Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

Thời điểm không được phép lơ là, chủ quan

 


Việc phòng chống, ngăn chặn không để virus SARS-CoV-2 tái phát trở lại là vô cùng cấp bách, hệ trọng, không được để xuất hiện tâm lý chủ quan trong dân cũng như trong chính quyền cấp cơ sở.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Chỉ thị số 01 năm 2021 về tăng cường phòng, chống dịch bệnh Covid-19.  Trước hết, thực hiện dừng các chuyến bay với Anh và Nam Phi. Giao Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao tiếp tục xác định những nơi có biến chủng Covid-19 khác… Chỉ thị nêu rõ, dịch bệnh Covid-19 đang tiếp tục lây lan với tốc độ nhanh trên diện rộng tại nhiều nước trên thế giới. Trong khi đó, cộng đồng vẫn còn tình trạng chủ quan, lơ là, không thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch. Đây là điều rất nguy hiểm bởi dịch Covid-19 luôn rình rập bùng phát mọi lúc, mọi nơi nên không được phép chủ quan.

Nhất là tại Việt Nam, thời điểm cuối năm luôn tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh rất cao đối với những căn bệnh về đường tiêu hóa, hệ hô hấp.

Lý do thứ nhất, đó là do sự thay đổi thời tiết. Tại các tỉnh phía Bắc, nhiệt độ xuống rất thấp cộng với không khí ẩm là mảnh đất màu mỡ cho dịch bệnh phát triển.

Thứ hai, dịp đón năm mới là thời điểm dễ lây lan nhất vì theo phong tục, tết âm lịch là ngày tụ họp gia đình, dòng họ, số người về quê tăng mạnh khiến dịch bệnh có nguy cơ lây truyền cao.

Đây cũng là thời điểm nhiều lễ hội, đặc biệt là năm nay lại là năm cuối nhiệm kỳ nên số lượng hội họp cũng tăng đáng kể, cần phải đảm bảo an toàn vì sẽ diễn ra sự kiện vô cùng quan trọng là Đại hội Đảng lần thứ 13.

Thứ ba, đó là dòng người từ nước ngoài nhập cư vào Việt Nam tăng mạnh trong khi tại nhiều quốc gia đã xuất hiện virus SARS-CoV-2 biến thể, có độ lây nhiễm rất cao.

Xác định việc phòng chống dịch bệnh thời điểm này rất quan trọng nên các cơ quan chức năng đã đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn như siết chặt việc thực hiện cách ly, khởi tố các đối tượng đưa người qua biên giới trái phép gây hậu quả. Bộ đội Biên phòng còn đề xuất cho lắp hệ thống camera dọc tuyến biên giới để ngăn chặn tình trạng nhập cư trái phép…

Để tiếp tục khống chế và kiểm soát thành công dịch Covid-19, không để xuất hiện trường hợp xâm nhập, lây lan trong nước, Bộ Y tế đề xuất với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường nhiều biện pháp kiên quyết và đây là những biện pháp cần thiết lúc này. Điều lo ngại nhất hiện nay là đã xuất hiện tư tưởng chủ quan trong một số người dân, sự buông lỏng quản lý của một số địa phương và cơ quan liên quan.

Điển hình là việc ông Tạ Văn Thiềng, Phó giám đốc Trung tâm y tế huyện Chương Mỹ vừa bị kỉ luật vì đã ký giấy xác nhận không đúng cho bệnh nhân Đ.T.N, 22 tuổi, du học sinh từ Mỹ về khi chưa đủ thời gian cách ly. Việc tụ tập đông người khi không thật cần thiết, nhất là qui định về việc bắt buộc phải đeo khẩu trang nơi cộng cộng chưa được thực hiện nghiêm túc. Việc xử lý theo qui định đối với những cá nhân không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân theo hướng dẫn của cơ quan y tế và xử lý trách nhiệm người đứng đầu theo quy định tại Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ chưa được triệt để.

Tóm lại, việc phòng chống, ngăn chặn không để virus SARS-CoV-2 tái phát trở lại là vô cùng cấp bách và hệ trọng. Vì thế, cùng với việc siết chặt quản lý đối với người nhập cư, cần tuyên truyền, vận động nhân dân nêu cao cảnh giác, thực hiện nghiêm túc Nghị định 117/2020/NĐ-CP đồng thời Bộ Y tế cần chuẩn bị nhiều kịch bản để ứng phó kịp thời. Đặc biệt là không được để xuất hiện tâm lý chủ quan trong dân cũng như trong chính quyền cấp cơ sở.

 

Năm 2020 - Năm đặc biệt của Việt Nam

 


Sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân đã làm nên một năm 2020 đặc biệt với nhiều thành công của Việt Nam, tạo tiền để tổ chức thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cũng là động lực cho sự phát triển mạnh mẽ trong năm 2021 và những tiếp theo.

Việt Nam đã biến “nguy” thành “cơ” bằng sự linh hoạt, chủ động, sáng tạo, bằng sự lãnh đạo đạo thống nhất, bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đoàn kết toàn dân. Đại diện của WB nhận xét về cuộc chiến chống COVID19 “Mây đen phủ toàn cầu, nhưng mặt trời vẫn tỏa sáng ở Việt Nam”. Với khẩu hiệu chống dịch như chống giặc, với chân lý được đúc kết từ xưa ‘còn người là còn của, chủ trương phòng hơn chống, biện pháp cách ly, cô lập nguồn bệnh một cách triệt để và nghiêm ngặt; nguyên tắc “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để tiến hành “kháng chiến toàn dân, toàn diện” đã làm nên chiến thắng đánh bại đại dịch COVID-19. Mặc dù đến nay đã có 35 người chết vì COVID-19 nhưng là tỷ lệ rất thấp so với dân số, cũng chưa có ca bệnh nước ngoài nào tử vong tại Việt Nam, kể cả những ca cực nặng như BN91 người Anh. Đi từng ngõ, gõ từng nhà, công tác tuyên truyền cũng như sự vào cuộc của cán bộ y tế, thâm chí các chiến sỹ biên phòng, công an và từng người dân đã góp phần làm nên thành công phòng chống đại dịch. Với nguồn lực và phương tiện hạn chế, đội ngỹ y bác sỹ và các nhà khoa học đã không chỉ cứu chữa hơn 1.200 bệnh nhân khỏi nhiễm COVID-19 mà còn chuẩn bị có thành công hơn nữa với vaccine Nano Covax “Made in Vietnam” hiện nay đang được bệnh viện 103 thử nghiệm trên người.

Việt Nam vững vàng trước thiên tai bão lũ. Những cơn bão 5,6,7,8, 9 dữ dội, khốc liệt kéo vào các tỉnh miền Bắc và Trung bộ gây nên tình trạng bão chồng bão, nhiều vụ sạt lở đất nghiêm trọng như thủy điện Rào Trăng… gây ra những thiệt hại vật chất lớn nhất trong 10 năm trở lại đây như có trên 201.000 ngôi nhà bị sập đổ, hư hỏng, tốc mái, thiệt hại ước tính 17.000 tỷ đồng.  Hướng về miền Trung với tất cả tấm lòng tương thân tương ái, với lực lượng con người và vật chất được huy động ở mức cao nhât, Chính phủ đã liên tục chỉ đạo về công tác ứng phó thiên tai, mưa lũ, các lực lượng chức năng, đặc biệt là quân đội đã huy động tối đa lực lượng cho nhiệm vụ này. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kịp thời đứng ra vận động nhân dân và các tổ chức, cơ quan đơn vị huy động mọi nguồn lực để kịp thời cứu trợ cho bà con vùng bị bão lũ tàn phá. Đã có trên 300 đoàn cứu trợ, có hàng trăm tỷ đồng, hàng triệu gói mỳ tôm, cháo khô, hàng chục vạn quần áo, hàng chục nghìn bình nước lọc và nhu yếu phẩm khác đã được người dân cả nước đưa đến miền Trung.

Việt Nam đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến chống tham nhũng. Đây cũng là năm 67 Đại hội Đảng bộ trực thuộc Trung ương và tất cả đại hội Đảng bộ cơ sở, trên cơ sở đều thành công tốt đẹp. Các đại hội đã tổng kết công tác của nhiệm kỳ 2016-2020, chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như những nguyên nhân, khuyết điểm và các bài học kinh nghiệm xác đáng. Các hoạt động chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đang diễn ra tích cực. Bên cạnh đó, năm 2020 cũng là năm Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh và quyết liệt hơn nữa công tác phòng chống tham nhũng, loại bỏ những thành phấn thoái hóa, biến chất, làm trong sạch nội bộ Đảng, tạo tiền đề cho sự thành công của Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Phát biểu tại hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức đại hội các cấp nhiệm kỳ 2010-2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng thành công của đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 là cơ sở, tiền đề rất quan trọng để góp phần vào thành công Đại hội XIII của Đảng”.

Năm thành công của ngoại giao: Với tư cách là Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ động thể hiện vai trò lãnh đạo đặc biệt trên các lĩnh vực như: Thứ nhất, Việt Nam thống nhất các quốc gia ASEAN trong trong nỗ lực ứng phó với đại dịch COVID19 và phục hồi. Thứ hai, Việt Nam đã tạo dựng sự đồng thuận về lập trường trung lập và vai trò trung tâm của ASEAN trong bối cạnh tranh giưa các siêu cường. Nhân kỷ niệm 53 năm thành lập ASEAN, các bộ trưởng ngoại giao ASEAN đã ra Tuyên bố về tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á. Thứ ba, Việt Nam đã điều hành thành công việc hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEF. Thứ tư, Việt Nam củng cố tuyên bố mang tính chính sách của ASEAN về Biển Đông bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Năm 2020 Việt Nam cũng có những thành công lớn trên cương vị ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến trên các lĩnh vực như hoạt động nhân đạo, hoạt động giữ gìn hòa bình, hoạt động chống biến đổi khí hậu, hoạt động phòng chống tội phạm trên không gian mạng. Đối với Liên hợp quốc, Việt Nam nêu chủ trương trở thành “Đối tác vì hòa bình bền vững”, còn đối với ASEAN, Việt Nam nêu chủ đề “Gắn kết và chủ động thích ứng”. Việt Nam đã chủ trì đề xuất Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết lấy ngày 27/12 hàng năm làm Ngày quốc tế sẵn sàng chống dịch bệnh cũng là ngày sinh của nhà bác học người Pháp Louis Pasteur.

Nền kinh tế tăng độ mở và hội nhập. Hiệp định Thương mại tự do EVFTA giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu chính thức được ký kết ngày 30/6/2019 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/8/2020, được đánh giá là hiệp định toàn diện, chất lượng, cân bằng lợi ích giữa Việt Nam và EU, phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngày 15/11/2020, tại hội nghị cấp cao ASEAN 37 ở Hà Nội, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP. RCEP là hiệp định giao thương tự do lớn nhất thế giới bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand với GDP của 15 nước hơn 26 nghìn tỷ USD, chiếm gần 30% GDP toàn thế giới, chưa kể bao phủ 1/3 dân số toàn cầu. Ngày 11/12/2020, Việt Nam cũng đã ký vào bản kết thúc đàm phán với Anh quốc, bước cần thiết để tiến tới hiệp định thương mại tự do – UKFTA sắp tới. Với EVFTA, Việt Nam có thể đa dạng hóa các thị trường bên ngoài thay vì chỉ tập trung vào Mỹ. Với RECP, Việt Nam gần như đã có tất cả các cam kết song phương và đa phương với các đối tác trong đó, kể cả ASEAN. Tính đến 2020, Việt Nam đã ký rất nhiều thỏa thuận thương mai song phương và đa phương, trong đó có 13 hiệp định FTA đang có hiệu lực và là quốc gia nằm trong nhóm các nền kinh tế có nhiều FTA nhất trong khu vực và trên thế giới.

Dư luận quốc tế cho rằng năm 2020, Việt Nam trở thành “Thỏi nam châm” hút vốn mới của thế giới. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, Việt Nam trong năm qua đã có một sức đẩy tốt, xuất khẩu tăng cũng như những điều kiện cơ sở hạ tầng được Chính phủ lưu tâm đẩy mạnh.  Nhiều doanh nghiệp lớn như Pegatron của Đài Loan, chuyên sản xuất thiết bị cho các tập đoàn công nghệ như Microsoft, Apple hay Sony đã xác nhận kế hoạch đầu tư 1 tỷ USD để xây dựng một cơ sở sản xuất tại khu công nghiệp Nam Đình Vũ, gần Hải Phòng. Apple đã chính thức chuyển một phần dây chuyển sản xuất Ipad và Macbook từ Trung Quốc sang Việt Nam. Foxcon, một tập đoàn lớn khác của Đài Loan đã thông báo một khoản đầu tư mới 270 triệu USD nhằm xây dựng dây chuyền sản xuất Ipad và Macbook tại Việt Nam và sẽ đi vào hoạt động năm 2021… Về phương diện kinh tế, Việt Nam đang trở thành một phần của khu vực Châu Á trỗi dậy đầy năng động. Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng trở nên cởi mở, đa dạng và có những đầu tư lớn hơn cho nghiên cứu phát triển, trong đó có kinh tế kỹ thuật số. Việt Nam được đánh giá là một đối tác  quan trọng trên mọi lĩnh vực, một nền kinh tế năng động với môi trường đầu tư thân thiện và hệ thống chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hợp tác đối ngoại và là mắt xích quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc tế.

Việt Nam cũng được cho là một sức mạnh đang trỗi dậy. Viện Lowy, chuyên nghiên cứu chính sách đối ngoại của Australia xếp Việt Nam thứ 12 trong bảng Chỉ số quyền lực ở Châu Á năm 2020 (Asia Power Index, công bố ngày 19/10/2020, tăng một hạng so với năm 2019 và đứng sau 4 nước Đông Nam Á, trong tổng số 26 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hội thảo ngày 22/10/2020 của Viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Québec Canada “Sự trỗi dậy của Việt Nam và cơ hội kinh doanh cho Québec” đã chỉ ra những thành tựu của Việt Nam như GDP tăng nhanh đáng kể, gấp 3 lần trong vòng 15 năm gần đây; tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cũng rất cao, dao động 7% trong khoảng 30 năm trở lại đây; khối lượng hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu đã tăng gấp 5 lần trong vòng 10 năm; khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng gấp 10 lần trong vòng 15 năm gần đây. Việt Nam cũng được ghi nhận đang trở thành một “trung tâm chế tạo” ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Báo cáo Chỉ số cạnh tranh công nghiệp (CIP) 2020, tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc  UNIDO cho rằng chỉ số CIP của Việt Nam đến nay gần vượt lên trên mức trung bình của thế giới, trong đó có 2 chỉ số quan trọng về khả năng cạnh tranh, đặc biệt là hàng hóa sản xuất của Việt Nam chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, vượt trên mức trung bình của toàn cầu là 60%. Việt Nam cũng đang tiến hành những bước đầu tiên của cuộc “cách mạng kỹ thuật số”.

Năm 2020, với tổng sản phẩm trong nước GDP đạt 2,91%, Việt Nam thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây được coi là thành công lớn. Việc khống chế thành công dịch bệnh và lấy lại đà tăng trưởng kinh tế cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống Chính phủ, Thủ tướng, sự nỗ lực, cố gắng của người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong thực hiện mục tiêu vừa chống dịch bệnh vừa phát triển kinh tế xã hội. Về chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động của toàn nên kinh tế theo giá hiện hành năm 2020 ước đạt 117,9 triệu đồng/lao động tương đương 5.081 USD, tăng 290 USD (tương đương tăng 5,4%) so với năm 2019. Điều này cũng cho thấy năng suất lao động của người Việt đang được cải thiện theo hướng tích cực, tay nghề lao động được nâng lên. Xuất siêu của Việt Nam trong năm 2019 cũng đạt 19 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua.

Năm 2020 - Dấu ấn đặc biệt trong lịch sử hoạt động Quốc hội. Năm 2020 ghi dấu ấn đặc biệt bởi sự đổi mới mạnh mẽ để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch AIPA 41.

Năm 2020 đi vào lịch sử không chỉ của Việt Nam mà đối với cả nhân loại vì sự xuất hiện đầy bất ngờ của đại dịch COVID-19, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tính mạng của người dân. Mọi sinh hoạt bị đảo lộn, những hoạt động tưởng chừng như rất bình thường, đơn giản như gặp gỡ, hội họp, thảo luận… trước đại dịch đều trở nên khó thực hiện. Trong bối cảnh ấy, vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức, nghị trường năm 2020 ghi dấu ấn đặc biệt bởi sự đổi mới mạnh để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, trí tuệ và trách nhiệm cao, sự tham gia tích cực, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết của các vị đại biểu, năm 2020 với hai Kỳ họp thứ 9 và thứ 10, Quốc hội đã hoàn thành khối lượng lớn công việc trên cả 3 nội dung lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Nỗ lực, trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân.  Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV mang đấu ấn đặc biệt bởi đây là lần đầu tiên trong hơn 70 năm qua, Quốc hội Việt Nam họp trực tuyến liên tục nhiều ngày trong đợt 1 (từ ngày 20-28/5). Hình thức này được các đại biểu Quốc hội đánh giá là phù hợp khi cả nước đang trong giai đoạn phòng, chống dịch COVID-19, đồng thời thể hiện sự chủ động, linh hoạt, đặt nền móng cho bước đổi mới trong hoạt động của Quốc hội trong Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với hình thức họp trực tuyến, đại biểu tại điểm cầu của 63 Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện đăng ký phát biểu, tranh luận qua đường dây nóng. Đại biểu tại Hội trường Diên Hồng đăng ký phát biểu và tranh luận như các kỳ họp trước. Danh sách đăng ký phát biểu được kịp thời cập nhật vào hệ thống điều hành của Đoàn Chủ tịch theo thứ tự đăng ký của đại biểu và được thể hiện trên màn hình tại Hội trường Diên Hồng. Các đại biểu Quốc hội sử dụng phần mềm cài đặt trên máy tính bảng để biểu quyết. Kết quả biểu quyết sẽ được hiện trên màn hình ở Hội trường Diên Hồng. Việc cung cấp thông tin cho các đại biểu Quốc hội vẫn được duy trì và bảo đảm thực hiện thông qua các phần mềm ứng dụng. Đại biểu Quốc hội có thể truy cập ứng dụng Quốc hội để tra cứu Văn kiện tài liệu hoặc Thư viện số để tìm kiếm, sử dụng tài liệu tham khảo của Kỳ họp và gửi câu hỏi, yêu cầu cung cấp thông tin, nhận kết quả trực tiếp trên hệ thống cung cấp thông tin trực tuyến của Thư viện Quốc hội. Kết thúc đợt họp đầu tiên theo hình thức trực tuyến, nhiều tín hiệu tích cực đã được ghi nhận. Các đại biểu đánh giá, phiên họp diễn ra trong không khí dân chủ, nghiêm túc không khác so với hình thức họp tập trung tại Nhà Quốc hội. Phương tiện phục vụ cho họp trực tuyến đã bảo đảm cho phiên họp diễn ra trôi chảy, không có vướng mắc hay trục trặc kỹ thuật. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhìn nhận hình thức Quốc hội họp trực tuyến thể hiện sự đổi mới, linh hoạt trong hoạt động của Quốc hội, song vẫn bảo đảm duy trì không khí dân chủ, công khai của kỳ họp Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật. Theo đánh giá của nhiều đại biểu, hình thức họp trực tuyến không những mang lại hiệu quả cao, mà còn có nhiều lợi thế hơn so với hình thức họp tập trung như giúp tiết kiệm về ngân sách; đại biểu ở địa phương không phải di chuyển nhiều; lãnh đạo địa phương cũng có điều kiện tham gia họp trực tuyến tại nhiều đầu cầu; nhiều cán bộ, công chức hoặc lãnh đạo các văn phòng, sở, ngành… cũng được mời tham gia họp ở các đầu cầu.

Theo Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc, trong giai đoạn Việt Nam đang tiến tới Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong một kỳ họp Quốc hội là cần thiết. Việc tiến hành họp trực tuyến là bước đổi mới và là tiền đề để Quốc hội nghiên cứu cải tiến cách thức tổ chức các kỳ họp trong thời gian tới. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đánh giá lần đầu tiên, Quốc hội Việt Nam họp trực tuyến liên tục nhiều ngày và các nội dung đã diễn ra thông suốt, bảo đảm tiến độ, chất lượng, đạt hiệu quả cao. “Đây là kết quả bước đầu rất đáng trân trọng, tạo tiền đề để Quốc hội tiếp tục nghiên cứu, phát huy, hoàn thiện phương thức họp Quốc hội trong thời gian tới. Kết quả này cũng một lần nữa khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Quốc hội cũng luôn nỗ lực, trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân và đất nước,” Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. Phát huy những kết quả khả quan của Kỳ họp thứ 9, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiếp tục duy trì hình thức họp trực tuyến kết hợp với họp tập trung tại Hội trường Diên Hồng (Nhà Quốc hội), được các đại biểu Quốc hội đồng tình rất cao.

Giám sát đến cùng những nội dung được cử tri và nhân dân quan tâm.  Điểm nhấn tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV là phiên chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội. Khác với các lần chất vấn trong nhiều kỳ họp trước, tại kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội chất vấn và trả lời chất vấn về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số nghị quyết trong nhiệm kỳ khóa XIII. Phiên chất vấn diễn ra ở thời điểm sắp kết thúc nhiệm kỳ khóa XIV, kết quả của phiên chất vấn sẽ là cầu nối giữa hai khóa Quốc hội, chuyển tải những nỗ lực trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành trong công tác chỉ đạo điều hành và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội trong việc theo dõi, giám sát; thể hiện vai trò, chức năng của Quốc hội trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra của nhiệm kỳ khóa XIV. Nội dung chất vấn của đại biểu Quốc hội rất đa dạng, bao phủ nhiều lĩnh vực của đời sống, là những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Đặc biệt vấn đề sạt, lở đất, lũ lụt ở miền Trung gây nhiều thiệt hại về người và tài sản đã "làm nóng" nghị trường trong những ngày chất vấn, với hàng loạt câu hỏi đặt ra. Qua các báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo tổng hợp kết quả thẩm tra, Báo cáo thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và nội dung chất vấn tại kỳ họp cho thấy bức tranh tổng thể trong việc triển khai thực hiện các yêu cầu của Quốc hội là toàn diện, có chiều sâu, kết quả tích cực là chủ đạo. Tuy nhiên, không ít vấn đề “đến hẹn” lại được đại biểu chất vấn, điều đó cho thấy việc giải quyết kiến nghị của đại biểu và cử tri chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa rốt ráo, triệt để, chuyển biến còn chậm, chưa đạt kết quả đề ra. Vấn đề đổ xô đi học lấy chứng chỉ tin học, ngoại ngữ nhằm đủ điều kiện để thi xét nâng ngạch, thăng hạng lại một lần nữa được đại biểu nêu ra tại phiên chất vấn cho thấy trách nhiệm theo đuổi sự việc, giám sát đến cùng các vấn đề được người dân quan tâm của đại biểu Quốc hội.

Dấu ấn Việt Nam trong vai trò Chủ tịch AIPA 41 Trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, lần đầu tiên trong lịch sử của AIPA, Đại hội đồng AIPA diễn ra từ ngày 8-10/9/2020 được tổ chức theo hình thức trực tuyến. Với sự dẫn dắt, điều hòa của Quốc hội Việt Nam, Đại hội đồng AIPA 41 đã thành công tốt đẹp. Điều này thể hiện qua sự tham gia đông đủ, ủng hộ của các Nghị viện thành viên, các Nghị viện quan sát viên và nhiều tổ chức Nghị viện quốc tế. Với vai trò Chủ tịch AIPA 41, việc Quốc hội Việt Nam chủ động đề xuất họp Đại hội đồng qua hình thức trực tuyến (từ ngày 8-10/9/2020) và đề xuất các hình thức xây dựng nghị quyết chương trình nghị sự đã ghi dấu ấn và tạo nên một cách tổ chức hoàn toàn mới, sẽ được áp dụng nhiều trong thời gian tới đối với một số hoạt động của AIPA. Đặc biệt, chủ đề đưa ra tại các Ủy ban, Hội nghị Nữ Nghị sỹ, Hội nghị (không chính thức) Nghị sỹ trẻ AIPA và các Nghị quyết tại Đại hội đồng đã bám sát chủ đề Năm Chủ tịch ASEAN 2020 “gắn kết và chủ động thích ứng”, phù hợp với tình hình thực tiễn, thể hiện sự đồng hành và hỗ trợ của AIPA đối với ASEAN trong việc triển khai các sáng kiến, ưu tiên của ASEAN trong năm 2020. Đó là các nỗ lực phòng, chống, khắc phục hậu quả của đại dịch, thúc đẩy khôi phục an toàn các hoạt động kinh tế, duy trì sự ổn định, phát triển ở khu vực. Quốc hội Việt Nam đã phát huy vai trò dẫn dắt trong AIPA, tạo sự ủng hộ, đồng thuận cao với các Nghị viện thành viên và Nghị viện Quan sát viên AIPA với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của ASEAN. Sau ba kỳ Đại hội đồng không thể tổ chức thì lần này Đại hội đồng AIPA 41 đã tổ chức được cuộc họp của Ủy ban Chính trị, đây là kết quả rất quan trọng. Đặc biệt, với sáng kiến của Việt Nam kể từ Đại hội đồng AIPA 41 có Hội nghị nghị sỹ trẻ AIPA, Hội nghị quan hệ đối tác nghị viện vì phát triển bền vững trong khuôn khổ AIPA. Hai sáng kiến này của Quốc hội Việt Nam được toàn thể các Nghị viện thành viên ủng hộ, đồng tình. Những nội dung của Năm Chủ tịch AIPA 2020, Đại hội đồng AIPA 41 đã mở ra cho AIPA xác định một Tầm nhìn chiến lược của AIPA cho 5-10 năm tới, khẳng định vai trò của Ngoại giao Nghị viện khu vực và quốc tế, góp phần vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN ngày càng phát triển, Cộng đồng của người dân, hướng tới người dân, hòa bình và thịnh vượng. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đánh giá trong chặng đường 25 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, phát triển mạnh mẽ và góp phần vào việc củng cố, hoàn thiện bộ máy, tổ chức của AIPA. Thành công của Năm Chủ tịch AIPA 2020 và Đại hội đồng AIPA 41 là bước tiếp nối những đóng góp của Quốc hội Việt Nam trong quá trình phát triển của AIPA. Trong năm 2020, Quốc hội khóa XIV đã thông qua 17 luật, 34 nghị quyết, tạo cơ sở pháp lý để đất nước phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng. Quốc hội đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước.

Các Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA); về việc gia nhập Công ước số 105 của Tổ chức Lao động Quốc tế về Xóa bỏ lao động cưỡng bức (ILO) được ban hành đã đánh dấu giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhiều nội dung quan trọng khác như Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021; quyết định ngày Chủ nhật, 23/5/2021 là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã được các đại biểu Quốc hội thông qua tại các kỳ họp. Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, năm 2020, Quốc hội đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn. Quốc hội ngày càng đổi mới, hoàn thiện, thể hiện rõ nét vai trò, trách nhiệm là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, nơi gửi gắm niềm tin, sự kỳ vọng của cử tri và nhân dân cả nước.

Tung tin xấu độc Chiêu trò nguy hiểm trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 


Đại hội XIII của Đảng - sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đến gần. Các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội, những kẻ bất mãn chính trị coi đây là thời cơ để tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Càng đáng buồn hơn, hùa theo các thế lực thù địch đi ngược lại bầu không khí tích cực ấy, đâu đó vẫn xuất hiện những giọng điệu lạc lõng, những thông tin xấu độc đang cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm phá hoại Đại hội XIII của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động coi sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội XIII là thời cơ để tiến hành các hoạt động chống phá. Bóp méo, thổi phồng, xuyên tạc, tung tin xấu độc là một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch tăng cường sử dụng để chống phá Đại hội XIII của Đảng. 

Các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá là dự thảo văn kiện và công tác nhân sự. Chuẩn bị các văn kiện đại hội là công việc có ý nghĩa quyết định đến tương lai, vận mệnh của đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm và xa hơn nữa. Công tác nhân sự là xây dựng, lựa chọn bầu ra những cán bộ đủ tâm, đủ tầm để tham gia vào bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước hay nói một cách cụ thể hơn là lựa chọn bộ máy để tổ chức lãnh đạo đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống. Đây là hai nội dung rất quan trọng, do đó càng gần đến đại hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội càng gia tăng các hoạt động chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, biến ảo, trong đó tuyên truyền xuyên tạc, tung tin xấu độc là một chiêu trò hết sức nguy hiểm. 

Khi Đảng ta công bố toàn bộ dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân góp ý, thông qua mạng xã hội chúng ra sức xuyên tạc, tung tin xấu độc tác động nhằm hướng lái dư luận thông qua việc đóng góp ý kiến để gây áp lực với hy vọng làm cho đường lối, chủ trương của Đảng ta chệch hướng. Hùa theo đó, ở trong nước, bên cạnh những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của đại đa số nhân dân, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị thảo ra nhiều tài liệu chứa đựng những thông tin đi ngược lại quan điểm, đường lối cơ bản của Đảng đã được khẳng định trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp năm 2013; bóp méo, xuyên tạc về công tác chuẩn bị văn kiện Đại hội XIII của Đảng rồi tán phát trên mạng. 

Một số kẻ tự cho mình là “nhà yêu nước” ra sức xuyên tạc, công kích nhằm phá hoại Đại hội XIII của Đảng. Việc Đảng ta mở rộng dân chủ để nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện chúng trắng trợn xuyên tạc rằng: “Đó chỉ là chiêu trò mỵ dân, là màn kịch đã được dựng sẵn theo chủ ý của giới lãnh đạo Việt Nam”. Chúng hồ đồ phán rằng: “Dự thảo văn kiện... chỉ là sự sao chép, biến tấu từ văn kiện của các kỳ đại hội trước, nội dung không có giá trị gì” hay “dự thảo văn kiện... chỉ là những vấn đề sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ, khư khư ôm giữ chủ nghĩa Mác - Lênin để duy trì quyền lực của Đảng”...

Các thế lực thù địch còn móc nối, lôi kéo những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nội bộ ta lợi dụng việc góp ý dự thảo các văn kiện để tung tin bôi nhọ hình ảnh đất nước, phủ nhận thành quả cách mạng; xuyên tạc sự thật, công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xây dựng CNXH. Qua một vài trang mạng ở chúng kêu gọi rằng: “Đại hội XIII là thời cơ để Việt Nam đổi mới chính trị theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”...

Công tác chuẩn bị nhân sự cũng là nội dung mà các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt. Chúng lợi dụng tâm lý, tư tưởng, tình cảm của nhân dân ta hướng về đại hội để xuyên tạc, dựng chuyện. Chẳng hạn tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14, 15 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới chỉ tiến hành việc bỏ phiếu giới thiệu nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thế nhưng ngay sau khi hội nghị kết thúc, trên một số trang mạng chúng trắng trợn xuyên tạc, dựng chuyện như thật rằng: Bộ Chính trị đã ra thông báo về “tứ trụ” nhân sự Đại hội XIII; Hội nghị Trung ương 14, 15 đã quyết định ông A làm Tổng bí thư; ông B làm Chủ tịch nước … Ngay từ đầu tháng 12 danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cả chân dung Tổng bí thư sau Đại hội XIII đã được chúng “vẽ ra” và tung lên facebook, youtube...

Để thu hút sự chú ý của người xem, các thế lực thù địch còn tạo dựng cả những trang chuyên bàn về Đại hội XIII của Đảng ta. Những trang này đưa thông tin hằng ngày, nhưng hầu hết đó là những thông tin bị xuyên tạc, gán ghép, suy diễn, quy chụp. Nhằm kích thích tâm lý hiếu kỳ của người xem, chúng tạo ảnh đại diện cho mỗi trang, mỗi video bằng cách cắt ghép hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi gắn vào những câu từ giật gân, kích động, sai sự thật. Chúng xem "Thuyết nói dối lớn" của Hitler là một vũ khí lợi hại để tuyên truyền chống phá. Theo kiểu từ một điều không có thật có thể mọi người sẽ tin vào điều đó nếu cứ rỉ rả nói đi nói lại nhiều lần; nếu hôm nay nói người ta chưa tin thì mai, ngày kia nói tiếp; một người nói chưa tin, vài ba người nói sẽ bán tín bán nghi, rồi vài chục, vài trăm người nói thế là tin giả được coi là tin thật.

Thông tin xấu độc, xuyên tạc được chúng ngày càng gia tăng về tần suất và dung lượng, nhất là thông tin liên quan đến các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng. Thủ đoạn của chúng ngày càng tinh vi, biến ảo. Thậm chí chúng còn đưa ra những thuyết âm mưu kiểu như là người này triệt hạ người kia để được giành ghế này, giữ vị trí kia; người này gạt người kia để ủng hộ người thuộc phe cánh mình. Lợi dụng việc một số cán bộ tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước bị xử lý, chúng xuyên tạc rằng trong nội bộ Đảng đang phát sinh mâu thuẫn, có người giăng bẫy để triệt hạ lẫn nhau... Những thông tin xấu độc, sai trái, lệch lạc ấy được chúng tung ra vào thời điểm này là nhằm gây sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc hoài nghi, tạo rối loạn trong nhận thức của nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, kích động tạo mâu thuẫn để từ đó dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo điểm nóng về chính trị nhằm phá hoại Đại hội XIII của Đảng ta. Nhưng bằng chiêu trò gì đi chăng nữa chúng cũng không thể phủ nhận được sự thật. 

Không phải đến bây giờ mà mở rộng dân chủ sẵn sàng lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp và phản biện của nhân dân là việc làm thường xuyên của Đảng ta. Trong công tác chuẩn bị Đại hội XIII, việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên vào dự thảo các văn kiện trình đại hội được Đảng đặc biệt quan tâm. Ngay sau Hội nghị Trung ương 13 của Đảng, Bộ Chính trị đã chỉ đạo các tiểu ban khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương để tiếp tục hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện, gửi xin ý kiến Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng vào ngày 20/10/2020 để xin ý kiến rộng rãi của toàn dân. Đây thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thể hiện tinh thần thật sự cầu thị, dân chủ ngày càng cao trong Đảng, trong nhân dân và toàn xã hội; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đúng như Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 14: “... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các cấp, các ngành đã chủ động tổ chức nhiều cuộc hội thảo, thảo luận và gửi về Trung ương hàng trăm bản tổng hợp ý kiến góp ý. Đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài cũng đã hoan nghênh và nhiệt tình tham gia góp ý kiến, gửi thư, tài liệu cho các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIV, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội”. Tại Hội nghị Trung ương 14 và 15 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục xem xét việc tiếp thu các ý kiến đóng góp, hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Có thể khẳng định, dự thảo các văn kiện được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, khoa học, thận trọng, kỹ lưỡng, có sự đổi mới, bảo đảm chất lượng; gắn kết giữa lý luận với thực tiễn; phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; có nhiều điểm mới; thể hiện tầm cao trí tuệ của Đảng; phản ánh khách quan, toàn diện, sát với tình hình thực tế những kết quả đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; dự báo được tình hình, xu hướng phát triển của đất nước và thế giới trong thời gian tới, từ đó xác định đúng và trúng những định hướng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển đất nước. 

Nhằm xây dựng một đội ngũ lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm chèo lái con thuyền cách mạng đến vinh quang, nên công tác nhân sự được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Việc giới thiệu nhân sự vào các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã và đang được Đảng ta tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khách quan, minh bạch. Mặc dù đặt vấn đề rất sớm và đã bàn ở nhiều hội nghị trước đây nhưng công tác nhân sự tiếp tục được Đảng ta xem xét thảo luận tại Hội nghị Trung ương 14 và Trung ương 15 cùng các phiên họp quan trọng khác. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 14, 15 vừa qua: “Căn cứ vào tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ trong thời gian tới và thực tế đội ngũ cán bộ hiện có, Tiểu ban nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, xem xét một cách dân chủ, khách quan, toàn diện; rà soát chặt chẽ, kỹ lưỡng, bổ sung, hoàn chỉnh các phương án nhân sự theo đúng phương hướng, quy trình công tác nhân sự đã đề ra”. Tại Hội nghị Trung ương 14 và Trung ương 15, Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục các bước chuẩn bị nhân sự cho nhiệm kỳ Đại hội XIII.

Đại đa số người dân khi gặp phải những thông tin thất thiệt, xấu độc đều rất bất bình. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rất tâm huyết, trách nhiệm trước sự kiện lớn của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, có một điều rất đáng lưu tâm là ngay trong nội bộ ta xuất hiện những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, tham vọng cá nhân. Họ tìm cách tiến thân nhưng không bằng sự nỗ lực phấn đấu, cống hiến, không bằng uy tín của cá nhân mình mà lại tìm mọi cách hạ uy tín đồng chí, đồng nghiệp mình. Chính những con người này cũng tung tin bóp méo, xuyên tạc sự thật, vu khống, gửi đơn thư nặc danh, mạo danh hoặc sử dụng mạng xã hội để tạo "sóng" dư luận, nhằm động cơ cá nhân. 

Do vậy, cùng với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần đẩy mạnh phòng, chống thông tin xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc ngay từ bên trong. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vu khống, bôi nhọ, tố cáo sai sự thật, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao khả năng “miễn dịch” cho nhân dân trước những thông tin xấu độc từ kẻ xấu và các thế lực thù địch.

Đặc biệt, cần phát huy tốt vai trò của báo chí, truyền thông trong đấu tranh phòng, chống. Thực tiễn đòi hỏi sự chủ động thông tin và tính định hướng của báo chí chính thống phải rất cao. Báo chí chính thống phải là một trong những kênh thông tin chủ lực, hữu hiệu để cung cấp thông tin kịp thời, trung thực, minh bạch, khách quan giúp người dân hiểu biết toàn diện, đầy đủ về các vấn đề, sự kiện của Đảng, của đất nước để từ đó định hướng dư luận, vun đắp, xây dựng niềm tin cho nhân dân. Đồng thời góp phần nâng cao “sức đề kháng” cho nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá Đại hội XIII của Đảng.

Những biện pháp trên là cần thiết, nhưng có lẽ để vô hiệu hóa thông tin xấu độc phương cách tốt nhất là chúng ta phải tiếp tục làm tốt mọi công việc chuẩn bị để bảo đảm Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp. Đó chính là đòn phản bác thuyết phục trước những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Bài 9

Vạch mặt những kẻ đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang

Phi chính trị hóa” quân đội, cảnh sát là luận điểm đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở các nước tư bản phương Tây. Với chế độ đa đảng chính trị, để hạn chế sự can dự của quân đội, cảnh sát vào các cuộc tranh giành quyền lực chính trị, nhà cầm quyền các nước này đề ra luận điểm “phi chính trị hóa quân đội, cảnh sát”. 

Tính giả tạo của luận điểm này đã được V.I.Lênin chỉ rõ trong bài báo “Quân đội và cách mạng” đăng trên báo “Đời sống mới” của nước Nga, ngày 16/11/1905: “...những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị... là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”. “Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an” là một luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch với Việt Nam vẫn rả rích tuyên truyền, với nhiều biến thể khác nhau, được phân chia thành nhiều nội dung cụ thể. Vấn đề đặt ra hiện nay là nhận diện thật rõ: Ai đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an? Họ là người như thế nào? Chúng ta phải đấu tranh chống các luận điệu sai trái đó như thế nào?

Thực tiễn đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam đã lộ diện một số “gương mặt” đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an như sau:

Một là, một số “lý luận gia” tư sản, chính trị gia ở các nước phát triển phương Tây vốn thâm thù ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những người này chống cộng điên cuồng, chống Đảng Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá. Từ thực tế ở Liên Xô, Đông Âu, họ rút ra kinh nghiệm muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quân đội, công an. Những “lý luận gia” này đang làm việc trong bộ máy chính quyền nhà nước hoặc làm việc trong quân đội nên họ có điều kiện tác động vào chính sách đối ngoại của đất nước họ, đồng thời quyên góp, ủng hộ vật chất để đầu tư cho các chương trình tuyên truyền, xuyên tạc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam.

Hai là, một số nhóm tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài. Thành viên các nhóm này bỏ chạy khỏi đất nước năm 1975, vốn là những người phản bội Tổ quốc, có nợ máu với nhân dân. Những hội, nhóm này tự xưng đảng phái, ủy ban, hội nọ, hội kia để lôi kéo những người Việt trẻ ở nước ngoài và các thành phần tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền ở trong nước.

Ba là, một số trí thức, văn nghệ sĩ suy thoái, biến chất, bất mãn chế độ trong nước. Đáng tiếc nhất, trong số này có cả một vài cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị, sau khi nghỉ hưu hoặc bị kỷ luật đã sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã thành lập những câu lạc bộ, hội, nhóm để chống phá đất nước, chĩa mũi dùi tấn công nền tảng tư tưởng bằng cách xuyên tạc bản chất chính trị của quân đội, công an.

Bốn là, một bộ phận nhỏ người dân có nhận thức non kém về chính trị. Họ là trí thức trẻ, sinh viên, thanh niên, nông dân, công nhân... vì những lý do khác nhau, bị đầu độc bởi môi trường thông tin xấu độc, tham gia đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an. “Phi chính trị hóa” quân đội, công an được xác định là nhiệm vụ trọng yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam; các thế lực thù địch cho rằng, “phi chính trị hóa” quân đội, công an chính là con đường cơ bản để “vô hiệu hóa” vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ có như vậy thì chúng mới có cơ hội làm “cách mạng sắc màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Nếu như trước đây, các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an thông qua đòi hỏi trực diện là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, công an, thì gần đây có những biến thể mới về nội dung. Cụ thể như:

Dựa vào chính các nội dung lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an để xuyên tạc, bịa đặt. Chẳng hạn, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó một số lực lượng, quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại thì chúng “bẻ lái” sang xây dựng “quân đội hiện đại, quân đội nhà nghề”. Từ đó cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”.

Dựa vào chính sách tuyển quân, tuyển công an của Đảng, Nhà nước ta để tung ra luận điệu cho rằng “quân đội, công an là của nhân dân, của mọi người dân yêu nước” để phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, công an; phá hoại bản chất giai cấp của quân đội, công an.

Tuyên truyền, kích động, gây mất đoàn kết giữa quân đội với công an, gây mất đoàn kết trong nội bộ hai lực lượng này. Đặc biệt, chúng phao tin, đồn nhảm về các tướng lĩnh, cán bộ cấp cao trong lực lượng vũ trang (LLVT); cho rằng “có tham nhũng ghê gớm” trong quân đội, công an; từ đó gây tâm lý hoang mang, dao động trong cán bộ, chiến sĩ hòng làm suy giảm sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, công an. Những vụ việc tiêu cực trong quân đội, công an được xử lý, thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật thì chúng cho rằng, đó chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Xuyên tạc về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Cho rằng, đây là những hoạt động tốn kém, không thiết thực đối với xây dựng sức mạnh của lực lượng vũ trang; chia rẽ, gây sự phân biệt giữa các cán bộ chính trị với đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang.

Bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh người chiến sĩ công an; truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo vật chất trong bộ đội, công an; kích động, lôi kéo một số cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ sa vào lối sống sa đọa, hưởng thụ, không còn lý tưởng vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Các thế lực thù địch đã sử dụng kết hợp nhiều phương tiện truyền thông (sách, băng đĩa, truyền hình, phát thanh, báo in, báo điện tử) cùng với mạng xã hội để phát tán thông tin. Một số cơ quan báo chí của nước ngoài như RFA, RFI, BBC, VOA... thường xuyên đăng, phát các dạng bài tuyên truyền đầu độc nêu trên và đăng kèm phụ đề “bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả”. Hằng năm, vào dịp các ngày lễ lớn của đất nước hoặc các sự kiện chính trị quan trọng (như Đại hội Đảng bộ Quân đội, Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng) thì các hoạt động tuyên truyền, vận động đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an lại được tổ chức rầm rộ như một chiến dịch truyền thông.

Thực tiễn “phi chính trị hóa” quân đội diễn ra ở Liên Xô cho thấy, nếu xa rời những vấn đề nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội cách mạng thì sự rệu rã của quân đội, dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN sẽ hết sức nhanh chóng. Liên Xô bắt đầu “phi chính trị hóa” quân đội từ năm 1987, và chỉ 4 năm sau thì Liên Xô tan rã. Đầu tiên là việc Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội. Chỉ trong khoảng 2 năm (1987-1989), gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội, 30% tướng lĩnh bị “về vườn”. Hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch - chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ”. Năm 1990, Đại hội bất thường của Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục xiết thêm sợi dây thòng lọng vào cổ mình với việc từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Chỉ đợi có thế, tháng 7/1991, Tổng thống Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động trong các cơ quan nhà nước. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng... Bi kịch “phi chính trị hóa” xảy ra đã khiến Quân đội Xô Viết, một quân đội hùng mạnh từng đánh bại chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu, không biết phải bảo vệ mục tiêu nào, bảo vệ ai trong “thảm họa chính trị” tháng 8/1991 dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.

Bài học rút ra từ quá trình “phi chính trị hóa” Quân đội Xô Viết càng giúp chúng ta hiểu hơn lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội không thể và không nên trung lập”.

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt. Trong đó, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Trước hết, tuyệt đối trung thành, kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVT tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuân thủ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT cách mạng; tích cực đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị trong LLVT nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong bộ đội, công an; tăng “sức đề kháng” của bộ đội, công an trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trên mặt trận chính trị tư tưởng.

Thứ hai, không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo LLVT cho phù hợp với tình hình mới, kiện toàn hệ thống và nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong quân đội, công an; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam, phản bác sự phi lý của luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội, công an bằng các luận cứ, luận chứng, luận điểm khoa học và thuyết phục. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu độc tiếp cận công dân Việt Nam.

Thứ tư, lực lượng chức năng của quân đội, công an chủ động đấu tranh với các đối tượng tàn dư của chế độ cũ, những đối tượng suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước; ngăn chặn, bóc gỡ các đường dây liên kết của các đối tượng phản động trong nước với thế lực thù địch bên ngoài.

Thứ năm, cần có chính sách nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm thu nhập xứng đáng với loại hình lao động đặc biệt để bộ đội, công an  yên tâm công tác và chiến đấu. 

Sự mâu thuẫn của một âm mưu thâm độc

 

Trong những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện trước thềm Đại hội XIII của Đảng ta, thì luận điệu “Đại hội XIII cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo”là một ví dụ về âm mưu thâm độc của chúng.

Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, sự đấu tranh, va đập, xung đột giữa các trào lưu tư tưởng, ý thức hệ, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…luôn xuất hiện và có diễn biến phức tạp, nhất là từ khi chủ nghĩa tư bản (CNTB) ra đời cho đến nay. Tùy theo đặc điểm, mức độ khác nhau, có thể nói, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là cuộc đấu tranh dai dẳng, lâu dài, quyết liệt nhất. Nhìn lại sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự khó khăn của các nước xã hội chủ nghĩa, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có nguyên nhân quan trọng từ sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch.

Ở Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra từ trước khi  Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra đời, bằng sự đàn áp của chế độ thực dân với các phong trào yêu nước, các cá nhân có tư tưởng tiến bộ. Khát vọng giành độc lập dân tộc, đưa nhân dân, đất nước thoát khỏi ách đô hộ thực dân, thoát khỏi đói nghèo cũng là một trong những nguyên nhân ra đời một chính Đảng kiểu mới - Chính Đảng của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành độc lập và đi lên CNXH. 
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm, chỉ có chủ nghĩa Lênin là chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam, không chỉ là cuộc kháng chiến giành độc lập của một dân tộc đánh đuổi đế quốc, thực dân xâm lược mà còn là cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trong suốt 30 năm từ khi Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ra đời, cho đến khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ đánh Pháp, đuổi Nhật và chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và CNTB diễn ra ở Việt Nam lúc này, không chỉ là cuộc đấu tranh trên chiến trường với súng đạn, các phương tiện chiến tranh hủy diệt của kẻ thù xâm lược, sự hy sinh xương máu của hàng triệu người, mà còn là cuộc chiến tranh tổng lực, trên mọi phương diện, trong đó có cả sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch. Những âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ, tâm lý chiến, tuyên truyền, bôi nhọ, phá hoại từ bên trong thường xuyên xảy ra, có sự phối hợp trong - ngoài, trên - dưới với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Phạm vi chống phá cũng rất đa dạng, kết hợp đấu tranh trên chiến trường với sức mạnh vượt trội về phương tiện chiến tranh, tiềm lực quân sự với tâm lý chiến, phá hoại về tư tưởng, chính trị, bao vây, cô lập… Nội dung và lĩnh vực chống phá được thực hiện, hướng vào những vấn đề khó khăn trong nước, khi Việt Nam vừa thực hiện kháng chiến giành độc lập, vừa từng bước xây dựng CNXH trong điều kiện điểm xuất phát thấp, một số lĩnh vực hay bị lợi dụng như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Âm mưu, thủ đoạn chống phá cũng linh hoạt, đa dạng, đó là sử dụng sức mạnh trên chiến trường, kết hợp phá hoại sự ổn định bên trong, ly tán về tư tưởng, chính trị… Ở mỗi thời điểm, giai đoạn khác nhau, các thế lực cơ hội, thù địch sử dụng phương thức chống phá tương ứng. Tuy nhiên, sức mạnh của chính nghĩa và sự đoàn kết, đồng lòng của người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đã làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất đất nước.

Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bước vào giai đoạn mới, với nhiều đặc điểm khác biệt so với trước đây, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh tư tưởng, ý thức hệ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là sai lầm chủ quan, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khó khăn. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, quản lý đất nước yếu kém, sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, cùng với cuộc chiến tranh lạnh, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc gây ra đã làm cho một số nước mất ổn định nghiêm trọng, dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và một loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu những năm 1990. Ở Việt Nam, thời điểm này, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tiến hành được 5 năm, những khó khăn về kinh tế do điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trước đây, cùng với 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc, đã đẩy đất nước vào khủng hoảng chưa từng có. Bị cấm vận, bao vây cô lập, mất nguồn viện trợ từ bên ngoài làm cho Việt Nam đã khó khăn càng khó khăn hơn, nhiều vùng miền trong cả nước có tình trạng thiếu lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu trở nên trầm trọng… Sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch giai đoạn này đối với Việt Nam càng quyết liệt hơn bao giờ hết. Điều này không chỉ thể hiện âm mưu xóa bỏ CNXH ở một số nước còn lại, trong điều kiện phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đang thoái trào, các thế lực thù địch còn muốn xóa bỏ mô hình chế độ xã hội mới tồn tại hơn nửa thế kỷ.

Trong suốt thời gian từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nội dung chống phá của các thế lực thù địch có thể khái quát ở một số vấn đề cơ bản, như: 1) Tiếp tục chống phá về hệ tư tưởng, ý thức hệ mà trực tiếp là những quan điểm nền tảng, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đã lỗi thời; đề cao mô hình, thể chế nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ...; 2) Chống phá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, quân đội, công an với nhân dân; phê phán đường lối đối ngoại, trong đó đặc biệt tập trung vào quan hệ Việt Nam - Trung Quốc; 3) Hạ thấp thành tựu, đồng thời khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế - xã hội; 4) Hạ bệ thần tượng, tập trung vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhân việc Đảng xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực, chúng khuếch đại, chia rẽ nội bộ nhân dân, dân tộc, tôn giáo, khối đại đoàn kết, làm nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; 5) Thông tin bôi nhọ mô hình, yếu kém của một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại... Từ những nội dung trên, các thế lực thù địch “chế biến” thành nhiều nội dung cụ thể, có vấn đề chống thường xuyên, liên tục, có nội dung khai thác sâu ở từng thời điểm. Lực lượng chống phá cũng có nhiều thay đổi, bên cạnh một số thế lực chính trước đây ở các nước phương Tây, lực lượng “diều hâu” cực đoan, còn một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài, “hận thù” dân tộc sau chiến tranh, một số đối tượng bất mãn, cơ hội trong nước, móc nối với bên ngoài, trong đó có cả một số nguyên là cán bộ cao cấp, trí thức, văn nghệ sĩ… Âm mưu, thủ đoạn chống phá linh hoạt hơn, ngoài việc tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”,  “chiến thắng không cần chiến tranh”, tận dụng tối đa các kênh thông tin như đài phát thanh, nhà xuất bản trực tiếp hướng vào Việt Nam như trước đây, hiện nay chúng triệt để khai thác thế mạnh truyền thông, mạng xã hội, Internet với các hình thức đa dạng, tập trung vào thế hệ trẻ, với nhiều hình thức mới, tuyên truyền thông tin sai lạc, xuyên tạc sự thật. Chúng thường tập trung vào những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đất đai, biên giới hải đảo, chia rẽ công an, quân đội với dân…, kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ, đưa người từ ngoài vào, phối hợp với những phần tử cơ hội, bất mãn trong nước nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng. Nội dung chống phá cũng linh hoạt, đa dạng và tinh vi hơn, thật giả lẫn lộn, trắng đen thay đổi…, nhất là vào những thời điểm quan trọng, sự kiện chính trị lớn của đất nước như trước và sau Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Trong đó, luận điểm “ Đại hội XIII cần bỏ cụm từ: “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo” là một ví dụ!

Nhân dân Việt Nam gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam, tin yêu và đi theo Đảng, gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Do đó, khi nêu “cứ lý thuyết nào đúng thì theo”, điều này nghe qua có vẻ hợp lý, có tính xây dựng, nhưng thực chất là sự mâu thuẫn, đánh tráo khái niệm. Hoặc là, nền tảng tư tưởng của Đảng là đúng, được thực tiễn Việt Nam khẳng định, thì “cứ lý thuyết đúng thì theo” như vậy là đủ, không cần kiên trì nền tảng tư tưởng, dễ bị coi là cứng nhắc, giáo điều. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch thường rêu rao về sự “lạc hậu, lỗi thời” hoặc “chỉ đúng với trước kia, không còn đúng với hiện nay”, điều này cũng đồng nghĩa với việc coi chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp, không còn đúng, và do đó, cứ “lý thuyết nào đúng thì theo” càng có vẻ phù hợp. Điều đó phản ánh âm mưu, thủ đoạn và cho thấy rõ mục đích cuối cùng của các thế lực cơ hội, thù địch là mong muốn Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, điều mấu chốt trong sự mâu thuẫn của luận điểm “cứ lý thuyết nào đúng thì theo!” là ở chỗ: các thế lực cơ hội, thù địch thường lấy mô hình, lý thuyết của CNTB là chân lý, hoặc các lý thuyết theo chúng là đúng, còn khác với quan điểm của chúng là sai. Thậm chí, không ít trường hợp, do “hận thù” dân tộc, do thái độ thù địch, nên những người cộng sản làm bất cứ điều gì có lợi cho đất nước, dân tộc, nhân dân thì chúng đều phê phán.

Dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, Việt Nam vẫn nỗ lực đạt được những thành tựu về xóa mù chữ, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội… được thế giới thừa nhận, nhưng các thế lực cơ hội, thù địch vẫn ra sức phê phán, cố tình phủ nhận. Bởi vậy, cái gọi là “lý thuyết đúng” mà chúng đưa ra chỉ là ảo tưởng, nhằm đánh tráo khái niệm, mập mờ “đánh lận con đen” đối với những người thiếu hiểu biết. Bên cạnh đó, không thể so sánh một lý thuyết đơn thuần với một nền tảng tư tưởng, hệ tư tưởng. Đó là sự so sánh khập khễnh, thiếu tính hệ thống và tính khoa học. Bởi, một lý thuyết chỉ đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể, còn hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng bao gồm nhiều lý thuyết, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong một chỉnh thể thống nhất, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn.Những luận cứ khẳng định tính đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là:

Thứ nhất, luận cứ về giá trị phổ quát của việc lựa chọn tư tưởng, mô hình phát triển của một quốc gia. Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu... 

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền.

Thứ hai, luận cứ về khái niệm, nội hàm khoa học. Xét về mặt khoa học, lý thuyết có thể đúng và chưa đúng và dễ bị sử dụng, phụ thuộc vào chủ quan con người, lý thuyết đúng phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Đối với nội hàm của tư tưởng, điểm chung nhất là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật… biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể. Tư tưởng có một số đặc trưng cơ bản, như: 1) Có tính độc lập tương đối so với thế giới khách quan, tác động trở lại đối với thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người; 2) Nội dung phản ánh của tư tưởng là khách quan, nhưng thông qua chủ quan của con người; 3) Luôn gắn bó và thể hiện lợi ích của con người, nhóm người cụ thể; 4) Luôn gắn với chủ thể nhất định và phản ánh lợi ích của chủ thể đó; 5) Có nhiều cấp độ, hình thức khác nhau về sự tiến bộ hay lạc hậu; tính khoa học hay phản khoa học và thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau.

Theo đó, xác định nội hàm của hệ tư tưởng được hiểu là hệ thống các tư tưởng của một giai cấp có mối liên hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau, cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất, là cơ sở để đảng chính trị, đại diện cho giai cấp đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định. Chính vì thế, khi đề cập đến nền tảng tư tưởng, đồng nghĩa với việc khẳng định những tư tưởng cốt lõi mang tính nguyên tắc, là cơ sở để định hướng cho việc bổ sung, phát triển tư tưởng mới trên nền tảng nguyên tắc cốt lõi, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của chính đảng vô sản cách mạng, Đảng kiểu mới - Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Đó là hệ thống các tư tưởng, quan điểm sâu sắc và toàn diện của các nhà kinh điển Mác-xít về chính trị, kinh tế, xã hội, triết học, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo… bao gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là học thuyết mở, bản thân các nhà kinh điển Mác-xít cũng chỉ rõ yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển trong điều kiện mới. Hơn một thế kỷ qua, thực tiễn phát triển các quốc gia lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho thấy, nước nào vận dụng đúng, sáng tạo sẽ phát triển, ngược lại giáo điều, dập khuôn, máy móc sẽ thất bại. Thực tiễn thế giới ngày nay chứng minh một thực tế, đi lên CNXH vẫn là xu thế phát triển chung của nhân loại.

Ở Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đã đánh dấu một bước tiến mới về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, không chỉ là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, giải phóng con người, mà còn là học thuyết về sự phát triển xã hội, là vũ khí tinh thần để Đảng làm tròn vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng, và chính Người từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin và truyền bá vào Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”. Đó cũng là cơ sở để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, dân tộc và nhân dân ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của đất nước ta đi tới thắng lợi cuối cùng. Từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội IX đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng và xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận nồng nhiệt, có nhiều chủ đề học tập theo từng nhiệm kỳ, phù hợp với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục được mở rộng về triết học, xã hội học, kinh tế…

Thứ ba, luận cứ về tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, không chỉ được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, mà còn được khẳng định, ghi trong Hiến pháp. Điều 4, khoản 1, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". 
Trải qua các giai đoạn cách mạng, khi Đảng, Nhà nước Việt Nam tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bài học quan trọng hàng đầu được rút ra. Từ Đại hội VII đến Đại hội XII, khi đề cập đến bài học kinh nghiệm, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được đề cập trong văn kiện Đảng. Tổng kết 30 năm đổi mới, trong 5 bài học được rút ra, bài học đầu tiên là “…trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi đề cập 5 quan điểm chỉ đạo, quan điểm đầu tiên cũng nêu: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên cho thấy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống các quan điểm sâu sắc, toàn diện, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhân loại, luôn được bổ sung, phát triển cùng thời đại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bởi vậy, đây không phải là những lý thuyết đúng đắn riêng lẻ, mà quan trọng hơn, là những lý thuyết đúng đắn được gắn kết trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, mang tính cách mạng và khoa học, được thực tiễn Việt Nam kiểm nghiệm và tiếp tục bổ sung đầy đủ, sâu sắc hơn.

Thứ tư, luận cứ về giá trị thời đại, cơ sở để đưa cách mạng Việt Nam phát triển. Sau gần 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Kiên định độc lập dân tộc và CNXH, đặc biệt là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tiếp thu tinh hoa của thế giới, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sau này là cách mạng công nghiệp lần thứ tư...

Việt Nam có quan hệ rộng mở với các quốc gia trên thế giới, vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Điều này càng khẳng định vai trò của nền tảng tư tưởng của Đảng, một nhân tố cực kỳ quan trọng không thể tách rời sự phát triển của đất nước cho đến ngày nay. Những quan điểm trên là sự đúc kết sâu sắc từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, vì thế không thể có chuyện “từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng” và “cứ lý thuyết nào đúng thì theo” - một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, cơ hội.