong công tác thông tin, tuyên truyền, các báo, tạp chí trong hệ thống Mặt trận phải bám sát các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn để việc đưa tin, viết bài chính thống, chính xác, khách quan để bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân”, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Trần Thanh Mẫn đề nghị. Theo báo cáo của Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam để thực hiện kế hoạch bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam đã ban hành kế hoạch cùng các văn bản quy định, hướng dẫn, chỉ đạo và tài liệu phục vụ công tác bầu cử; chuẩn bị công tác hiệp thương đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; tham gia chuẩn bị dự kiến cơ cấu thành phần và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương; chuẩn bị cơ cấu, thành phần, số lượng người ứng cử trong khối Mặt trận. Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam cũng tập trung triển khai công tác tuyên truyền; xây dựng kế hoạch, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác bầu cử tại các địa phương; triển khai tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến công tác bầu cử theo quy định. Theo kế hoạch, ngay sau hội nghị tập huấn toàn quốc công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 của Hội đồng bầu cử Quốc gia, ngày 22-1, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc tập huấn công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2021 trong toàn hệ thống. Dự kiến, ngày 5-2-2021 sẽ diễn ra Hội nghị Hiệp thương lần 1; thời gian diễn ra Hội nghị Hiệp thương lần thứ 2 xong trước ngày 19-3-2021 và Hội nghị Hiệp thương lần thứ 3 xong trước ngày 18-4-2021.

Tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Chiều 13-1, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm kỳ 2016-2020; triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2021. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC ở cơ sở chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí Phó trưởng ban chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC ở cơ sở: Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam; Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội. Dự hội nghị có đại biểu ban chỉ đạo thực hiện QCDC các ban, bộ, ngành Trung ương... Tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Hội nghị thống nhất đánh giá, năm 2020, các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện QCDC ở cơ sở gắn với việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về tổ chức đại hội đảng các cấp, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Nhất là trong điều kiện vừa tập trung phòng, chống dịch Covid-19, vừa triển khai các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội nhưng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Kết quả cho thấy, qua một năm, nhận thức về dân chủ, thực hành dân chủ và kết quả thực hiện QCDC ở cơ sở tiếp tục được nâng lên; dân chủ trong Đảng, trong quản lý, điều hành của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ngày càng thực chất hơn, đặc biệt là thực hành dân chủ trong Đảng qua đại hội các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025. Các đại biểu đã tích cực trao đổi, thảo luận, khẳng định những kết quả quan trọng mà ban chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp đã đạt được trong năm 2020, đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt còn hạn chế, các vướng mắc chưa được khắc phục triệt để, từ đó kiến nghị, đề xuất các biện pháp khắc phục phù hợp, hiệu quả trong thời gian tới. Tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai đề nghị trong thời gian tới, ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở các cấp cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt QCDC ở cơ sở trên các loại hình, các tổ chức trong hệ thống chính trị; thể chế hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các quan điểm của Đảng về thực hiện QCDC ở cơ sở, gắn với đánh giá tổng kết thực tiễn để xây dựng chính sách, pháp luật phù hợp điều kiện của đất nước, địa phương. Đặc biệt, tiếp tục phát huy dân chủ trong Đảng làm trung tâm, mở rộng dân chủ trong hoạt động quản lý và điều hành của nhà nước, chính quyền, hoạt động của MTTQ Việt Nam; các tổ chức chính trị-xã hội, các lĩnh vực của đời sống xã hội; nhất là phát huy dân chủ trong công tác chuẩn bị, tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026. Cùng với đó, thực hiện tốt giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Cùng với đó, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở các cấp gắn với trách nhiệm của thành viên ban chỉ đạo; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở, chú trọng những ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp...

Nỗ lực nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội

Phòng Quân y, Cục Hậu cần (Tổng cục Chính trị) có nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ (CBNVCS), trong đó có các cán bộ cao cấp của tổng cục. Mặc dù đối tượng phục vụ đa dạng, nhiều nhiệm vụ đặc biệt, song cán bộ, nhân viên Phòng Quân y đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và các công tác khác. Trao đổi với chúng tôi, Thượng tá Vũ Đình Khiêm, Trưởng phòng Quân y cho biết: Những năm gần đây, thời tiết, khí hậu biến đổi khó lường, dịch bệnh diễn biến phức tạp, trong khi nhiệm vụ đột xuất ngày càng tăng đã tác động không nhỏ đến các mặt công tác bảo đảm quân y. Đặc biệt, năm 2020, trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, cán bộ, nhân viên Phòng Quân y phải “căng sức” nhằm ứng phó với dịch bệnh, bảo đảm tốt sức khỏe bộ đội. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Phòng Quân y đã quán triệt cho tất cả cán bộ, nhân viên nêu cao nhận thức, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, tác phong, thái độ phục vụ. Phòng thường xuyên bám sát ý định của Đảng ủy, chỉ huy, kế hoạch công tác, chỉ đạo của Cục Hậu cần để tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ sát với tình hình thực tế. Năm 2020, phòng đã phối hợp với Phòng Quân nhu và các bếp ăn xét nghiệm 103 mẫu thực phẩm bằng phương pháp sử dụng test nhanh, phát hiện, loại bỏ các mẫu dương tính với hóa chất bảo vệ thực vật; lấy 49 mẫu nước ở khu nhà làm việc và các bếp ăn gửi đi xét nghiệm. Nhờ đó, các bếp ăn trong toàn tổng cục không để xảy ra dịch bệnh hoặc các vụ nhiễm trùng, nhiễm độc do ăn uống. Nỗ lực nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội Phòng Quân y luôn làm tốt công tác khám, chăm sóc sức khỏe bộ đội. Trong công tác điều trị dự phòng, Phòng Quân y duy trì nghiêm chế độ chuyên môn, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho CBNVCS. Năm vừa qua, phòng đã chỉ đạo và hỗ trợ quân y các đơn vị hoàn thành kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho 100% đầu mối đơn vị trong tổng cục, với tỷ lệ khám đạt 96,3%, kịp thời phát hiện các trường hợp có bệnh lý mạn tính để tư vấn, điều trị sớm. Trong đó, phòng đã khám cho 1.953 lượt người, cấp thuốc điều trị cho 1.721 lượt, gửi khám tuyến sau 271 lượt đối tượng, điều trị vật lý trị liệu cho 585 lượt người. Phòng cũng đã liên hệ với các bệnh viện tuyến cuối của quân đội tiếp nhận 302 đơn thuốc cấp điều trị dự phòng cho cán bộ cấp tướng và cấp cục... Nhờ làm tốt công tác vệ sinh phòng dịch và chăm sóc sức khỏe bộ đội nên những năm gần đây tỷ lệ quân số khỏe toàn cơ quan luôn đạt 99,37%, vượt chỉ tiêu đề ra. Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ thường xuyên, anh Khiêm cho biết thêm, trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Phòng Quân y đã chủ động tham gia cùng Ban chỉ đạo phòng, chống dịch của tổng cục kiểm tra, hướng dẫn, thường xuyên tổ chức phun hóa chất khử trùng cho các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là khu vực sở chỉ huy tổng cục. Phòng đã rà soát, kịp thời lập danh sách các cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có liên quan đến yếu tố dịch tễ SARS-CoV-2, hướng dẫn kê khai y tế, cách ly, theo dõi sức khỏe theo quy định; phối hợp với Viện Y học dự phòng Quân đội và Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga lấy 335 mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 cho 239 trường hợp. Phòng đã kịp thời phát hiện, khoanh vùng, cách ly, xử lý môi trường, báo cáo các trường hợp có nguy cơ lây nhiễm Covid-19 để cấp trên có biện pháp chỉ đạo, không để dịch lây lan vào cơ quan, đơn vị... Với kết quả đã đạt được, những năm gần đây, Phòng Quân y liên tục được cấp trên biểu dương, khen thưởng. Chỉ riêng năm 2020, phòng đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị tặng 3 bằng khen; 4 cán bộ, nhân viên được thủ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng Tổng cục Chính trị tặng bằng khen.

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v.. Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết Tranh minh họa. Nguồn: anninhthudo.vn Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế. Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Một số thách thức đặt ra trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

 Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động đến mọi quốc gia trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam không nằm ngoài sự tác động đó. Bên cạnh những tác động đa chiều cả về mặt tích cực và tiêu cực đến các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội..., cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 còn tạo ra những ưu thế cùng những thách thức đòi hỏi cần được nhận thức và giải quyết nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng Việt Nam, đặc biệt trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị giai đoạn hiện nay.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là nguyên tắc hàng đầu được Đảng ta nhất quán thực hiện trong suốt hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, tạo nên truyền thống “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Trong bối cảnh hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội..., đặc biệt là sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đặt ra những thách thức, yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đòi hỏi chúng ta cần nhận thức và luận giải trên cơ sở khoa học.

Trên cơ sở vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Quân đội kiểu mới vào thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vấn đề xây dựng bản chất cách mạng của Quân đội ta là tất yếu khách quan và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong chiến tranh giải phóng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Quân đội ta luôn giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Điều đó là cơ sở, nền tảng vững chắc để Quân đội ta không ngừng lớn mạnh và trưởng thành như ngày hôm nay.

Cơ sở xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị xuất phát từ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng; từ bản chất, truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; từ sự kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu về xây dựng quân đội cách mạng của các nước XHCN và từ thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vấn đề cốt tử trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH; hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của Quân đội; xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng trong Quân đội thực sự vững mạnh về mọi mặt. Vững mạnh về chính trị luôn gắn liền với vững mạnh cả về tư tưởng và tổ chức, làm cơ sở nâng cao sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cho Quân đội sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Phải khẳng định rằng, hiện nay và thời gian tới, sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến lĩnh vực quân sự là tất yếu khách quan. Những thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực quân sự. Trong tương lai gần, một khi cuộc chiến tranh công nghệ cao xảy ra, máy tính sẽ tính toán rất nhanh ý đồ tác chiến của người chỉ huy để đưa ra phương án tiến công tối ưu cho các lực lượng, phương tiện, vũ khí thực hành tác chiến. Không gian mạng sẽ được các bên khai thác, chiếm quyền điều phối, làm mất khả năng điều khiển đối với những phương tiện chiến đấu, làm rối loạn các trung tâm điều hành chiến lược, phá hủy hệ thống cơ sở sản xuất vũ khí trọng điểm và những công trình quân sự, quốc phòng, an ninh quốc gia. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông sẽ được các bên tận dụng triệt để theo mục đích, ý đồ của mình tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội dẫn đến sự mất kiểm soát và khả năng điều hành của hệ thống chính trị. Công nghệ nano có thể giúp các vũ khí tiến công có khả năng tàng hình trong mọi điều kiện. Trí tuệ nhân tạo tạo ra những người lính rôbốt thông minh, chiến đấu liên tục không biết mệt mỏi với sức mạnh và sự chịu đựng phi thường trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Tác chiến trên không gian mạng, không gian vũ trụ làm thay đổi về bản chất của các phương thức tác chiến truyền thống. Chiến tranh trong tương lai sẽ thiên về tìm diệt chứ không phải phá hủy bởi phá hủy sẽ gắn rất gần với sự hủy diệt...

Xuất phát từ thực tế đó, Đảng ta nhận định: chiến tranh trong tương lai là chiến tranh công nghệ cao, với nhiều loại vũ khí tối tân, độ chính xác cao, được điều khiển từ xa, có tính tự động hóa, những phương tiện trinh sát thông minh, không người lái, người máy sẽ thay thế người lính đảm nhiệm một số nhiệm vụ đặc biệt, cuộc chiến an ninh mạng diễn biến phức tạp, không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa ta và địch khó phân định... Trước tác động toàn diện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra không ít những thách thức đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, đối với đường lối tổ chức, xây dựng lực lượng và nghệ thuật tác chiến của Quân đội ta.

Cùng với sự ra đời hệ thống vũ khí, trang bị, kỹ thuật thông minh đồng nghĩa với việc xuất hiện các hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, nhất là tác chiến trên không gian mạng và tiến công tổng hợp. Để đối phó có hiệu quả với vấn đề trên, yêu cầu đặt ra cho Quân đội ta cần nghiên cứu, xây dựng và triển khai những phương án tác chiến phù hợp, ngang tầm để không rơi vào thế bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Đồng thời, cần có sự điều chỉnh, sắp xếp lực lượng đảm bảo sự cân đối, đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Sự điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, biên chế, nghệ thuật tác chiến của Quân đội trong bối cảnh hiện nay là một đòi hỏi khách quan nhằm tăng hiệu suất khai thác, sử dụng, phát huy có hiệu quả tính năng, kỹ chiến thuật, chiến lược của các loại vũ khí, khí tài, trang bị, kỹ thuật hiện có và tăng cường sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi của Quân đội ta khi có chiến tranh xảy ra.

Ở một khía cạnh khác, đặc trưng nổi bật của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực quân sự là hệ thống tổ chức quân sự, người quân nhân, hệ thống vũ khí, trang bị, kỹ thuật luôn được kết nối với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với người quân nhân nói chung, đặc biệt là người lãnh đạo, chỉ huy cần có tư duy hệ thống để có cách nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề thực tiễn quân sự một cách tổng thể, quyết đoán, có hiệu quả. Hơn nữa, trong khi giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội dưới sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặt ra yêu cầu song song với hiện đại hóa về vũ khí, trang bị sẽ đồng nghĩa với việc đòi hỏi phải có những con người với những phẩm chất, năng lực ngang tầm để có thể khai thác, vận hành, sử dụng và làm chủ chúng. Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng công nghệ số, việc tích hợp, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất vũ khí, trang bị Quân đội là quá trình chuyển hóa hàm lượng khoa học vô cùng lớn. Khác với hệ thống vũ khí, trang bị, phương tiện quân sự truyền thống là cần có sự tham gia của nhiều người thì hệ thống vũ khí hiện nay là vũ khí, khí tài thông minh được tích hợp bởi công nghệ số. Do đó, các thao tác kỹ thuật của người quân nhân khi sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật đòi hỏi phải hết sức nhanh, gọn, thành thục và chính xác. Vì vậy, người quân nhân nếu không được đào tạo bài bản, bồi dưỡng chuyên sâu thì khó có thể làm chủ và sử dụng thành thạo chúng.... Đó là những thách thức đặt ra đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta cần nhận thức và có những phương hướng hữu hiệu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng lực lượng(2), nhất là: xác định cơ cấu, sắp xếp lại tổ chức biên chế các đơn vị; công tác bồi dưỡng, huấn luyện, tập huấn, diễn tập ở các đơn vị; công tác giáo dục, đào tạo ở các học viện, nhà trường trong toàn quân; công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin trong lĩnh vực quân sự; công tác bố trí, sắp xếp, sử dụng đội ngũ cán bộ... nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ hai, đối với nhân tố chính trị, tinh thần trong Quân đội.

Nhân tố chính trị, tinh thần trong Quân đội là sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan. Mặt khách quan quy định sự hình thành và phát triển nhân tố chính trị, tinh thần của người quân nhân là tổng thể các yếu tố bên ngoài, trực tiếp là bản chất chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với Quân đội, tổng thể các mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... đang tồn tại và thường xuyên tác động, quy định, ảnh hưởng, chi phối mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ. Mặt chủ quan của nhân tố chính trị, tinh thần của người quân nhân biểu hiện ở trình độ nhận thức, tình cảm, niềm tin về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội và ý chí quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng đó thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đưa cả thế giới vào một không gian sống tiềm ẩn đầy rẫy những biến động bất ngờ và vô cùng khó lường bởi sự xuất hiện hàng loạt các loại vũ khí thế hệ mới có tốc độ cao, sức công phá, sự hủy diệt vô cùng lớn; ranh giới hữu hình giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội bị xóa nhòa, ở đó khó có thể phân định một cách rạch ròi giữa địch và ta, chính và tà, thiện và ác... khoảng cách giữa sự sống với cái chết là vô cùng mong manh, phá vỡ sự ổn định tương đối trong đời sống tinh thần của môi trường Quân đội, làm cho người quân nhân luôn phải sống trong một trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng, sợ hãi.

Thứ ba, đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo điều kiện cho con người dễ dàng kết nối lại với nhau trên không gian mạng, ở đó không có sự phân định rạch ròi về ranh giới giữa các quốc gia, lãnh thổ. Sống trong môi trường công nghệ số như hiện nay, hàng ngày, hàng giờ, thậm chí hàng giây, mỗi người quân nhân phải tiếp nhận và xử lý một lượng thông tin rất lớn trên toàn cầu. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nếp sống văn hóa, tâm sinh lý và ý thức tổ chức chấp hành kỷ luật của người quân nhân. Đó là lý do giải thích vì sao diễn biến tư tưởng, tâm sinh lý của người quân nhân hiện nay lại diễn ra vô cùng nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Bên cạnh đó, sự xuất hiện vũ khí thông minh với sức công phá, hủy diệt lớn và hậu quả mà nó mang lại vượt quá sức chịu đựng của con người. Vì vậy, nó sẽ tạo cho người quân nhân một trạng thái tâm lý hoang mang, sợ hãi giữa sự sống và cái chết. Điều này đặt ra yêu cầu mới cho công tác giáo dục, định hướng tư tưởng trong Quân đội.

Ở một khía cạnh khác, để hiện thực hóa Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, Quân đội thực hiện tinh giản biên chế, thu gọn các đầu mối, người quân nhân sẽ ít nhiều xuất hiện tâm lý lo lắng, bị đào thải nếu không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Để hiện đại hóa Quân đội, sẽ có một lực lượng lớn quân số dôi dư ở các quân, binh chủng, lực lượng phải chuyển đổi đơn vị, vị trí công tác, thậm chí  nghỉ hưu sớm, nghỉ chế độ... Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm liên quan đến nhiều cấp, ngành, đơn vị và tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý, lợi ích của cán bộ, chiến sĩ. Vấn đề lựa chọn, sử dụng, đào thải ai? giải quyết các chế độ, chính sách đối với lực lượng này như thế nào để bảo đảm giữ vững sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, không để ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ thường xuyên và hạn chế tác động đến tư tưởng, đời sống của cán bộ, chiến sĩ, người lao động... là nhiệm vụ rất hệ trọng, phức tạp đòi hỏi công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần phải nghiên cứu và giải quyết.

Thứ tư, đối với công tác bảo mật, an toàn thông tin, an ninh chính trị trong Quân đội.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cho phép ứng dụng phổ biến công nghệ kỹ thuật số với hệ thống dữ liệu được kết nối ở hầu hết các giao dịch nhưng lại ẩn chứa trong đó các nguy cơ tiềm ẩn về an toàn thông tin, an ninh mạng, bí mật quân sự. Sự xâm nhập các cơ sở dữ liệu, nhất là hệ thống dữ liệu mật để đánh cắp, làm nhiễu loạn, thay đổi hoặc phá hoại các nguồn thông tin quan trọng là mối nguy thường trực ở mọi cấp độ trong Quân đội. Do đó, vấn đề bảo mật, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin đang là một trong những thách thức lớn đặt ra hiện nay.

Mặt khác, sử dụng smart phone, truy cập internet, tham gia, chia sẻ, bày tỏ quan điểm trên các trang mạng xã hội đang trở thành nhu cầu không thể thiếu của người quân nhân. Đây được xác định là một trong những lỗ hổng làm lộ, lọt thông tin, bí mật quân sự. Các thế lực thù địch đã và đang tập trung khai thác, lợi dụng triệt để mạng xã hội để mua chuộc, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhằm tập hợp lực lượng, tạo dựng ngọn cờ chống phá cách mạng. Chúng tập trung mũi nhọn phá hoại trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội, xuyên tạc đường lối, quan điểm quân sự quốc phòng; đòi phi chính trị hóa Quân đội; ra sức lợi dụng các vấn đề nhạy cảm để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội hoang mang, dao động, xa rời mục tiêu, lý tưởng, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là những thách thức mà cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra đối với công tác bảo mật, an toàn thông tin, an ninh chính trị trong Quân đội.

Để góp phần giải quyết những thách thức đặt ra, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục củng cố, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội

Để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nguyên tắc hàng đầu là phải thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội(3). Đây là vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định đến bản chất chính trị của Quân đội; là cơ sở để Quân đội xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phương hướng chính trị, bản chất giai cấp công nhân, đối tượng tác chiến, nội dung phương thức hoạt động; bảo đảm cho Đảng luôn nắm chắc, lãnh đạo chặt chẽ Quân đội trong mọi tình huống; làm cho Quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân; thực sự là Quân đội của dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội cần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội(4). Xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức làm hạt nhân lãnh đạo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Chăm lo xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đi đôi với đổi mới phong cách, phương pháp, phong cách lãnh đạo. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung quán triệt và tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 22-12-2008 của Bộ Chính trị (khóa X), Kết luận 16-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021. Đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2025. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị trong Đảng bộ Quân đội và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về chính trị, gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, thích ứng tốt với sự phát triển của tình hình, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội

Công tác đảng, công tác chính trị là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị không chỉ giúp xây dựng trận địa chính trị tư tưởng vững chắc mà còn góp phần hình thành mũi giáp công sắc bén, tiến công mạnh mẽ kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng. Thực tiễn 74 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã minh chứng tính đúng đắn của nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, đồng thời khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm cho Quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc XHCN, với nhân dân, làm tròn trách nhiệm với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.

Vì vậy, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, phải tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong tình hình mới, nhất là dưới sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi phải tiến hành tốt các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong chăm lo xây dựng, nâng tầm các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần chủ động tiếp cận, đẩy mạnh ứng dụng và phát huy hiệu quả, thế mạnh của công nghệ thông tin, không gian mạng trong các mặt của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Công tác tư tưởng phải luôn đi trước một bước, chủ động dự báo, chuẩn bị tốt về mặt tâm lý cho những tình huống có thể xảy ra, nhất là khi có sự điều chỉnh sáp nhập để kịp thời định hướng tư tưởng. Coi trọng định hướng thông tin, định hướng dư luận tạo sự đồng thuận cao trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ. Công tác tổ chức, cán bộ phải có sự chuyển biến tích cực, bám sát định hướng của Bộ Chính trị trong điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội theo hướng tinh gọn, mạnh, linh hoạt; coi trọng việc xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan chính trị các cấp; chủ động rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; kiện toàn đội ngũ cán bộ chính trị đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy tốt vai trò đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Thường xuyên rà soát, kịp thời bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và chính sách hậu phương Quân đội phù hợp với đặc điểm hoạt động của Quân đội trong điều kiện mới. Tích cực đổi mới công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ đoàn kết gắn bó quân - dân. Phát huy vai trò, chức năng của các tổ chức quần chúng trong xây dựng Quân đội, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn đặt trong mối quan hệ biện chứng với nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, khi mà những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang được các nước trên thế giới ứng dụng triệt để trong lĩnh vực quân sự, để Quân đội nhân dân Việt Nam lớn mạnh, đủ sức hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, cần tập trung xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Sức mạnh chiến đấu của Quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố như chính trị, tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ thuật, chiến thuật, nghệ thuật quân sự, vũ khí trang bị.... suy cho cùng, đó chính là sức mạnh của sự kết hợp chặt chẽ giữa con người và vũ khí. Trong điều kiện hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tương lai nếu xảy ra sẽ là cuộc chiến tranh hiện đại chống lại cuộc tiến công xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Do đó, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị nhất thiết phải tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với quá trình từng bước hiện đại hóa Quân đội. Hiện đại hóa Quân đội sẽ tạo ra điều kiện vật chất góp phần ổn định tâm lý, xác lập niềm tin chiến thắng, nhằm phát huy cao hơn hiệu quả sức mạnh chính trị, tinh thần của Quân đội. Mặc dù chúng ta luôn xác định lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nhưng không được xem nhẹ việc xây dựng, tăng cường sức mạnh quân sự. Bên cạnh việc đầu tư mua sắm vũ khí, Quân đội cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu bổ sung, phát triển tư duy chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; ứng dụng, cải tiến và chế tạo các loại vũ khí, khí tài, phương tiện, trang bị kỹ thuật quân sự; đồng thời,  trên cơ sở mô hình hiện tại, tiếp tục khai thác, phát huy những đơn vị, quân, binh chủng hoạt động hiệu quả, đồng thời cần có sự điều chỉnh, sáp nhập, rút gọn, giải thể và thành lập, bổ sung, nâng cấp, phát triển một số đơn vị, lực lượng đặc thù theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”(5), có cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra.

Bốn là, chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng internet

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đặt nước ta đứng trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng(6). Chúng triệt để khai thác, lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, kích động vấn đề dân tộc, nhân quyền, tôn giáo ở nước ta; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo, nói xấu Đảng, chế độ, Nhà nước ta; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội làm cho Quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mất phương hướng chính trị, Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và của chế độ XHCN. Nguy hiểm hơn, gần đây chúng lợi dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 gieo rắc tư tưởng tuyệt đối hóa yếu tố vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí công nghệ cao, coi nhẹ nhân tố con người, yếu tố chính trị, tinh thần trong Quân đội, cho rằng với trí tuệ nhân tạo, rô bốt thông minh sẽ thay thế con người trong thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh... đã và đang tác động không nhỏ đến nhận thức tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ.

Xuất phát từ tình hình trên, đòi hỏi chúng ta phải bình tĩnh, sáng suốt nhận diện và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, vì vậy trong đấu tranh phải kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc về chiến lược, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt về sách lược. Tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Cần phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, cán bộ nghiên cứu ở các học viện, nhà trường, trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội tích cực, chủ động tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cả trực diện và trên không gian mạng nhằm vạch trần những luận điệu xuyên tạc và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Đặc biệt, cần có nhiều bài viết sắc bén, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, luận giải sâu sắc về mặt khoa học, làm sáng rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Đồng thời, trên các diễn đàn, trang mạng xã hội, Blog cần đưa ra những quan điểm, chính kiến rõ ràng, kiên quyết đấu tranh phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch; biểu hiện giáo điều, cơ hội, tư tưởng thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống, vi phạm truyền thống, bản chất Bộ đội Cụ Hồ, tạo ra sức lan tỏa, khả năng “tự đề kháng”, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Quân đội luôn vững mạnh, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sai lầm

 Lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH là con đường cách mạng duy nhất đúng đắn, là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Tuy nhiên, thời gian qua trên một số diễn đàn, nhất là trên các trang mạng xã hội xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Những quan điểm này không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Những thành tựu đạt được sau gần 35 năm đổi mới và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng được nhận thức rõ hơn, là những minh chứng thuyết phục để bác bỏ quan điểm sai trái đó. 

1. Sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử

Con đường phát triển của dân tộc Việt Nam đến đầu thế kỷ XX đánh dấu một bước chuyển quan trọng, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1930), đưa dân tộc phát triển theo một con đường phát triển mới - con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng XHCN. Ngay trong Cương lĩnh thành lập Đảng đã xác định rõ: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu con đường đã lựa chọn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đã xóa bỏ chế độ phong kiến, thuộc địa, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra thời đại vẻ vang của lịch sử dân tộc - thời đại quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH. Tiếp đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc và các thế lực xâm lược biên giới, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước. Hiện nay, sau gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định. Đó là sự thật không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, thời gian qua trên một số diễn đàn, nhất là trên các trang mạng xã hội xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Họ cho rằng, sự lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH ở Việt Nam là sai lầm, đẻ non, không đi theo quy luật; nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản thì vẫn giành được độc lập dân tộc mà không phải đổ máu, hy sinh hàng triệu con người trong chiến tranh; đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, kinh tế sẽ phát triển như một số nước trong khu vực đã trở thành những “con.ồng”, “con hổ” của châu Á; Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từng là thành trì của CNXH cuối cùng cũng từ bỏ ngọn cờ để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Do đó, hiện nay Việt Nam nên chuyển hướng phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp,v.v.. Những luận điệu trên đây không có cơ sở khoa học và thực tiễn, là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Hiện thực lịch sử ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cho thấy, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân chịu cảnh áp bức, bóc lột của cả chủ nghĩa thực dân và địa chủ phong kiến, đã có rất nhiều phong trào yêu nước như: phong trào Cần Vương, phong trào khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Dân chủ tư sản,v.v.. song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Ðó là sự bế tắc và thất bại về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc, “tình hình đen tối như không có đường ra”(2).

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước theo tiếng gọi “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản, với mong muốn sang các nước tư bản phát triển học hỏi những yếu tố tiến bộ để về giúp đồng bào thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Vì vậy, Người đã đến những nước tư bản phát triển như Pháp, Anh, Mỹ và nhiều nước thuộc địa. Qua quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Từ đó, Người đi đến kết luận: cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ, cách mạng tư sản Pháp đều là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu cảnh áp bức, bóc lột. Cho nên, nếu lựa chọn con đường cách mạng tư sản này cùng lắm chỉ giải phóng được dân tộc, nhưng nhân dân vẫn bị áp bức, vẫn phải chịu kiếp ngựa trâu, thì độc lập dân tộc sẽ chẳng có nghĩa lý gì.

Ở đây cần nhấn mạnh rằng, ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), Nguyễn Ái Quốc đã hướng đến các nước tư bản, xem đó như là mục tiêu để cứu nước và giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, thực tế lại không cho đáp án như vậy. Trong bối cảnh đó, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), mở ra thời đại phát triển mới đối với lịch sử nhân loại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Đánh giá về sự kiện này, Người viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Từ tiếng vang của Cách mạng Tháng Mười, Người mới tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, lần đầu tiên Người đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cuơng về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin vào tháng 7-1920, từ đó Người kết luận đây mới là con đường cứu nước và giải phóng dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Như vậy, phải mất gần mười năm trời, Nguyễn Ái Quốc mới tìm ra được con đường cứu nước giải phóng dân tộc, chứ không phải ngay từ đầu Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười, tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước và đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng. Trong bối cảnh đất nước như vậy, dân tộc Việt Nam đã chọn con đường cách mạng vô sản là tất yếu lịch sử.

Về lý luận, trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội về quy luật ra đời, phát triển và thay thế của các chế độ kinh tế, chính trị - xã hội, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích những khả năng ra đời của CNXH, trong đó có khả năng ra đời CNXH từ những nước tiền tư bản. Khi nghiên cứu những nước phương Đông lạc hậu, các nhà kinh điển đã chỉ ra những điểm khác biệt về điều kiện cách mạng giữa phương Đông và phương Tây. Trong đó, phương Đông không tồn tại chế độ tư hữu ruộng đất theo kiểu phương Tây, mà tồn tại chế độ công hữu tập quyền, từ đó nó quy định phương Đông tồn tại một cơ cấu xã hội “hết sức đặc biệt” - chế độ công xã nông thôn, có đặc điểm lối sống tập thể, quan hệ cộng đồng cố kết. Vì vậy, đến năm 1882, vấn đề đặt ra đối với C.Mác là: “Bây giờ, thử hỏi công xã Nga, cái hình thức thật ra đã bị phá hoại ghê gớm của chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy, có thể chuyển thẳng lên hình thức cao, hình thức cộng sản chủ nghĩa được không?. Hay là, trái lại, trước hết nó cũng phải trải qua cái quá trình tan rã giống quá trình mà tiến trình phát triển lịch sử của phương Tây phải trải qua?.

Ngày nay, lời giải đáp duy nhất có thể có được cho câu hỏi ấy là thế này: nếu cách mạng Nga là tín hiệu của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ sở hữu công xã về ruộng đất ở Nga hiện nay có thể là điểm xuất phát của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa”(3).

Sau này, trong điều kiện phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin có điều kiện và cơ sở để phát triển quan điểm đó của C.Mác. V.I.Lênin cho rằng: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(4).

Các nhà kinh điển cũng lưu ý, chỉ bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội này để phát triển lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn khi có các điều kiện: đã xuất hiện mô hình xã hội mới tỏ ra ưu việt, tiến bộ hơn; chế độ xã hội hiện tồn đã thối nát và lạc hậu; đã xuất hiện giai cấp đủ khả năng để lãnh đạo phong trào cách mạng. Đồng thời các ông cũng đưa ra cảnh báo đối với những nước lạc hậu việc lựa chọn con đường quá độ đi lên CNXH thì dễ, nhưng để đạt được nó - xây dựng thành công CNXH, sẽ khó khăn hơn, lâu dài hơn, phức tạp hơn và phải trải qua rất nhiều lần thử nghiệm, trong quá trình đó đôi lúc phải trả những cho những sai lầm.

Như vậy, việc lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH ở Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn. Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu, khách quan của thời đại.

2. Chủ nghĩa xã hội vẫn là sự lựa chọn của tương lai

Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã giáng một đòn nặng nề không chỉ vào mô hình CNXH của Liên Xô và các nước Đông Âu, mà còn vào cả chính học thuyết Mác - Lênin và hệ tư tưởng XHCN. Trước hiện thực lịch sử bi thảm đó, đã có một số người dao động, bi quan, nghi ngờ sự đúng đắn của CNXH khoa học.

Sự sụp đổ của chủ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu do nhiều nguyên nhân: khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài, chủ yếu, thứ yếu. Nhưng chung quy do nguyên nhân sâu xa là, trong quá trình xây dựng CNXH, bên cạnh những thành tựu vĩ đại, đã có những khiếm khuyết, nhược điểm nghiêm trọng về mô hình xây dựng, phát triển chậm được phát hiện và khắc phục, gây ra tình trạng trì trệ kinh tế - xã hội, dẫn tới khủng hoảng. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ðó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của một số nhân vật lãnh đạo đảng. Chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn và sai lầm về đường lối của Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu, chúng đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” cực kỳ thâm độc, can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn vào nội bộ các nước XHCN. Cuối cùng, chủ nghĩa đế quốc đã “không đánh mà thắng”. Dĩ nhiên, chúng không thể làm được điều này, nếu cải tổ có đường lối đúng đắn, nếu hơn 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô có tinh thần cảnh giác cách mạng và sức chiến đấu cao, không để nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khiến cho bọn cơ hội, xét lại và phản bội thao túng cơ quan lãnh đạo của Ðảng, nếu có sự cố kết chặt chẽ giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô.

Trước hiện thực đó, Đảng ta chỉ rõ, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH hiện thực, chứ không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng. Vì vậy, tại Đại hội VII (tháng 6-1991), trước những khó khăn và phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định con đường cách mạng của nước ta là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(5). Đây cũng là lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta phác thảo ra mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đưa ra quan niệm, cách thức, biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Để từ đó chúng ta định hướng con đường đi tới, không mắc phải những sai lầm như các mô hình CNXH hiện thực trước đó, đồng thời khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên định con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Kiên định và đổi mới con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã và đang chứng minh tính đúng đắn, khoa học và cách mạng. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, trong một số thời điểm nhận thức của chúng ta về CNXH chưa đầy đủ cả lý luận và thực tiễn, dẫn đến xây dựng CNXH mang tính.ập khuôn, máy móc, giáo điều, không chú ý đến tính đặc thù. Ngay cả hiện nay, không ít vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta vẫn chưa được làm sáng tỏ, cần được nghiên cứu, nhận thức để vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của đất nước.

Quá trình đổi mới đất nước hiện nay bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, thì còn những hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Vì con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam là chưa có tiền lệ trong lịch sử, xuất phát điểm thấp, vì vậy trong quá trình đó chúng ta không tránh khỏi những khó khăn, sai lầm và đã từng phải trả giá. Điều quan trọng là Đảng ta đã nhận ra sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước ngày phát triển đúng hướng. Từ một đất nước nghèo phải nhập khẩu lương thực, đến nay chúng ta chuyển sang xuất khẩu lương thực, ra khỏi nhóm nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình và đang hướng đến mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định, là thành viên có trách nhiệm được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Quá trình đó đang cho thấy con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được nhận thức đầy đủ và làm sáng tỏ.

Vậy, chẳng lẽ từ bỏ con đường cách mạng đúng đắn đang đi? Câu trả lời là không bao giờ! Đó chỉ là luận điệu của các thế lực thù địch nhằm chống phá con đường cách mạng nước ta, hoặc là của một bộ phận nhận thức không đúng về CNXH, lập trường và bản lĩnh chính trị không vững vàng, biểu hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Thực tiễn lịch sử đang cho thấy, không phải bất cứ quốc gia nào đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa thì đều phát triển. Trong hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa thì số nhiều trong đó là các nước đói nghèo, lạc hậu, bất ổn về chính trị. Một số nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc giàu có chủ yếu là do vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động ở các nước thuộc địa và ở chính quốc trước đây. Chính chủ nghĩa tư bản đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, đang để lại một châu Phi đói nghèo, lạc hậu; một châu Mỹ nợ nần chồng chất và một châu Âu khủng hoảng kinh tế và bất ổn chính trị. Trong khi đó, đất nước Việt Nam đã phải trải qua hơn 1000 năm chống Bắc thuộc, gần 100 năm chống đế quốc, thực dân, điều kiện hòa bình để xây dựng đất nước chỉ mới có khoảng 40 năm, vì vậy những thành tựu đạt được hiện nay là vô cùng to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao. Nói tóm lại, đất nước và con người Việt Nam đang ngày càng “thay da đổi thịt”, không ngừng tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện. Thử hỏi trên thế giới này có được mấy dân tộc trải qua lịch sử hào hùng như vậy?

Hiện nay, có ý kiến xuyên tạc rằng, Việt Nam đang đổi mới nửa vời, kinh tế thị trường định hướng XHCN là “đầu Ngô mình Sở” - CNXH chỉ là hình thức, còn bản chất đã ngả theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đây là luận điệu nhằm phủ nhận những thành quả của sự nghiệp đổi mới và quá trình phát triển nhận thức về CNXH ở Việt Nam. Như chúng ta biết, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết mở, có giá trị phương pháp luận. Do đó, V.I.Lênin cho rằng, “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”(6). Đồng thời, V.I.Lênin cũng căn dặn: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(7).

Trong một thời gian dài chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về CNXH, đặc biệt là trước đổi mới, hệ quả là đất nước rơi vào khủng hoảng về kinh tế - xã hội trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng ta đã nhận thức lại CNXH khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Vì vậy, từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), con đường đổi mới đã được thông qua. Sự đổi mới ở đây không có nghĩa là từ bỏ con đường XHCN, mà đổi mới để nhận thức đúng, đầy đủ hơn về CNXH ở Việt Nam. Đổi mới ở đây là đổi mới tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế. Vì vậy, nếu trước đổi mới, quan niệm kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, đối lập một cách trừu tượng CNXH với chủ nghĩa tư bản, thì nay nhận thức lại đúng đắn hơn, coi kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm phát triển chung của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, cần phải kế thừa yếu tố hợp lý, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Nên nhớ rằng, trong Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác nhấn mạnh: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”(8); “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”(9). Do vậy, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và kể cả trong CNXH, việc tồn tại kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân là tất yếu. Sở hữu tư nhân ở đây với tư cách là quyền chiếm hữu sản phẩm do chính lao động tạo ra, chứ không phải sở hữu với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội - dùng quyền sở hữu đó để đi bóc lột sức lao động của người khác làm cơ sở tồn tại của chế độ. 

Vì vậy, thay vì “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” nay nhận thức đúng hơn là “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Điều đó có nghĩa là, chỉ bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, hay nói cách khác là bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa, còn tất cả những thành tựu về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học quản lý... của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản phải kế thừa, vận dụng trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Vì vậy, quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, chứ không phải là ngả theo con đường tư bản chủ nghĩa như sự xuyên tạc của các quan điểm sai trái, thù địch.

Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây “là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(10). Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. CNXH của chúng ta xây dựng không phải là CNXH bị hiểu sai và làm sai, mà là CNXH khoa học, CNXH đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước.

Nhận thức về cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực lý luận hiện nay

  Công tác lý luận phải góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhất là âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, từ đó củng cố và phát huy sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững đất nước.

1. Nhận diện về các thế lực thù địch và các quan điểm sai trái cần đấu tranh

Các thế lực thù địch là tất cả những ai, cá nhân hay tổ chức, Nhà nước hay phi chính phủ, hợp pháp hay bất hợp pháp, ở trong nước hay ở ngoài nước, người Việt Nam hay người nước ngoài... với mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hoạt động chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị đều là thành phần của “các thế lực thù địch”(1).

Các thế lực thù địch trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của đảng hiện nay có 3 nhóm chính: Nhóm thứ nhất, là các lực lượng thù địch, bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Cả những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và một số người thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng bị tấn công. Cuộc đấu tranh này không chỉ diễn ra ở đất nước chúng ta mà còn trên phạm vi thế giới; Nhóm thứ hai, là lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt...; Nhóm thứ ba, là một số cán bộ, đảng viên, có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lý tưởng và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị.

Các thế lực thù địch đang sử dụng nhiều phương tiện, bằng nhiều con đường và với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCS)  trên các hướng chính sau: Phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng: xuyên tạc, bài bác, phủ định Học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH của Việt Nam: Các thế lực thù địch phê phán triệt để, bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường XHCN, công khai ca ngợi con đường TBCN; Phủ nhận sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo. Các thế lực thù địch công kích vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam; Các thế lực thù địch phản bác Cương lĩnh, quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; Các thế lực thù địch bằng mọi cách tác động của nội bộ Việt Nam, dựng chuyện có phái này, phái nọ (phái bảo thủ, phái cấp tiến...), trong các cơ quan Đảng, Nhà nước nhằm tạo ra nghi ngờ nhau trong nội bộ, làm suy giảm đoàn kết trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và trong nhân dân...Các thế lực thù địch tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước; Phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; Các thế lực thù địch đã  xuyên tạc tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân Việt Nam  trong quá trình đổi mới, đồng thời thổi phồng những yếu kém, khuyết điểm của Nhà nước Việt Nam trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, coi tệ quan liêu, tham nhũng là khuyết tật không thể khắc phục được trong xã hội XHCN, quy mọi yếu kém ở Việt Nam đều do ĐCS lãnh đạo; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; Các thế lực thù địch đã xuyên tạc lịch sử, hạ bệ thần tượng, phủ nhận thắng lợi lịch sử có tính quốc tế của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đó được dư luận quốc tế, loài người tiến bộ và được các tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc, UNESCO xác nhận và tôn vinh, ca ngợi; Vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ nhân quyền, cố tình đổi trắng thay đen, dựng chuyện Việt Nam đàn áp tôn giáo, kỳ thị, phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số v.v..

Mục tiêu của các thế lực thù địch: Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi chiến lược và phương thức chống phá. Mục tiêu nhất quán không thay đổi của chúng là chống phá tận gốc về tư tưởng chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội và lực lượng công an, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

 Âm mưu của các thế lực thù địch: Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xóa bỏ chế độ CNXH ở Việt Nam, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. Để thực hiện âm mưu cơ bản đó, “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng  của chủ nghĩa đế quốc.

Đối tượng mà các thế lực thù địch hướng  vào tác động, lôi kéo: Một là, tầng lớp văn nghệ sĩ, trí thức và thanh niên, học sinh, sinh viên; Hai là, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp, nhất là ở Trung ương và cấp tỉnh; Ba là, những người bất mãn với Nhà nước, nhất là những người có quan điểm sai trái, đối lập với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là những người có hoạt động lôi kéo những người khác vào hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước; Bốn là, những người Việt Nam ra nước ngoài công tác, học tập, lao động, trao đổi văn hóa, hội nghị, hội thảo, du lịch v.v..

Công cụ, phương thức, thủ đoạn: Một là, triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình, và mạng intemet từ nước ngoài để chuyển tải các quan điểm sai trái, thù địch để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam; Hai là, lợi dụng danh nghĩa công khai hợp pháp của những người có thân phận ngoại giao, những người sang Việt Nam để thực hiện các dự án hợp tác, hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, y tế... hoặc vào Việt Nam dự hội nghị, hội thảo, du lịch, thăm thân, thông qua các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc để truyền bá, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch; Ba là, thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) của nước ngoài ở Việt Nam để truyền bá, phổ biến quan điểm sai trái thù địch;  Bốn là, tìm mọi cách tác động vào số cán bộ, công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ ra nước ngoài công tác, học tập, tham gia hội thảo, tham quan, du lịch để lôi kéo, gieo rắc tư tưởng hoài nghi con đường XHCN, hướng về phương Tây TBCN; Năm là, Mỹ và các nước phương Tây sử dụng các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài vừa lôi kéo tập hợp lực lượng, vừa tiến hành các hoạt động bạo loạn hòng gây tình hình mất ổn định ở Việt Nam; Sáu là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc” và “tôn giáo” để gây sức ép về chính trị, kích động, hình thành xu hướng ly khai đối lập với ĐCS Việt Nam; Bảy là, tăng cường móc nối với số đối tượng cơ hội chính trị, chống đối ở Việt Nam, tóm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng, hình thành phe phái tiến tới hình thành đảng đối lập ở Việt Nam; Tám là, làm cho xã hội Việt Nam  “tự diễn biến”.v.v..

Bên cạnh các luận điểm của các thế lực thù địch, hiện nay còn không ít những quan điểm sai trái của những kẻ thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn: Một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, mặc dù thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại tuyên truyền, tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam. Những bài viết được tung lên internet, thậm chí kích động tụ tập đông người, biểu tình gây áp lực với chính quyền, đòi thả tự do cho số “tù nhân lương tâm”. Họ có quan điểm tiêu cực với hầu hết các sự kiện, các thành tựu của đất nước, chẳng hạn nhân sự kiện Việt Nam đăng cai tổ chức APEC, phủ nhận sự thành công của Hội nghị, xuyên tạc bài diễn văn của Tổng thống Mỹ nhằm gây chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc v.v..

2. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận

Công tác lý luận bao gồm các hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định và cụ thể hóa đường lối; và các hoạt động truyền bá lý luận, đưa lý luận và cuộc sống, nhằm nâng cao trình độ lý luận, giác ngộ chính trị, xây dựng phương pháp tư duy khoa học cho các đối tượng. Đây là mặt công tác quan trọng hàng đầu trong công tác tư tưởng, giữ vai trò quyết định trên mặt trận tư tưởng. Thực tế cho thấy, chỉ làm tốt công tác lý luận mới đảm bảo cho Đảng giữ vững và không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân (GCCN), tính tiền phong, năng lực lãnh đạo chính trị đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Công tác lý luận là trách nhiệm và hoạt động của toàn Đảng, nhưng trước hết và chủ yếu thuộc về cấp chiến lược. Đảng tiên phong trước hết là tiên phong về lý luận.

Nhiệm vụ của công tác lý luận: Một là, tổng kết thực tiễn; Hai là, phát triển lý luận. Hai mặt này gắn liền với nhau và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng. Sự chậm trễ hoặc phạm sai lầm trong công tác lý luận là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng dao động, không thống nhất về chính trị, tư tưởng, dẫn Đảng tới nguy cơ sai lầm về đường lối, chủ trương, dẫn đến mất vai trò lãnh đạo. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi công tác lý luận phải được tăng cường, đẩy mạnh. Đại hội IX của ĐCS Việt Nam đã chỉ ra: phải “đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; đấu tranh với những khuynh hướng, tư tưởng sai trái”(2). Nghị quyết số 16/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa X về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ... Trong đó, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã khẳng định: “Đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Ðảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, trong đó xác định một trong sáu quan điểm chỉ đạo là: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”.  ĐCS Việt Nam luôn xác định công tác lý luận là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng, là một trong những nội dung quan trọng của công tác lãnh đạo và là phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng.

Mục tiêu của công tác lý luận là vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể hiện nay của Việt Nam để xây dựng cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến, truyền bá lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân; cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng lãnh đạo.

Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, công tác lý luận là một nội dung trọng yếu, nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên sự thống nhất, đoàn kết trong Đảng. Công tác lý luận góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. ĐCS Việt Nam xác định công tác lý luận là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ, phát triển và củng cố niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; làm cho hệ tư tưởng của Đảng, lý tưởng XHCN giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; gìn giữ, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới. Công tác lý luận giúp bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên lực lượng và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, tư tưởng, trí tuệ, văn hóa và đạo đức. Công tác lý luận có vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác lý luận phải góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhất là âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, củng cố và phát huy sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững đất nước. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, công tác lý luận luôn được coi trọng và tăng cường, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Sau hơn 30 năm đổi mới, nhận thức về nội dung, con đường đi lên CNXH ở nước ta đã ngày càng rõ hơn, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của đất nước(3)...

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác lý luận của Đảng. Từ khi thành lập đến nay, cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; ngày càng chú trọng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quan trọng này. Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng.

Chủ thể, lực lượng tham gia: Công tác lý luận phải gắn bó chặt chẽ với công tác tổ chức, cán bộ và phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân; phải tiến hành đồng thời với việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng; nói đi đôi với làm. Cần hết sức coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu để bổ sung và phát triển lý luận, góp phần xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng, lý luận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác lý luận là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp ủy, bí thư cấp ủy các cấp; của cả hệ thống chính trị với sự tham gia tích cực của nhân dân, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ quan trọng bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, vì vậy, cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; việc tổ chức đấu tranh cần được chuẩn bị kỹ, chặt chẽ, khoa học và quyết tâm cao. Tất cả các cơ quan tư tưởng, thông tin, tuyên truyền, báo chí là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này. Người đứng đầu cấp ủy phải là người tổ chức cuộc đấu tranh. Cần huy động một đội ngũ chuyên gia giỏi, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh. Cần thường xuyên sơ kết, rút kinh nghiệm, biểu dương những cơ quan, những người làm tốt nhiệm vụ.

Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phê phán, phản bác có hiệu quả các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt trong phương pháp; công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Đối thoại, trao đổi với những người có ý kiến khác trên tinh thần khoa học, dân chủ, xây dựng và thuyết phục. Phát huy vai trò và trách nhiệm của các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn khoa học vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước, vì lợi ích của nhân dân và sự vững vàng của chế độ.

Vai trò bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận:  Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự phát triển của đất nước. Cuộc đấu tranh đó không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ học thuyết cách mạng của giai cấp công nhân (GCCN) trước sự tấn công, chống phá của kẻ thù giai cấp, mà còn bảo vệ độc lập dân tộc. Đồng thời, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có nhiệm vụ vô cùng quan trọng là góp phần bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận, học thuyết cách mạng của GCCN trước sự vận động, biến đổi của lịch sử nhân loại, cũng như của bản thân giai GCCN và các lực lượng xã hội khác. Bởi vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận là một sự phân tích, phê phán mácxít nghiêm túc luôn đòi hỏi công tác lý luận có một thái độ đối xử có phân biệt, thích hợp trong mọi trường hợp cụ thể, đối với các đại biểu cụ thể của các trường phái tư tưởng triết học, xã hội học tư sản hiện nay. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận còn có vai trò hết sức quan trọng là định hướng hệ giá trị tư tưởng cho các lực lượng, tầng lớp trong xã hội nước ta, đồng thời góp phần tập hợp lực lượng nhằm thực hiện mục tiêu là xây dựng thành công CNXH.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận hiện nay có một số đặc điểm mới. Một là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận trước sự thay đổi về tương quan giữa các đối thủ chủ yếu trong cuộc đấu tranh ý thức hệ hiện nay; Hai là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận trong kỷ nguyên toàn cầu hóa sôi động và Cách mạng công nghiệp 4.0;  Ba là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh hiện nay;  Bốn là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận ngày càng gay gắt, phức tạp với những hình thức biểu hiện mới.

Nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận phải kịp thời, kiên quyết, kiên trì, sắc bén, có căn cứ khoa học, có sức thuyết phục; không áp đặt, võ đoán, quy kết, định kiến. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng.  Để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, cần nắm vững và thực hiện tốt các quan điểm. Một là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải đi đôi với phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Hai là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với đấu tranh chống suy thoái và tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng, nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu; Ba là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc với đấu tranh chống bảo thủ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí với khắc phục hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; Bốn là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, báo chí là nòng cốt, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội;  Năm là, giữ vững trận địa tư tưởng, nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Triển khai tích cực, kiên quyết, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị cao, phương pháp khoa học, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng.

__________________